Trang 1/32
Chương. 1. Phần mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Ngày nay, thông tin là một công cụ rất quan trọng trong sản xuất kinh doanh.
Internet là phương tiện truyền tin nhanh với chi phí thấp hơn nhiều lần các
phương tiện truyền thông cổ điển. Trên cơ sở sự phát triển mạnh mẽ của
Internet, thương mại điện tử trở nên một phương thức kinh doanh mới với hiệu
quả cao nhờ các ưu điểm nổi bật của nó.
Cho đến giờ, các hãng lớn vẫn sử dụng thương mại điện tử để thực hiện các
giao dịch doanh nghiệp-doanh nghiệp của họ. Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI)
trên các mạng tư nhân đã bắt đầu từ những năm 1960, và hầu như cũng từ đó
các ngân hàng vẫn đang sử dụng một số mạng chuyên dùng cho việc chuyển
tiền điện tử (EFT). Gần đây, tuy nhiên với sự tăng trưởng mạnh mẽ và tính phổ
dụng của Internet, thương mại điện tử đã đi đến tới từng người tiêu dùng cũng
như các giới kinh doanh với tất cả các qui mô khác nhau. Internet đã thay đổi
hoàn toàn phương thức mà rất nhiều công ty thực hiện công việc kinh doanh
của họ. Do sự ảnh hưởng đó ngày càng mạnh, và ngày càng nhiều công ty sử
dụng Internet, những khả năng để thực hiện công việc thương mại doanh
nghiệp-doanh nghiệp trên Internet sẽ mở rộng vô cùng và trở nên một phần
thiết yếu của quá trình kinh doanh.
Thương mại điện tử xây dựng trên các ưu thế và cấu trúc của thương mại cổ
điển bằng cách thêm vào những khả năng linh hoạt của các mạng điện tử. Nhờ
việc điều khiển các thông tin ở dạng số trong các mạng điện tử, thương mại
điện tử đem lại cùng với nó những cơ hội để thực hiện các hoạt động thương
mại. Ví dụ, nhờ có sử dụng thông tin ở dạng số cho các hoạt động thương mại,
thương mại điện tử làm cho những nhóm khác nhau có thể hợp tác được dễ
dàng hơn. Các nhóm có thể là các phòng/ban chia xe thông tin trong một công
ty để lập kế hoạch cho một chiến dịch quảng cáo, các công ty làm việc cùng
với nhau để thiết kế và xây dựng các sản phẩm mới hoặc các dịch vụ mới hoặc
là các doanh nghiệp chia xẻ thông tin với các khách hàng của họ để cải thiện
mối quan hệ với khách hàng.
sách ở Seattle, Washington. Công ty này không hề có các kho hàng vật chất,
họ bán các cuốn sách của họ qua Internet, và liên kết với các hãng vận chuyển
trực tiếp với các nhà xuất bản do đó họ không cần phải duy trì một lượng hàng
tồn kho nào cả. Các công ty như là Kantara.net lại là một bước cao hơn. Do tất
cả các sản phẩm của họ (các gói phần mềm thương mại) là ở dạng điện tử, và
có thể được lưu trữ ở trên cùng một máy tính mà họ dùng để xử lý các đơn
hàng và các dịch vụ trên Internet, kho hàng của họ hoàn toàn là ở dạng số
hoá. Một ví dụ khác là : AMP Inc. đang giới thiệu với các khách hàng của họ về
khả năng mua các đầu cắm điện và các bộ phận liên quan qua catalog trên
trang WEB, bỏ
qua các loại đơn đặt hàng và xác định kiểm hàng trên cơ sở trao
đổi dữ liệu điện tử.
1.4 Bài thực hành số 1:
1. Lập danh sách lớp; Làm quen với IE
2. Tạo email account cho từng cá nhân - [email protected]
Trang 3/32
Chương 2. Internet và nền kinh tế số hoá
1.5 Sơ lược về lịch sử của Internet
Internet ngày nay dựa trên cơ sở một hệ thống thương mại các mạng xương
sống (các đường dữ liệu tốc độ cao) mà trước đây đã được Bộ Quốc Phòng Mỹ
nghiên cứu trong những năm 1960. Cơ quan nghiên cứu các dự án quốc phòng
cao cấp (ARPA- The Advanced Research Projects Agency) đã tìm kiếm các công
nghệ truyền thông mà cho phép truyền thông liên tục thậm chí cả khi các
trung tâm điều khiển không hoạt động được. Điều này dẫn tới nghiên cứu các
công nghệ chuyển mạch gói. Tới năm 1977, hai giao thức chuyển mạch gói –
Giao thức điều khiển truyền thông (TCP- Transmission Control Protocol) và
Giao thức Internet (IP- Internet Protocol) được phát minh và trở thành hai giao
thức cơ bản của Internet.
Chuyển mạch gói khác với chuyển mạch vòng là công nghệ vẫn được dùng
với các siêu máy tính chính là nguồn gốc của Internet ngày nay.
Sự phát triển của mạng cũng là sự mở rộng của Internet. Tuy nhiên chỉ khi có
sự phát triển của World Wide Web và sự ra đời của các trình duyệt web đồ hoạ
thì Internet mới bắt đầu thu hút những mối quan tâm của những người ở ngoài
cộng đồng giáo dục và chính phủ. Các giao thức World Wide Web để truyền các
siêu văn bản (một giao thức để tạo các liên kết động trong hoặc giữa các văn
bản) trên Internet bắt đầu được sử dụng vào năm 1989 ở Trung tâm Nghiên
cứu Particle Châu Âu ở Switzerland. Đầu những năm 1990, Trung tâm Quốc gia
về các ứng dụng siêu máy tính ở Trường đại học tổng hợp Illinois đã dùng
những giao thức này để phát triển một giao diện đồ hoạ "chỉ và bấm" gọi là
Mosaic. Mosaic – chương trình duyệt web đầu tiên đã giúp cho những người
bình thường sử dụng Internet dễ dàng hơn. Ngay sau những phát triển này,
Internet bắt đầu thời kỳ phát triển nhanh chóng và liên tục cho tới ngày nay.
Internet mang phạm vi quốc tế. Trong khi đó, Mỹ có cơ sở hạ tầng Internet
mạnh nhất, hầu hết các quốc gia đều có một vài kết nối. Cấp độ kết nối tuỳ
thuộc vào từng quốc gia, bắt đầu từ thư điện tử cho đến đầy đủ các dịch vụ
Internet. Nước Mỹ có số lượng máy chủ Internet nhiều nhất, tuy nhiên, tính
theo đầu người thì Phần lan, Ai sơ len và Đức lại có số lượng nhiều hơn. Tiếng
Anh là ngôn ngữ thống trị trên Internet và nó chiếm khoảng 47.5% số lượng
trang web trên toàn thế giới.http://www.glreach.com/globstats/
Hai nhân tố dùng để đo sự phát triển của Internet là số lượng máy chủ và tên
miền trên Internet. Một máy chủ là một máy tính nối với Internet và có một
địa chỉ IP (giao thức Internet) duy nhất. Một tên miền đại diện cho một bản ghi
trong hệ thống tên miền (Domain Name System), như là whitehouse.gov. Một
tên miền ở cấp độ cao nhất chỉ đến một phần cuối cùng của một địa chỉ
Internet như : com, gov, net, org,
Số l
ượng và sự phát triển của các máy chủ Internet và các tên miền cho chúng
ta một khái quát về qui mô tối thiểu và tỷ lệ tăng trưởng của nó. Số lượng máy
chủ Internet tăng từ 1,3 triệu máy vào tháng 1 năm 1993 cho đến 19,5 triệu
Số lượng thống kê đăng ký tích luỹ đối với các tên miền cấp cao nhất (com, net
và org) cung cấp thêm các dấu hiệu rõ ràng cho sự tăng trưởng này. Network
Solutions báo cáo rằng số lượng đăng ký cho các tên miền loại này tăng từ
7.100 vào tháng 12 năm 1992 lên tới 1.5 triệu vào tháng 12 năm 1997
1.6 Nền kinh tế số hoá
Cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu năm 1712 với đầu máy hơi nước, và tiếp
theo đến năm 1831 người ta đã bắt đầu khai thác để sản xuất điện. Điều này
đã giúp tăng năng suất, thay thế lao động thủ công và lao động máy móc. Nó
cũng có nghĩa là nhà máy có thể đặt ở bất cứ chỗ nào, không nhất thiết là phải
đặt ở nơi có gió mạnh và có nguồn nước. Do nó đòi hỏi phải có một mạng lưới
để truyền tải năng lượng, điện năng phải đợi tới 50 năm sau, năm 1882 mới có
một nhà máy sản xuất năng lượng đầu tiên ra đời. Và phải mất 50 năm nữa để
tới lúc mà 80% nhà máy và các gia đình trên toàn nước Mỹ được khai thác sử
dụng điện năng.
Trong khi đó, cuộc cách mạng số hoá diễn ra nhanh hơn rất nhiều. Việc khai
thác truyền thông gần như tức thời và khả năng sử dụng những vi mạch để xử
lý là lưu trữ những khối lượng thông tin khổng lồ đã giúp cho nền kinh tế hiện
tại thay đổi hoàn toàn.
Vào năm 1946, chiếc máy tính lập trình đầu tiên "the Electronic Numerical
Integrator and Computer (ENIAC)" cao 10 feet, trải rộng 150 feet, giá trị hàng
Trang 6/32
triệu đô la và thực hiện được tới 5000 phép tính trong một giây. 25 năm sau,
năm 1971, hãng Intel đã thu gọn một chiếc máy tính mạnh gấp 12 lần chiếc
ENIAC trên một con chip có kích thước 12mm với giá 200 đô la.
Ngày nay, một chiếc máy tính cá nhân bình thường với bộ xử lý Pentium thực
hiện được hơn 400 triệu phép tính trong một giây. Với tốc độ phát triển như
thế này thì vào năm 2012, máy tính cá nhân có thể thực hiện được 100.000
triệu phép tính trong một giây.
Cuối năm 1980, các cuộc điện thoại chỉ thực hiện trên các dây cáp bằng đồng
có thể mang được chưa tới một trang giấy trong một giây. Ngày nay, một sợi
nghệ thông tin điển hình : Microsoft, Intel, Compaq, Dell and Cisco. Những
công ty này đã có tổng giá trị lên tới 588 tỷ đô la Mỹ trong khi năm 1987 con
số này mới chỉ có 12 tỷ đô la, tăng gần năm mươi lần trong mười năm.
Tuy vậy nhưng cuộc cách mạng số hoá chỉ mới bắt đầu. Trong những năm tới,
không chỉ có ngành công nghệ thông tin sẽ phát triển mạnh mà tất cả các
ngành kinh tế khác cũng sẽ lớn mạnh không ngừng nhờ có số lượng người kết
nối với Internet tăng lên gấp bội và khả năng thương mại của nó phát triển rất
mạnh. Sự phát triển sẽ có xu hướng theo bốn hình thái hoạt động của nền kinh
tế :
Phát triển Internet : Trong năm 1994, có 3 triệu người, hầu hết là ở Mỹ sử
dụng Internet. Đến năm 1998, 100 triệu người trên toàn thế giới sử dụng
Internet. Một số chuyên gia cho rằng vào năm 2005 sẽ có khoảng 1 tỷ người
kết nối với Internet. Sự phát triển này dẫn đến sự tăng đột ngột về đầu tư máy
tính, phần mềm, dịch vụ và truyền thông.
Thương mại điện tử trong các doanh nghiệp : Các doanh nghiệp đã bắt
đầu sử dụng Internet để giao dịch thương mại với các bạn hàng từ hai năm
trước. Những người sử dụng sớm các giao dịch như thế này đã cho thấy sự
phát triển sâu sắc trong việc sử dụng mạng lưới điện tử để tạo ra, mua, phân
phối, bán và cung cấp các sản phẩm và các dịch vụ. Tới năm 2002, các giao
dịch trên Internet có thể mang giá trị tới trên 300 tỷ đô la Mỹ.
Phân phối hàng hoá và dịch vụ theo kiểu số hoá : Các phần mềm, báo và
đĩa CD âm nhạc rồi sẽ không cần thiết phải được đóng gói và phân phối tới các
kho hàng, các kiot bán hàng hoặc ở nhà nữa. Người ta có thể phân phối các
sản phẩm này qua Internet. Các vé máy bay và các giao dịch được bảo mật đã
được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Các ngành công nghiệp khác như dịch vụ
tư vấn, giải trí, ngân hàng và bảo hiểm, giáo dục và y tế có gặp một số khó
khăn nhưng cũng đang bắt đầu sử dụng Internet để thay đổi phương thức kinh
doanh của họ. Rồi đây, việc bán hàng và phân phối hàng hoá và dịch vụ mang
tính điện tử sẽ là phương thức chính và hiển nhiên trong nền kinh tế số hoá
mới.
[18]. http://www.ecommercetimes.com/
[19]. http://www.ecompany.com/stack/
[20]. http://www.fedex.com
[21]. http://www.glreach.com/globstats/
[22]. http://www.hoavietnam.com
[23]. http://www.internet.com
[24]. http://www.laodong.com.vn
[25]. http://www.nw.com
[26]. http://www.stars.com/Internet/History/
[27]. http://www.vir.com.vn
[28]. http://www.vnn.vn
[29]. http://www.vnnic.net.vn
Trang 9/32
Chương. 3. Các dịch vụ của Internet
3.1 Các khái niệm cơ bản về mạng
Tên miền
Nếu có ai đó hỏi địa chỉ nhà của bạn, họ có thể nghĩ ngay đến tên một dãy
phố, một khu chung cư, thành phố, bang, và cả mã bưu điện nữa. Đó chính là
những thông tin mà bưu điện cần để chuyển thư đến cho bạn với một thời gian
hợp lý. Hơn nữa, các địa chỉ của máy tính cũng có cấu trúc rõ ràng. Hình thái
chung là:
Địa chỉ e-mail của một người trên một máy tính là: [email protected]
Tên một máy tính là: somewhere.domain
Phần user thường dùng cho tên tài khoản của người sử dụng trên hệ thống.
Phần somewhere.domain nói cho bạn biết tên của một hệ thống hoặc một địa
điểm và tổ chức ấy là gì. Phần cuối của tên miền thường là một trong các
dạng:
com
là của một công ty hoặc một tổ chức thương mại như Compaq Computers
Là một con số 32-bit nhưng thường được thể hiện dưới dạng một bộ bốn nhóm
số nối với nhau bằng dấu chấm (.), như là 147.31.254.130 (có tới
2^32=4.294.967.296 địa chỉ). Mỗi phần của một địa chỉ Internet như 192 được
gọi là ``octet,'' đại diện cho một trong bốn bộ số 8-bit. Hai hoặc ba nhóm đầu
của địa chỉ này (ví dụ. 192.55.239) chỉ cho biết nơi mà hệ thống được kết nối,
gọi là subnet-mạng con. Ví dụ như, tất cả các máy của Wesleyan University
nằm trong mạng con có địa chỉ là 129.133. Họ có thể có các con số địa chỉ từ
129.133.10.10, 129.133.230.19, tức là tới 65 ngàn địa chỉ khác nhau.
Tên miền và số
Các máy tính trên mạng có thể được tìm thấy với hoặc là FQDN hoặc địa chỉ
Internet. Làm thế nào để có thể nhớ được tất cả các máy này. Thực tế là
Internet được thiết kế để người ta còn có thể sử dụng phương pháp khác. Do
con người cảm thấy việc nhớ địa chỉ bằng chữ dễ hơn bằng số nên mỗi FQDN
được chỉ đến một địa chỉ Internet. Mỗi tên miền được một máy tính trong mạng
đó phục vụ, nó sẽ cung cấo tất cả các thông tin để có thể chuyển từ một tên
miền sang một địa chỉ IP và ngược lại. Ví vụ như khi người ta nói đến một địa
chỉ foosun.bar.com, máy tính tên miền biết nó phải hỏi hệ thống
foovax.bar.com về các hệ thống con nằm trong bar.com. Nó có thể tìm hiểu
xem địa chỉ Internet foosun.bar.com có thông tin gì; nếu mà tên
foosun.bar.com thực sự tồn tại, foovax sẽ được gửi trở lại với các con số IP của
nó. Và tất cả các điều này được thực hiện một cách lặng lẽ.
3.2 E-mail
Thư điện tử (e-mail) là một công cụ đơn giản để trao đổi tin tức giữa các cá
nhân hoặc một nhóm người. Email là một dịch vụ phổ biến nhất trong các dịch
vụ của Internet, nó chuyển các thông điệp qua các mạng thông tin. Các thông
Trang 11/32
điệp có thể là các lời nhắn do bạn gõ từ bàn phím hoặc các tệp tin lưu trên đĩa.
Hầu hết các máy chủ lớn, các máy chủ mini và các mạng máy tính đều có hệ
thống thư điện tử. Một số hệ thống thư điện tử chỉ hoạt động trên một máy
tính hoặc một mạng máy, nhưng số khác lại có các cổng nối với các hệ thống
Date: Sat, 25 May 91 17:05:56 -0400
From: The President
Message-Id: <[email protected]>
To: [email protected]
Trang 12/32
Subject: Meeting Hi Dan we have a meeting at 9:30 a.m. with the Joint Chiefs. Please
don't oversleep this time.
Khi một địa chỉ thư điện tử không đúng theo một cách nào đó (tên hệ thống
sai, tên mi không tồn tại …), thì thư sẽ được chuyển lại cho người gửi, giống
như khi Bưu điện gửi trả lại thư cho bạn khi bạn đề sai địa chỉ lên phong bì thư.
Thông điệp khi trả lại sẽ nói rõ nguyên nhân không đến được đích; lỗi thường
gặp là địa chỉ thư gửi đến một tài khoản không tồn tại.
From: Mail Delivery Subsystem
Date: Sat, 25 May 91 16:45:14 -0400
To: [email protected]
Cc: [email protected]
Subject: Returned mail: User unknown
Transcript of session follows
While talking to cs.widener.edu:
>>> RCPT To:
<<< 550 User unknown
550 lsimpson User unknown
Unsent message follows
Received: by cs.widener.edu id AA06528; Sat, 25 May 91 16:45:14 -0400
khoảng cách rất xa trên thế giới.
Bắt nguồn từ một công cụ để nghiên cứu, trở nên một công cụ tuyệt vời không
thể lường trước được, với sự ra đời của Mosaic và các chương trình duyệt web
đồ hoạ, web trở nên một công cụ truyền tin cho lực lượng đông đảo vô cùng.
Các trang web có thể chứa thông tin dạng văn bản, tranh ảnh, âm thanh,
video, các liên kết FTP cho việc tải xuống các phần mềm và nhiều hơn nữa…
Bạn có thể tạo ra các văn bản sống động, có thể được cập nhật hàng tuần,
hàng ngày hoặc thậm chí hàng giờ giúp cho những người xem trang web thu
được các thông tin khác nhau mỗi khi họ đến xem các trang web của bạn.
URL
URL - Uniform Resource Locator, là một địa chỉ trên web mà bạn đã xem. Nếu
có ai đó đưa cho bạn một địa chỉ của trang web của họ, họ có thể nói là
www.k42.com
. Hầu hết các chương trình web browsers yêu cầu bạn phải thêm
http:// vào phần trước của địa chỉ URL và nhờ đó chương trình hiểu là bạn
đang muốn tới một trang web. Do đó, bạn phải ra lệnh cho web browser của
mở địa chỉ http://www.imagescape.com để có thể xem được trang web mà bạn
Trang 14/32
cần. Ghi nhớ là bạn cũng cần phải kết nối tới các site FTP sử dụng chương trình
browser, do đó bạn phải ghi rõ ftp:// đối với các site FTP.
Cần phải luôn nhớ là không phải mọi người mở các trang web giống nhau. Một
số người sử dụng Netscape, Internet Explorer, Mosaic hoặc các chương trình
browsers khác hỗ trợ đồ hoạ. Một số khác lại chỉ sử dụng chương trình lynx, chỉ
hỗ trợ văn bản và không có đồ hoạ. Nhiều thành viên của các nhóm trên
Internet chỉ lấy các thông tin trên web qua thư điện tử. Tốc độ modem và loại
kết nối cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến cách nhìn trang WWW của bạn.
3.4 Bài thực hành số 3
Chương. 4. Thương mại điện tử
4.1 Khái niệm
chÝnh quyÒn
doanh nghiÖp
ng− êi tiªu dïng
Hình số 1: Các loại hình thương mại điện tử
Một ví dụ về loại hình "Doanh nghiệp – Doanh nghiệp" có thể là một công ty sử
dụng một mạng để đặt hàng từ người cung cấp của họ, nhận các hoá đơn bán
hàng và thanh toán tiền. Loại hình thương mại điện tử này đã được hình thành
khá thành công từ vài năm nay, đặc biệt là sử dụng hệ thống trao đổi thông tin
điện tử qua các mạng tư nhân hoặc mạng giá trị gia tăng.
Loại hình "Doanh nghiệp – Người tiêu dùng" là loại kinh doanh bán lẻ trên cơ
sở mạng thương mại điện tử rộng rãi. Loại này đã phát triển rộng khắp cùng
với sự phát triển của mạng lưới Internet toàn cầu. Giờ đây có rất nhiều "sạp"
hàng trên khắp mạng Internet bày bán đủ các loại hàng tiêu dùng, từ bánh qui
và rượu vang cho đến máy vi tính hay ô tô.
Loại hình " Doanh nghiệp – Chính quyền" bao gồm tất cả các giao dịch giữa các
công ty và các tổ chức Chính phủ. Ví dụ như ở Mỹ, những khoản sắp mua của
Chính phủ được thông báo rộng rãi trên Internet và các công ty có thể đáp lại
bằng điện tử. Hiện nay, loại hình này vẫn còn chưa phát triển, nhưng nó sẽ có
thể phát triển rất nhanh do các Chính phủ dùng ảnh hưởng của mình để
khuyến khích sự phát triển và phổ cập thương mại điện tử.
Loại hình "Người tiêu dùng – Chính quyền" vẫn chưa được hình thành. Tuy
nhiên, tiếp sau sự phát triển của cả loại hình Kinh doanh – Người tiêu dùng và
Kinh doanh – Chính quyền, các chính phủ có thể mở rộng ảnh hưởng của điện
tử tới các khu vực như là các khoản thanh toán phúc lợi xã hội và các khoản
thu về thuế thu nhập tự khai.
4.3 Các đặc điểm của thương mại điện tử (t-5)
Các mạng thương mại điện tử quản lý sự trao đổi các giao dịch, nó quản lý các
đơn đặt hàng, thông báo chuyển hàng, các hoá đơn bán hàng và tất cả các tài
liệu cần thiết cho công việc kinh doanh. Trong thương mại điện tử, các giao
đã trở nên rất phổ biến. Việc chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác
được thực hiện một cách tự động thông qua mạng lưới các ngân hàng. Máy rút
tiền tự động, thẻ tín dụng các loại, thẻ mua hàng, thẻ thông minh đang được
sử dụng rộng rãi ngày nay chính là các phương tiện thanh toán điện tử.
Mạng nội bộ và liên mạng nội bộ.
Mạng nội bộ là toàn bộ các máy tính của một tổ chức được kết nối với nhau
thông qua một hệ thống dây cáp và các thiết bị điều khiển. Liên mạng nội bộ
Trang 17/32
chính là các mạng nội bộ ở xa nhau được nối với nhau qua đường điện thoại
hay một loại cáp đặc biệt. Thông qua mạng, người ta cũng có thể thực hiện
được các giao dịch thương mại trực tuyến như trao đổi thông tin về hàng hoá,
giá cả, rao mua, rao bán
Internet và Web.
Internet được gọi là mạng toàn cầu hay "mạng của các mạng". Các máy tính
nối vào mạng Internet có thể trao đổi với nhau dữ liệu, thư điện tử trên cơ
sở các tiêu chuẩn truyền dẫn dữ liệu trong môi trường Internet. Đó chính là
giao thức tiêu chuẩn TCP/IP (Transmission Control Protocol/Internet Protocol)
do Bộ Quốc Phòng Mỹ khởi thảo và phát triển. Tất cả các máy tính hay mạng
LAN muốn kết nối với Internet phải tuân theo giao thức tiêu chuẩn TCP/IP. Sau
đó, người ta đã phát triển thêm giao thức chuẩn quốc tế HTTP (HyperText
Transfer Protocol). Giao thức này truyền các siêu văn bản viết bằng ngôn ngữ
HTML (HyperText Markup Language) tạo ra thêm rất nhiều dịch vụ khác nhau,
trong đó dịch vụ World Wide Web gọi tắt là Web sử dụng các siêu liên kết văn
bản tham chiếu tới nhiều văn bản khác nhau, cho phép người ta tự động truy
nhập được nhiều cơ sở dữ liệu khác nhau, với nhiều loại hình thông tin khác
nhau : văn bản, hình ảnh, âm thanh Chính nhờ có Internet và dịch vụ Web,
việc trao đổi thông tin, quảng cáo sản phẩm, kinh doanh trên Internet trở
nên dễ dàng hơn bao giờ hết đối với tất cả mọi người. Internet cũng chính là
nhân tố quan trọng giúp cho quá trình toàn cầu hoá trở nên hiện thực. Trên
Internet không hề có giới hạn về địa lý, tất cả mọi người đều bình đẳng. Đây
dụng với các giao diện mới trên Internet.
Các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển như nước ta thường gặp bất lợi là
tình trạng viễn thông khó khăn và phải chịu cước phí viễn thông quá cao. Tỷ lệ
điện thoại cho đầu người thấp. Thâm nhập tới các mạng thông tin truyền thống
rất khó và giá cao quá không kham nổi. Ngay thâm nhập vào Internet, một
phương tiện rẻ gần như cho không ở các nước phát triển, thì chi phí cũng vẫn
cao. Sự thiếu hụt khả năng thâm nhập dễ dàng với giá phải chăng vào các
mạng thông tin điện tử này là một chướng ngại to lớn đối với các doanh nghiệp
cần thông tin nhanh và chính xác về thị trường và về cơ hộ
i kinh doanh.
Các vấn đề về pháp luật
i. "Luật thương mại thống nhất" cho thương mại điện tử
Nhìn chung, các bên đối tác đều có thể tiến hành kinh doanh với nhau qua
Internet với các điều kiện thoả thuận. Các bên tham gia thị trường cần phải
đưa ra các điều luật để chi phối thương mại điện tử.
Sau đây là một số nguyên tắc có thể làm cơ sở
cho các dự thảo bộ luật sẽ chi
phối mạng thương mại điện tử toàn cầu :
Trang 19/32
Hình số 5 : Các nguyên tắc làm cơ sở cho bộ luật về thương mại điện tử
ii. Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Về quyền sở hữu trí tuệ
Thương mại trên Internet sẽ thường liên quan tới việc bán hàng và cấp phép
cho các quyền sở hữu trí tuệ. Để khuyến khích quá trình này, người bán phải
biết rằng quyền sở hữu trí tuệ của họ sẽ không bị đánh cắp và người mua cũng
phải biết rằng họ đang giữ các sản phẩm xác thực. Các thoả thuận quốc tế xác
nhận bản quyền tác giả, bằng sáng chế và bảo vệ nhãn hiệu thương mại là rõ
ràng và có hiệu lực do đó cần được bảo vệ tránh khỏi gian lận và sao chụp bất
hợp pháp.
phải đảm bảo chính xác, đúng lúc, trọn vẹn và xác đáng cho các mục đích cung
cấp và sử dụng chúng. Theo các nguyên tắc này, người tiêu dùng có quyền
được bồi thường nếu họ bị thiệt hại do việc sử dụng tuỳ tiện các thông tin cá
nhân của họ hoặc khi mà các quyết định được đưa ra trên cơ sở các thông tin
cá nhân không chính xác, quá hạn, không trọn vẹn và không xác đáng.
iv. An toàn thông tin
Cơ sở hạ tầng thông tin toàn cầu cần phải được đảm bảo và đáng tin cậy. Nếu
những người dùng Internet không tin tưởng rằng các quá trình truyền thông và
dữ liệu của họ không bị truy nhập hoặc sửa đổi trái phép, họ sẽ có thể không
sử dụng Internet làm công cụ cho quá trình thương mại.
Các vấn đề về gia nhập thị trường
v. Cơ sở hạ tầng viễn thông và công nghệ thông tin
Thương mại điện tử toàn cầu phụ thuộc vào một mạng lưới viễn thông toàn cầu
hiện đại và liên tục và các máy tính và các công cụ thông tin kết nối với nó.
Đáng tiếc là ở nhiều quốc gia, các chính sách về viễn thông đang ngăn cản sự
phát triển của các mạng lưới số hoá tiên tiến. Các khách hàng thấy rằng các
dịch vụ viễn thông thường là quá đắt, hạn chế về đường truyền và các dịch vụ
thì không đầy đủ và không đáng tin cậy. Cũng như vậy, ở nhiều nước vẫn còn
duy trì các rào chắn thương mại để nhập khẩu công nghệ thông tin, gây khó
khăn cho cả người buôn bán và các khách hàng mua các máy tính và mạng mà
họ cần thiết để tham gia vào thương mại điện tử. Thị trường mở thực sự sẽ dẫn
tới tăng cạnh tranh, cải thiện cơ sở hạ tầng viễn thông, khách hàng có nhiều
lựa chọn hơn, giá giảm và tăng cường đồng thời cải thiện các dịch vụ. Hơn n
ữa,
các nước có mức độ phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông khác nhau có thể ngăn
cản quá trình toàn cầu hoá và việc sử dụng một số dịch vụ của Internet.
vi. Nội dung
Có bốn điểm cần ưu tiêu:
Trang 21/32
Qui định về nội dung : Các công ty mong muốn kinh doanh qua Internet và
• Các đối tượng số và chuyển đổi dữ liệu
Chương. 5. Thương mại điện tử
5.8 Những ưu điểm của thương mại điện tử
Sự lớn mạnh nhanh chóng của thương mại điện tử giữa các doanh nghiệp thực
hiện được là nhờ : chi phí mua thấp hơn, giảm tồn kho, chu kỳ kinh doanh
Trang 22/32
ngắn hơn, dịch vụ khách hàng có hiệu quả hơn, chi phí bán hàng và chi phí tiếp
thị giảm, cơ hội bán hàng phong phú hơn.
Chi phí mua hàng thấp hơn :
Việc mua các vật tư hoặc dịch vụ ở một hãng có thể là một quá trình có nhiều
thủ tục và tốn kém. Các công ty giảm chi phí mua hàng bằng cách hợp nhất
quá trình mua và tăng cường mối quan hệ với các nhà cung cấp để có thể
hưởng lợi nhờ giảm giá khi mua nhiều và kiểm tra sát sao quá trình sản xuất.
Họ tìm kiếm các nguồn cung cấp với giá rẻ, họ sử dụng trao đổi dữ liệu điện tử
qua các mạng riêng để giảm các chi phí nhân lực, in ấn và thư tín.
Internet có một khả năng tiềm tàng để giảm hơn nữa các chi phí mua hàng
bằng cách tự động hoá các nghiệp vụ mà trước kia phải làm thủ công. Nó mở
ra cánh cửa để kinh doanh bằng điện tử cho các nhà cung cấp mới và cho các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, những doanh nghiệp mà trước đó chỉ dùng các công
cụ truyền thống là máy fax và điện thoại trong giao tiếp kinh doanh. Những
khả năng giao tiếp thời gian thực và phạm vi toàn cầu đang dẫn tới sự ra đời
một thị trường trực tuyến cho các vật tư sản xuất và không sản xuất.
Các doanh nghiệp ở Mỹ đã chi khoảng 250 tỷ đôla mỗi năm cho các loại vật tư,
dịch vụ và không dùng đến trong quá trình sản xuất. Việc mua các văn phòng
phẩm, thiết bị máy tính, các phụ tùng thay thế dành cho bảo trì, sửa chữa và
hoạt động của các thiết bị và một quá trình thủ công điển hình và có thể là rất
tốn kém và kém hiệu quả.
Wiznet Purchasing Extranet kết nối những người mua từ trên 50.0000 catalo
công nghiệp của các nhà sản xuất, 5 triệu bản dữ liệu và các đặc điể
nhưng các thông tin đó nhất thiết phải được trao đổi giữa các công ty hàng
không và các nhà cung cấp.
Hãng Boeing hình dung ra một hệ thống trong đó các hãng hàng không kết
hợp chặt chẽ các nhu cầu cho quá trình sửa chữa theo lịch và các hoạt động
theo lịch trực tiếp vào trong quá trình xử lý việc đặt hàng các phụ tùng thay
thế của họ. Ví dụ như nếu cần một phụ tùng, hệ thống trước tiên có thể kiểm
tra cơ sở dữ liệu trong kho và nếu tìm thấy thì ấn định phụ tùng đó cho đơn
hàng sau này. Nếu phụ tùng cần thiết không tìm thấy, một đơn hàng sản xuất
có thể được lập ra và gửi cho nhà cung cấp trong khoảng thời gian hợp lý.
Tất cả các liên hệ trong chuỗi sẽ được phục vụ tốt hơn - các hãng hàng không
có thể có các phụ tùng khi cần (và cũng có thể theo dõi tình trạng của các phụ
tùng mà họ đã đặt hàng), Boeing có thể lập kế hoạch tồn kho của họ tốt hơn
(hiện giờ, khoảng 50% các đơn hàng của Boeing là ở mức độ ưu tiên cao - nếu
không tìm thấy phụ tùng trong tồn kho của mình, hãng Boeing cần phải đặt
hàng ngay, đôi khi điều này cũng có nghĩa là chi phí sản xu
ất và vận chuyển
cao hơn ảnh hưởng bất lợi đến lợi nhuận của hãng Boeing, và các nhà cung cấp
của hãng Boeing cũng có lợi trong việc đáp lại ít hơn các đơn hàng gấp.
Để cho chiến lược này thành công, liên lạc từ hãng hàng không với nhà sản
xuất máy bay rồi với nhà cung cấp là rất quan trọng. Với những tiềm năng của
Internet có thể tiếp cận với các thành viên với chi phí thấp, nó có thể đóng mộ
t
vai trò quan trọng trong việc thực hiện thành công chiến lược này.
Trên 75% máy tính cá nhân được bán thông qua nhà phân phối thứ ba. Nhưng
những hãng bán hàng trực tiếp rẻ tiền, cụ thể là Dell và Gateway, đang mở
Trang 24/32
rộng thị phần. Compaq, Hewlett-Packard, IBM và các đại lý của họ cũng đang
đẩy mạnh các phản hồi của họ và thương mại điện tử đóng một vai trò quan
trọng.
Chỉ mới ra đời vào giữa những năm 80, tới những năm 90, cả hai công ty Dell
khách hàng cuối cùng làm cho việc khai thác ngoại các chức năng của khâu
logistics từ bên ngoài trở nên hiện thực hơn. Các đơn hàng đặt qua điện thoại,
fax hoặc Internet liên hệ bằng điện tử với hệ thống logistics nội bộ của công ty.
Trang 25/32
Nếu sản phẩm có trong kho, một lệnh xuất hàng tự động đưa ra, sản phẩm
được đưa lên xe tải hoặc gửi tới nhà khách hàng. Mỗi quá trình này đều được
ghi lại trong hệ thống để kiểm duyệt do đó bất cứ ai muốn xem quá trình dịch
chuyển – dù là đại diện dịch vụ khách hàng ở bộ phận logistics của công ty hay
nhà sản xuất, hoặc chính bản thân khách hàng có thể biết được hàng đang ở
đâu và bao giờ thì tới nơi.
Internet không chỉ hỗ trợ hoạt động kinh doanh của khâu logistics trong công
ty mà nó còn mang tới nhiều cơ hội kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp sử dụng
Internet, trong đó có L.L Bean, Insight Direct và các công ty khác tìm kiếm đối
tác để cung cấp và phân phối các sản phẩm của họ. Ngay cả việc bán lẻ các
hàng hoá hữu hình trên Internet cũng đã có rất nhiều cơ hội cho các công ty
vận chuyển.
Chi phí bán hàng và chi phí tiếp thị thấp hơn
Một người bán hàng riêng lẻ có thể theo dõi được số lượng khách hàng mà anh
ta có thể tới tận nơi thăng viếng hoặc gọi điện thoại. Càng có nhiều khách
hàng thì càng phải có lực lượng bán hàng mạnh. Thậm chí các công ty tiếp thị
trực tiếp, cũng phải tăng thêm nhân viên khi mà lượng đặt hàng tăng lên.
Đối lại, việc kinh doanh trên Web có thể thêm các khách hàng mới với chi phí
tăng thêm rất ít hoặc thậm chí không mất thêm gì. Nguyên nhân là do chức
năng bán hàng của nó được đặt trong một máy chủ chứ không phải là một kho
chứa hàng hoặc những người bán hàng thực thụ. Nó chỉ bị giới hạn bởi năng
lực của máy chủ trả lời các yêu cầu và đơn hàng.
Hãng Boise Cascade - trị giá 2 tỷ đô la - chuyên phân phối các sản phẩm trên
Web từ năm 1997 đã có một catalô điện tử với khoảng 10.000 hàng hoá. Boise
chỉ trông đợi khoảng 1 hoặc 2 phần trăm khách hàng của họ đặt hàng qua
mạng trong năm đầu tiên. Thực tế là đã có tới 4% khách đặt hàng. Tới cuối