Vai trò của nhà nước trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho DN - Pdf 12

Đề bài: Nhà nước cần tạo điều kiện gì giúp cho doanh nghiệp Việt Nam tăng
khẩ năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập?
Khi Việt Nam gia nhập WTO, doanh nghiệp cần được hỗ trợ về thông tin, về
nâng cao sức cạnh tranh và được bảo hộ sản xuất, kinh doanh trước sức tấn công
của hàng hoá nước ngoài tràn vào.
Ðể thực hiện việc bảo hộ, hỗ trợ cho doanh nghiệp, Chính phủ đã xây dựng
Chương trình hành động về hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập WTO, đồng thời
ban hành hoặc trình Quốc hội ban hành các chính sách, các cơ chế, biện pháp cụ thể
về pháp luật, về thuế, hải quan, tín dụng, xúc tiến thương mại và đào tạo nguồn nhân
lực.
I. Chương trình hành động của Chính phủ về hội nhập kinh tế quốc tế và gia
nhập WTO:
Ðể hỗ trợ doanh nghiệp tham gia hội nhập và hội nhập thành công khi Việt
Nam trở thành thành viên WTO, Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết số 07 -
NQ/TW ngày 27/11/2001 về Hội nhập kinh tế quốc tế.
Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 07 -
NQ/TW, trong đó nêu rõ nhiệm vụ, mục tiêu, nội dung của Chương trình nhằm xây
dựng Chiến lược tổng thể về hội nhập, các biện pháp nhằm quy hoạch sản xuất,
nâng cao sức cạnh tranh, bảo hộ nền sản xuất trong nước, hỗ trợ các nhà doanh
nghiệp, phát triển nguồn nhân lực...
1.1. Hỗ trợ thông tin, tuyên truyền:
Ðiểm yếu chung của doanh nghiệp hiện nay là thiếu nghiêm trọng về thông
tin thị trường trong và ngoài nước, đối thủ cạnh tranh, hệ thống pháp lý và thông lệ
thương mại quốc tế...Ðiều tra của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam
(VCCI) cũng cho thấy: có tới 45% doanh nghiệp chưa có kế hoạch chuẩn bị cho
việc thực hiện các yêu cầu của Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ; 31%
doanh nghiệp không biết về WTO...Tại các cuộc đối thoại, gặp gỡ giữa các doanh
nghiệp và các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp luôn luôn bức xúc về việc họ không
biết tìm hiểu về các quy định của WTO ở đâu.
Trang 1
Tuy nhiên, ngay cả khi được hướng dẫn về địa chỉ để tìm kiếm thông tin liên

cơ quan liên quan hoàn thành đề án quốc gia nghiên cứu sức cạnh tranh của một số
hàng hoá và dịch vụ nhằm thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam.
Chính phủ giao Bộ thương mại phối hợp các bộ, ngành liên quan xây dựng
chương trình xúc tiến việc mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ của
Việt Nam.
Chính phủ giao các bộ, ngành quản lý các ngành sản xuất xây dựng chiến
lược phát triển mạng lưới tiêu thụ sản phẩm bảo đảm lưu thông trong nước và giữ
vững thị trường nội địa cho hàng hoá của mình.
1.4. Ðào tạo nguồn nhân lực:
Chính phủ giao Bộ nội vụ phối hợp các bộ, ngành xây dựng các kế hoạch đào
tạo đội ngũ cán bộ, công chức, cán bộ quản lý, các luật sư am hiểu luật pháp quốc tế
và hội nhập quốc tế, đội ngũ cán bộ kỹ thuật vững vàng về chính trị, thông thạo
nghiệp vụ và ngoại ngữ và công nhân lành nghề đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá,
hiện đại hoá cũng như hội nhập kinh tế quốc tế.
II. Các biện pháp, cơ chế chính sách bảo hộ, hỗ trợ doanh nghiệp, bảo vệ
sản xuất trong nước:
2.1. Các cơ chế chính sách bảo hộ sản xuất trong nước và tạo môi trường
kinh doanh cạnh tranh bình đẳng; tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp
kinh doanh (các chính sách, cơ chế về tự vệ, chống bán phá giá, đảm bảo cạnh
tranh, về thuế, hải quan...):
Tham gia WTO, đòi hỏi mỗi quốc gia phải có một hệ thống luật lệ, quy định
pháp lý rõ ràng, minh bạch và phù hợp với các nguyên tắc hoạt động của WTO
(không phân biệt đối xử, tự do thương mại, đảm bảo tính dễ dự đoán và nhìn thấy
trước được trong chính sách thương mại, tăng cường cạnh tranh lành mạnh, cấm sử
dụng các dạng trợ cấp, ưu đãi làm méo mó thương mại, chống bán phá giá...). Tuy
nhiên, hệ thống pháp luật, chính sách quản lý kinh tế, thương mại của Việt Nam về
các vấn đề trên còn thiếu, bất cập so với các quy định của WTO. Việt Nam vẫn còn
áp dụng những biện pháp quản lý không phù hợp với quy định của WTO. Vì vậy,
công tác xây dựng, sửa đổi, bổ sung pháp luật, cơ chế, chính sách kinh tế thương
Trang 3

vào Việt Nam gây thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất trong nước.
Trang 4
- Pháp lệnh chống trợ cấp hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam, có hiệu lực từ
1/1/2005.
Pháp lệnh này quy định về các biện pháp chống trợ cấp; thủ tục, nội dung
điều tra để áp dụng và việc áp dụng các biện pháp đó đối với hàng hoá được trợ cấp
nhập khẩu vào Việt Nam. Hàng hoá được trợ cấp (sự hỗ trợ về tài chính của Chính
phủ hoặc cơ quan của chính phủ dành cho tổ chức, cá nhân khi sản xuất, xuất khẩu
hàng hoá vào Việt Nam) sẽ bị áp thuế chống trợ cấp. Thuế chống trợ cấp là thuế
nhập khẩu bổ sung được áp dụng trong trường hợp hàng hoá được trợ cấp nhập
khẩu vào Việt Nam gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất
trong nước.
- Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam, có hiệu lực từ
ngày 1/10/2004.
Pháp lệnh này quy định về các biện pháp chống bán phá giá; thủ tục, nội
dung điều tra để áp dụng và việc áp dụng các biện pháp đó đối với hàng hoá bị bán
phá giá nhập khẩu vào Việt Nam, trong đó biện pháp quan trọng nhất là áp dụng
thuế chống bán phá giá. Thuế chống bán phá giá là thuế nhập khẩu bổ sung được áp
dụng trong trường hợp hàng hoá bị bán phá giá nhập khẩu vào Việt Nam gây ra
hoặc đe doạ gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước.
c. Ðể đảm bảo cạnh tranh công bằng, bình đẳng cho các doanh nghiệp trong
nước và doanh nghiệp nước ngoài khi Việt Nam gia nhập WTO:
Luật cạnh tranh đã được ban hành, có hiệu lực từ 1/7/2005.
Luật cạnh tranh quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh
không lành mạnh, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh, biện pháp xử lý vi
phạm pháp luật về cạnh tranh.
Hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch,
cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh,
lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế.
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status