TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH THÁI NGUYÊN
BỘ MÔN THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ - KẾ TOÁN MÁY BÀI GIẢNG
THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CĂN BẢN
BÙI NHƢ HIỂN
8
1.3. Đặc điểm của thƣơng mại điện tử
10
2. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
11
2.1. Lịch sử Internet
11
2.2. Lịch sử thƣơng mại điện tử
12
3. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRÊN THẾ GIỚI VÀ
VIỆT NAM
14
3.1. Thực trạng phát triển thƣơng mại điện tử trên thế giới
14
3.2. Thực trạng phát triển thƣơng mại điện tử ở Việt Nam
16
4. LỢI ÍCH CỦA THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
19
4.1. Lợi ích đối với doanh nghiệp
19
4.2. Lợi ích đối với ngƣời tiêu dùng
20
5. HẠN CHẾ CỦA THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
21
CHƢƠNG 2
TRIỂN KHAI CÔNG VIỆC KINH DOANH TRÊN INTERNET
22
1. ĐẠI CƢƠNG VỀ INTERNET
44
1. TỔNG QUAN VỀ THANH TOÁN ĐIỆN TỬ
44
1.1. Thanh toán truyền thống và thanh toán điện tử
44
1.2. Lợi ích của thanh toán điện tử
44
1.2.1. Lợi ích chung
44
1.2.2. Lợi ích đối với ngân hàng
45
1.2.3. Lợi ích đối với khách hàng
45
1.3 Hạn chế của thanh toán điện tử
46
1.3.1. Gian lận thẻ tín dụng
46
Bài giảng Thương mại điện tử - Bùi Như Hiển
Bộ môn Thương mại điện tử - Kế toán máy
Trang 3
1.3.2. Vấn đề bảo mật thông tin
47
1.4. Yêu cầu đối với thanh toán điện tử
48
1.5 Các bên tham gia thanh toán điện tử
48
1.6. Rủi ro trong thanh toán điện tử.
49
1.6.1 Những rủi ro liên quan đến quá trình thanh toán
49
2.3.4. Quy trình phát hành thẻ
56
2.3.5. Quy trình thanh toán thẻ
56
2.3.6. Các bên tham gia thanh toán thẻ
57
2.3.7. Các thiết bị sử dụng trong thanh toán thẻ
57
2.3.8. Kiểm tra và bồi hoàn trong thanh toán điện tử
58
2.4. Thẻ tín dụng
58
2.5 Thẻ ghi nợ (debit card)
59
2.6. Thẻ thông minh
60
2.7. Vai trò của ngân hàng trong thanh toán thẻ
61
2.8. Tiền điện tử, tiền số hóa (e-cash, digital cash)
61
2.9. Ví điện tử
62
3. THANH TOÁN ĐIỆN TỬ GIỮA DOANH NGHIỆP - DOANH NGHIỆP (B2B)
63
3.1 Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI)
63
3.1.1 Khái niệm
63
3.1.2 Ưu điểm của việc sử dụng EDI
63
74
3.2 Phân đoạn thị trƣờng, thị trƣờng mục tiêu, định vị sản phẩm
74
3.2.1. Phân đoạn thị trường
74
3.2.2. Xác định thị trường mục tiêu
76
3.2.3. Định vị sản phẩm
76
4.CHIẾN LƢỢC MARKETING ĐIỆN TỬ
76
4.1. Chiến lƣợc sản phẩm
76
4.2. Chiến lƣợc giá
78
4.3. Chiến lƣợc phân phối
78
4.4. Chiến lƣợc xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh
79
5. QUẢNG CÁO TRÊN INTERNET
79
5.1 Lịch sử quảng cáo trên Internet
79
5.2 Các hình thức quảng cáo trên Internet
80
5.3 Mua bán quảng cáo trên mạng
81
5.3.1 Mua quảng cáo trên mạng
81
5.3.2 Bán quảng cáo trên mạng
92
1.2. Các khía cạnh an ninh trong thƣơng mại điện tử
95
1.3 Ảnh hƣởng của rủi ro tới hoạt động của doanh nghiệp trong TMĐT
96
1.3.1.Đối với người tiêu dùng
96
1.3.2.Đối với doanh nghiệp
97
1.3.3.Đối với thương mại và nền kinh tế.
98
2. CÁC BIỆN PHÁP ĐỀ PHÒNG TRÁNH RỦI RO TRONG TMĐT
99
2.1 Các giải pháp mang tính kỹ thuật
99
2.1.1 Bảo mật trong giao dịch
99
2.1.2. An toàn các kênh truyền thông
106
2.1.3. An toàn mạng
107
2.1.4 Bảo vệ các hệ thống của khách hàng và máy phục vụ
107
2.1.5 Lưu trữ dữ liệu nhiều nơi, nhiều hình thức.
110
2.2 Giải pháp về pháp lý
110
Bài giảng Thương mại điện tử - Bùi Như Hiển
Bộ môn Thương mại điện tử - Kế toán máy
Trang 5
123
1.3.1. Luật mẫu của UNCITRAL về thương mại điện tử
123
1.3.2. Luật thương mại điện tử của một số nước trên thế giới
124
2. LUẬT GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ CỦA VIỆT NAM
127
2.1.Nguyên tắc tiến hành giao dịch điện tử
127
2.2 Giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu
127
2.3. Thời điểm, địa điểm gửi thông điệp dữ liệu
128
2.4. Thời điểm, địa điểm nhận thông điệp dữ liệu
128
2.5 Giá trị pháp lý của chữ ký điện tử
128
2.6 Hợp đồng điện tử
129
2.7 Vấn đề an ninh và bảo mật thông tin đƣợc quy định trong pháp luật về TMĐT
của Việt nam.
131
2.8 Pháp luật Việt nam về thanh toán điện tử, thuế và kê khai điện tử.
132
2.9. Những vấn đề còn tồn tại của pháp luật trong TMĐT của Việt nam
132
3. E-UCP VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XUẤT TRÌNH CHỨNG TỪ ĐIỆN TỬ TRONG
THANH TOÁN QUỐC TẾ
133
3.1.Giới thiệu về eUCP
(mua bán trực tuyến), cyber trade (mua sắm trên internet), electronic business (kinh doanh
điện tử), paperless commerce (buôn bán không giấy tờ), electronic commerce ( e-commerce -
thƣơng mại điện tử). Hiện nay có rất nhều khái niệm về thƣơng mại điện tử. Có khái niệm cho
rằng :Thƣơng mại điện tử là tất cả các hình thức giao dịch mua bán bằng các phƣơng tiện điện
tử gọi là thƣơng mại điện tử.Vây thì giao dịch qua một phần Internet hoặc qua điện thoại, fax,
email là thƣơng mại điện tử. Nhƣng thực chất những vấn đề đó chƣa phải là thƣơng mại
điện tử. Thƣơng mại điện tử là hình thức giao dịch mua bán qua mạng, hỗ trợ các vấn đề liên
quan đến mua và bán (hỗ trợ ngƣời mua và ngƣời bán và có thể qua ngƣời thứ 3,4 ). Trong
đó mạng áp dụng để quản lý thông tin của ngƣời mua, ngƣời bán và những bên liên quan với
hình thức thanh toán bằng loại tiền đã đƣợc mã hoá. Internet là cơ sở đầu tiên cho việc hình
thành thƣơng mại điện tử.
Hiện nay định nghĩa thƣơng mại điện tử đƣợc rất nhiều tổ chức quốc tế đƣa ra song
chƣa có một định nghĩa thống nhất về thƣơng mại điện tử.
Theo quan điểm truyền thông, thƣơng mại điện tử là khả năng phân phối sản phẩm,
dịch vụ, thông tin hoặc thanh toán thông qua một mạng ví dụ Internet hay world wide web.
Theo quan điểm giao tiếp, thƣơng mại điện tử liên quan đến nhiều hình thức trao đổi
thông tin giữa doanh nghiệp với nhau, giữa khách hàng với doanh nghiệp và giữa khách
hàng với khách hàng.
Theo quan điểm quá trình kinh doanh: thƣơng mại điện tử bao gồm cac hoạt động
đƣợc hỗ trợ trực tiếp bởi liên kết mạng.
Theo quan điểm môi trƣờng kinh doanh: thƣơng mại điện tử là một môi trƣờng cho
phép có thể mua bán các sản phẩm,dịch vụ và thông tin trên Internet. Sản phẩm có thể hữu
hình hay vô hình.
Theo quan điểm cấu trúc: thƣơng mại điện tử liên quan đến các phƣơng tiện thông
tin để truyền: văn bản, trang web, điện thoại Internet, video Internet.
* Kinh doanh điện tử
Nếu thƣơng mại điện tử chủ yếu bao hàm các hoạt động marketing, bán hàng, phân
phối và thanh toán có ứng dụng các phƣơng tiện điện tử và mạng viễn thông trong giao dịch,
thì kinh doanh điện tử bao hàm phạm vi rộng hơn của ứng dụng các phƣơng tiện điện tử,
tuỳ thuộc vào quan điểm:
- Hiểu theo nghĩa hẹp
Theo nghĩa hẹp, thƣơng mại điện tử chỉ đơn thuần bó hẹp trong việc mua bán hàng
hóa và dịch vụ thông qua các phƣơng tiện điện tử, nhất là qua Internet và các mạng liên thông
khác.
Theo Tổ chức Thƣơng mại thế giới (WTO), "Thƣơng mại điện tử bao gồm việc sản
xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm đƣợc mua bán và thanh toán trên mạng
Internet, nhƣng đƣợc giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng nhƣ
những thông tin số hoá thông qua mạng Internet".
Theo Uỷ ban Thƣơng mại điện tử của Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình
Dƣơng (APEC), "Thƣơng mại điện tử là công việc kinh doanh đƣợc tiến hành thông qua
truyền thông số liệu và công nghệ tin học kỹ thuật số".
- Hiểu theo nghĩa rộng
Thƣơng mại điện tử hiểu theo nghĩa rộng là các giao dịch tài chính và thƣơng mại
bằng phƣơng tiện điện tử nhƣ: trao đổi dữ liệu điện tử, chuyển tiền điện tử và các hoạt động
nhƣ gửi, rút tiền bằng thẻ tín dụng.
Theo quan điểm này, có một số định nghĩa khái quát đƣợc đầy đủ nhất phạm vi hoạt
động của Thƣơng mại điện tử:
UN đƣa ra định nghĩa đầy đủ nhất để các nƣớc có thể tham khảo làm chuẩn, tạo cơ sở
xây dựng chiến lƣợc phát triển thƣơng mại điện tử phù hợp. Định nghĩa này phản ánh các
bƣớc thƣơng mại điện tử , theo chiều ngang: ―thƣơng mại điện tử là việc thực hiện toàn bộ
hoạt động kinh doanh bao gồm marketing, bán hàng, phân phối và thanh toán (MSDP) thông
qua các phƣơng tiện điện tử‖.
Định nghĩa của AEC: Thƣơng mại điện tử là làm kinh doanh có sử dụng các công cụ
điện tử. Định nghĩa này rộng, coi hầu hết các hoạt động kinh doanh từ đơn giản nhƣ một cú
điện thoại giao dịch đến những trao đổi thông tin EDI phức tạp đều là thƣơng mại điện tử.
- Luật mẫu về Thƣơng mại điện tử của Uỷ ban Liên hợp quốc về Luật Thƣơng mại
quốc tế (UNCITRAL) định nghĩa: "Thuật ngữ thƣơng mại (commerce) cần đƣợc diễn giải
theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thƣơng mại
dù có hay không có hợp đồng. Các quan hệ mang tính thƣơng mại (commercial) bao gồm,
doanh. Các phí tổn khác thí dụ nhƣ phí tổn điện thoại và đi lại để thu nhập khác hàng hay phí
tổn trình bày giới thiệu cũng đƣợc giảm xuống. Mặc dầu vậy, tại các dịch vụ vật chất cụ thể,
khoảng cách không gian vẫn còn phải đƣợc khắc phục và vì thế đòi hỏi một khả năng tiếp vận
phù hợp nhất định.
Ngày nay ngƣời ta hiểu khái niệm thƣơng mại điện tử thông thƣờng là tất cả các
phƣơng pháp tiến hành kinh doanh và các quy trình quản trị thông qua các kênh điện tử mà
trong đó Internet hay ít nhất là các kỹ thuật và giao thức đƣợc sử dụng trong Internet đóng
một vai trò cơ bản và công nghệ thông tin đƣợc coi là điều kiện tiên quyết. Một khía cạnh
quan trọng khác là không còn phải thay đổi phƣơng tiện truyền thông, một đặc trƣng cho việc
tiến hành kinh doanh truyền thống. Thêm vào đó là tác động của con ngƣời vào quy trình kinh
doanh đƣợc giảm xuống đến mức tối thiểu. Trong trƣờng hợp này ngƣời ta gọi đó là Thẳng
đến gia công (Straight Through Processing). Để làm đƣợc điều này đòi hỏi phải tích hợp rộng
lớn các các tính năng kinh doanh.
1.2. Các hình thức giao dịch trong thƣơng mại điện tử
Giao dịch điện tử là giao dịch đƣợc thực hiện thông qua các phƣơng tiện điện tử và
cũng có giá trị pháp lý nhƣ nó đƣợc ghi chép, hoặc mô tả bằng văn bản theo phƣơng pháp
truyền thống.
Dựa trên những thành phần tham gia thƣơng mại điện tử thì hiện nay có một số hình
thức giao dịch điện tử là B2G, C2G, B2B, B2C, C2C. Để dễ hiểu hơn ta có thể tham khảo
bảng sau:
Bài giảng Thương mại điện tử - Bùi Như Hiển
Bộ môn Thương mại điện tử - Kế toán máy
Trang 9
mua và ngƣời bán đều là doanh nghiệp. Sử dụng Internet để tạo mối quan hệ giữa nhà cung
cấp và các cửa hàng thông qua các vấn đề về chất lƣợng, dịch vụ. Marketing giữa hai đối
tƣợng này là marketing công nghiệp. Hình thức này phổ biến nhanh hơn B2C. Khách hàng là
doanh nghiệp. có đủ điều kiện tiếp cận và sử dụng Internet hay mạng máy tính. Thanh toán
bằng điện tử.
- Hình thức giao dịch giữa các cá nhân với nhau hay còn gọi là giao dịch Customer to
Customer (C2C) hoặc Peer to Peer (P2P). Thành phần tham gia hoạt động thƣơng mại là các
cá nhân, tức ngƣời mua và ngƣời bán đều là cá nhân.
- Giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan chính quyền (Business to Government-
B2G): Các giao dịch này gồm khai hải quan, nộp thuế, báo cáo tài chính và nhận các văn bản
pháp qui.
- Giao dịch giữa các cá nhân với cơ quan chính quyền (Custmer to Government C2G).
Các giao dịch này gồm xin giấy phép xây dựng, trƣớc bạ nhà đất…
Hai loại giao dịch sau cùng này thuộc về một hình thức đƣợc gọi là chính phủ điện tử.
Chính phủ điện tử là cách thức qua đó các cơ quan Nhà Nƣớc sử dụng công nghệ thông tin
trong hoạt động để làm cho ngƣời dân, Doanh nghiệp tiếp cận các thông tin và dịch vụ do
Chính phủ cung cấp một cách thuận tiện hơn, để cải thiện chất lƣợng dịch vụ và mạng lại các
cơ hội tốt hơn cho ngƣời dân, Doanh nghiệp trong việc tham gia vào xây dựng các thể chế và
tiến trình phát triển đất nƣớc.
Mục đích của chính phủ điện tử là của dân, do dân và vì dân, có ảnh hƣởng mang tính
cách mạng đến sức mạnh và sự sống còn của các Chính phủ và nền dân chủ thực sự ở mỗi
quốc gia. Việc phát triển Chính phủ điện tử theo lộ trình đƣợc hoạch định sẽ mở ra khả năng
phát huy sự đóng góp trí tuệ của tất cả ngƣời dân tham gia vào quá trình thúc đẩy sự phát triển
đất nƣớc. Chính phủ điện tử sẽ cải thiện chính phủ theo 4 cách thức quan trọng:
- Ngƣời dân có thể đóng góp ý kiến một cách dễ dàng hơn đối với Chính phủ.
- Ngƣời dân sẽ nhận đƣợc các dịch vụ tốt hơn từ các cơ quan tổ chức Chính phủ bất kỳ
lúc nào, bất kỳ ở đâu (tại nhà, ở công sở, trạm điện thoại…) và vì bất kỳ lý do gì. Đây là hình
thức phát triển mới của mô hình Chính phủ một cửa: Chính phủ có nhiều cửa và khách hàng
có thể thông qua một cửa bất kỳ để tiếp cận đƣợc các dịch vụ của chính phủ.
- Ngƣời dân sẽ nhận đƣợc nhiều dịch vụ thích hợp hơn từ các cơ quan Chính phủ, bởi
hàng về cùng họ. Họ xem xét, họ mua và họ mang chúng về nhà. Hầu hết những hàng hoá bán
qua thƣơng mại điện tử (không kể những sản phẩm kỹ thuật số nhƣ phần mềm) đều không thể
cung cấp trực tiếp.
Trong tƣơng lai, các công ty thƣơng mại điện tử sẽ giải quyết đƣợc vấn đề này thông
qua các chi nhánh ở các địa phƣơng. Sau khi khách hàng chọn sản phẩm, các site thƣơng mại
điện tử sẽ gửi yêu cầu của ngƣời mua tới những cửa hàng gần nhất với nhà hoặc cơ quan của
họ. Các site thƣơng mại điện tử khác sẽ giao hàng từ một chi nhánh địa phƣơng ngay trong
ngày hôm đó. Giải pháp này giả quyết đƣợc 2 vấn đề đặt ra đối với khách hàng, đó là: Giá vận
chuyển cao và thời gian vận chuyển lâu.
- Giá cả linh hoạt
Trong tƣơng lai, giá hàng hoá trên các site thƣơng mại điện tử sẽ rất năng động. Mỗi
một khách hàng sẽ trả một giá khác nhau căn cứ trên nhiều nhân tố: Khách hàng đã mua bao
nhiêu sản phẩm của công ty trƣớc đây? Khách hàng đã xem bao nhiêu quảng cáo đặt trên
trang web của công ty? Khách hàng đặt hàng từ đâu? Khách hàng có thể giới thiệu trang web
của công ty với bao nhiêu ngƣời bạn của mình? Mức độ sẵn sàng tiết lộ thông tin cá nhân của
khách hàng với công ty? Những điều này không khác lắm với một chuyến bay công tác:
Trên chuyến bay này, mọi hành khách đều bay trên cùng một chuyến bay từ New York đến
San Francisco nhƣng trả các mức giá vé khác nhau. Chính sách giá của các công ty nhƣ
Priceline.com và eBay.com hiện đang đi theo xu hƣớng này.
- Đáp ứng mọi nơi, mọi lúc:
Trong tƣơng lai, khách hàng sẽ có thể mua hàng ở mọi nơi, mọi lúc. Bỏ qua khả năng
dự đoán về những mô hình mua. Bỏ qua yếu tố về địa điểm và thời gian. Xu hƣớng này sẽ
đƣợc thực hiện thông qua các thiết bị truy nhập Internet di động. Các thiết bị thƣơng mại điện
tử di động nhƣ những chiếc điện thoại di động đời mới nhất có khả năng truy nhập đƣợc mạng
Internet đƣợc sử dụng hết sức rộng rãi.
Bài giảng Thương mại điện tử - Bùi Như Hiển
Bộ môn Thương mại điện tử - Kế toán máy
Trang 11
sử dụng. Đây đƣợc xem là mạng có tính cách lịch sử là tiền thân của Internet.
NSFNET
Vào 1984 thì tổ chức khoa học quốc gia (National Science Foundation - NSF) của Hoa
Kì đã thiết kế nhằm phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu và thông tin giữa các đại học bao gồm 6
siêu máy tính từ nhiều trung tâm trải rộng trong Hoa Kỳ. Đây là mạng WAN đầu tiên dùng
TCP/IP. Cuối thập niên 1990 thì kĩ thuật sợi quang (fiber optics) đã đƣợc áp dụng. Tháng 12
năm 1991 thì mạng National Research and Educational Network ra đời để thay cho NSFNET
và dùng vận tốc đến hàng giga bit. Đến 1995 thì NSFNET không còn cần thiết nữa.
INTERNET
Số lƣợng máy tính nối vào ARPANET tăng nhanh sau khi TCP/IP trở thành giao diện
chính thức duy nhất vào ngày 1 tháng 1 năm 1983. Sau khi ARPANET và NSFNET nối nhau
thì sự phát triển mạng tăng theo hàm mũ. Nhiều nơi trên thế giới bắt đầu nối vào làm thành
các mạng ở Canada, Châu Âu và bên kia Đại Tây Dƣơng đã hình thành Internet. Từ 1990,
Internet đã có hơn 300 mạng và 2000 máy tính nối vào. Đến 1995 đã có hàng trăm mạng cỡ
trung bình, hàng chục ngàn LAN, hàng triệu máy chính, và hàng chục triệu ngƣời dùng
Internet. Độ lớn của nó nhân đôi sau mỗi hai năm. Bài giảng Thương mại điện tử - Bùi Như Hiển
Bộ môn Thương mại điện tử - Kế toán máy
Trang 12
WORLD WIDE WEB (WWW)
WWW đƣợc phát minh sau Internet khá lâu. Năm 1990, Tim Berners-Lee của CERN
(the European Laboratory for Particle Physics – Phòng nghiên cứu Vật lý Hạt nhân Châu Âu)
phát minh ra WWW và một số giao thức truyền thông chính yếu cho WWW, trong đó có
HTTP (Hyper-text Transfer Protocol – giao thức truyền siêu văn bản) và URL (Uniform
Resource Locator - địa chỉ Internet). Ngày 16 tháng 07 năm 2004 Tim Berners-Lee đƣợc Nữ
Hoàng Anh phong tƣớc Hiệp Sĩ vì đã có công lớn trong việc phát minh ra WWW và
Ngƣời mua có thể đƣợc hƣởng lợi từ việc doanh nghiệp cắt chi phí dành cho quảng
cáo trên các phƣơng tiện truyền thông, thay vào đó, giảm giá hay khuyến mãi trực tiếp cho
ngƣời mua qua mạng Internet.
Ngƣời mua có thể tham gia đấu giá trên phạm vi toàn cầu.
Ngƣời mua có thể cùng nhau tham gia mua một món hàng nào đó với số lƣợng lớn để
đƣợc hƣởng ƣu đãi giảm giá khi mua nhiều.
Doanh nghiệp có thể tƣơng tác, tìm khách hàng nhanh chóng hơn, tiện lợi hơn, với chi
phí rất thấp hơn trong thƣơng mại truyền thống.
Những trung gian trên Internet cung cấp thông tin hữu ích, lợi ích kinh tế (giảm giá,
chọn lựa giá tốt nhất ) cho ngƣời mua hơn là những trung gian trong thƣơng mại truyền
thống. Cạnh tranh toàn cầu và sự tiện lợi trong việc so sánh giá cả khiến cho những ngƣời bán
lẻ phải hƣởng chênh lệch giá ít hơn.
Bài giảng Thương mại điện tử - Bùi Như Hiển
Bộ môn Thương mại điện tử - Kế toán máy
Trang 13
TMĐT tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp ở các nƣớc đang phát triển
có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn.
Nhà cung cấp hàng hóa trên mạng có thể dùng chƣơng trình giới thiệu tự động những
mặt hàng khác hay mặt hàng liên quan cho khách hàng của mình, dựa trên những
thông tin đã thu thập đƣợc về thói quen mua sắm, món hàng đã mua của khách hàng.
Ngành ngân hàng, giáo dục, tƣ vấn, thiết kế, marketing và những dịch vụ tƣơng tự đã,
đang và sẽ thay đổi rất nhiều về chất lƣợng dịch vụ, cách thức phục vụ khách hàng dựa vào
Internet và TMĐT.
Internet giúp giảm chi phí cho các hoạt động thƣơng mại nhƣ thông tin liên lạc,
marketing, tài liệu, nhân sự, mặt bằng
Liên lạc giữa đối tác ở các quốc gia khác nhau sẽ nhanh chóng, kinh tế hơn nhiều.
Mô hình cộng tác (affiliate) tƣơng tự việc hƣởng hoa hồng khi giới thiệu khách hàng
đang bùng nổ. Ví dụ Amazon.com có chƣơng trình hoa hồng cho các website nào dẫn đƣợc
khách hàng đến website Amazon.com và mua hàng, mức hoa hồng từ 5% đến 15% giá trị
đơn hàng.
Cấp độ 3 – thƣơng mại tích hợp (c-business, c=colaborating, connecting: tích hợp,
kết nối): website của doanh nghiệp liên kết trực tiếp với dữ liệu trong mạng nội bộ của doanh
nghiệp, mọi hoạt động truyền dữ liệu đƣợc tự động hóa, hạn chế sự can thiệp của con ngƣời
và vì thế làm giảm đáng kể chi phí hoạt động và tăng hiệu quả.
Bài giảng Thương mại điện tử - Bùi Như Hiển
Bộ môn Thương mại điện tử - Kế toán máy
Trang 14
3. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT
NAM
3.1. Thực trạng phát triển thƣơng mại điện tử trên thế giới
Có thể nói, sự phát triển của Internet sẽ là tiền đề cho sự phát triển thƣơng mại điện tử, vì vậy
sự gia tăng ngƣời dùng Internet cũng có nghĩa là lƣợng ngƣời tham gia thƣơng mại điện tử gia
tăng. Theo thống kê của internetworldstats, tính tới thời điểm tháng 12 năm 2011, toàn thế
giới có hơn 2,3 tỷ ngƣời kết nối Internet, trong đó tỷ lệ ngƣời dùng Internet ở Châu Á là cao
nhất với 48%.
(Bảng 1.2: Tỷ lệ người dùng Internet toàn thế giới)
LƯỢNG NGƯỜI DÙNG INTERNET TOÀN THẾ GIỚI
31/12/2011
Khu vực
Dân số (2011)
Lượng NSD
Internet
(31/12/ 2000)
Lượng NSD
Internet
(31/12/ 2011)
Phần trăm
dân số
78.6 %
152.6 %
Latin America / Carib.
597,283,165
18,068,919
235,819,740
39.5 %
1,205.1 %
Oceania / Australia
35,426,995
7,620,480
23,927,457
67.5 %
214.0 %
WORLD TOTAL
6,930,055,154
360,985,492
2,267,233,742
32.7 %
528.1 %
(Bảng 1.3: Lượng người dùng Internet toàn thế giới)
Bài giảng Thương mại điện tử - Bùi Như Hiển
Bộ môn Thương mại điện tử - Kế toán máy
Trang 15
(Bảng 1.4: 10 nước Châu Á có số người sử dụng Internet cao nhất )
Bill Gates, ngƣời hùng lừng danh của lĩnh vực công nghệ thông tin từng nói:―Trong 5-10 năm
nữa, bạn chỉ có hai lựa chọn, một là kinh doanh online, hoặc không nên kinh doanh gì nữa‖
bởi vì Internet thì ―Không bị giới hạn về không gian và thời gian, bạn có thể dùng internet để
khẳng định vai trò quan trọng của mình nhƣ là một công cụ đắc lực hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm,
củng cố quan hệ khách hàng, cắt giảm chi phí sản xuất kinh doanh, v.v
Báo cáo thƣơng mại điện tử 2010 nêu ra những nét nổi bật của TMĐT Việt Nam sau 5 năm
thực hiện Kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT giai đoạn 2006-2010 nhƣ sau:
* Khung pháp lý về thương mại điện tử đã hình thành
Từ năm 2005 đến nay, sau khi Kế hoạch tổng thể phát triển thƣơng mại điện tử giai
đoạn 2006-2010 đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt ngày 15 tháng 9 năm 2005, hệ thống
văn bản pháp luật của Việt Nam về lĩnh vực TMĐT liên tục đƣợc bổ sung, hoàn thiện.
Bài giảng Thương mại điện tử - Bùi Như Hiển
Bộ môn Thương mại điện tử - Kế toán máy
Trang 17
Văn bản đầu tiên điều chỉnh chuyên sâu về lĩnh vực này là Luật Giao dịch điện tử
đƣợc Quốc hội ban hành vào tháng 11 năm 2005, đặt nền tảng pháp lý cơ bản cho các giao
dịch điện tử trong xã hội qua việc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu và quy định
về chữ ký điện tử.
Năm 2006 Quốc hội ban hành Luật Công nghệ thông tin quy định tổng thể về hoạt
động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, các biện pháp bảo đảm và phát triển công
nghệ thông tin, quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động ứng dụng
và phát triển công nghệ thông tin.
Việc ra đời của Luật Giao dịch điện tử và Luật Công nghệ thông tin đã tạo cơ sở để
Chính phủ và các Bộ ngành ban hành các văn bản dƣới Luật điều chỉnh những lĩnh vực cụ thể
của giao dịch điện tử. Từ năm 2006-2010 bảy văn bản cấp Nghị định đã đƣợc ban hành, bao
gồm: Nghị định về TMĐT, Nghị định về Chữ ký số và Dịch vụ chứng thực chữ ký số, Nghị
định về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính, Nghị định về Giao dịch điện tử trong hoạt
động ngân hàng, Nghị định về Ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nƣớc, Nghị định về Chống
thƣ rác, Nghị định về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và cung cấp thông tin điện
tử trên Internet. Các Bộ ngành cũng đã ban hành nhiều văn bản hƣớng dẫn chi tiết triển khai
các Nghị định trên.
Bên cạnh đó, khung chế tài cho việc xử lý vi phạm hành chính liên quan đến ứng dụng
TMĐT và CNTT cũng dần đƣợc hoàn thiện với Nghị định số 63/2007/NĐ-CP ban hành năm
các sàn giao dịch TMĐT, mạng xã hội; quảng cáo trên các báo điện tử, các website tìm kiếm
Bài giảng Thương mại điện tử - Bùi Như Hiển
Bộ môn Thương mại điện tử - Kế toán máy
Trang 18
thông tin nổi tiếng nhƣ google.com, yahoo.com, v.v Kết quả khảo sát cho thấy, 38% doanh
nghiệp đã xây dựng website riêng, 14% doanh nghiệp tham gia các sàn giao dịch TMĐT.
Với thực trạng ứng dụng nhƣ trên, TMĐT đã trở thành bạn đồng hành không thể thiếu của tất
cả các doanh nghiệp Việt Nam.
* Cung cấp dịch vụ công trực tuyến dần đi vào cuộc sống
Hoạt động cung cấp dịch vụ công trực tuyến đã đƣợc các Bộ ngành, địa phƣơng chú
trọng triển khai trong các năm gần đây. Tính đến hết năm 2010, hầu nhƣ tất cả các Bộ ngành,
Ủy ban nhân dân các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ƣơng đã xây dựng website để giao tiếp
với công dân và các tổ chức trong xã hội thông qua việc cung cấp những dịch vụ công trực
tuyến cơ bản nhƣ: cung cấp thông tin về cơ cấu tổ chức, hoạt động của cơ quan; phổ biến văn
bản quy phạm pháp luật; quy trình thủ tục hành chính công; tƣơng tác với tổ chức cá nhân qua
website; v.v….
Bên cạnh việc cung cấp các dịch vụ công trực tuyến cơ bản nhƣ trên, trong thời gian
qua các cơ quan quản lý nhà nƣớc ở Trung ƣơng và địa phƣơng đã quan tâm đẩy mạnh việc
cung cấp trực tuyến ở mức độ 3 nhiều dịch vụ có ảnh hƣởng lớn tới thƣơng mại và hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhƣ cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, chứng
nhận thành lập văn phòng đại diện, chứng nhận thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc
ngoài, cấp chứng nhận xuất xứ điện tử, thủ tục hải quan điện tử, khai thuế điện tử, đấu thầu
qua mạng, v.v
Đặc biệt, đã có một số dịch vụ công trực tuyến đạt mức độ 4 nhƣ dịch vụ về cấp phép
họp báo, hội thảo, hội nghị có yếu tố nƣớc ngoài của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí
Minh tại địa chỉ www.ict-hcm.gov.vn đƣợc triển khai từ tháng 2 năm 2010, dịch vụ cấp giấy
phép xác nhận khai báo hóa chất trực tuyến của Bộ Công Thƣơng tại địa chỉ
www.cuchoachat.gov.vn triển khai từ tháng 6 năm 2010, v.v…
Ngoài ra, với việc quyết tâm thực hiện tốt Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 10 tháng 01
Từ năm 2009 đến nay, việc mua bán qua mạng đã trở thành một hình thức đƣợc ngƣời
tiêu dùng trẻ ƣa chuộng, đặc biệt là những ngƣời làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp,
văn phòng tại các đô thị lớn nhƣ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Theo kết quả khảo sát
của Bộ Công Thƣơng trong năm 2010 về tình hình ứng dụng TMĐT tại 500 hộ gia đình trên
địa bàn thành phố Hà Nội, 49% hộ gia đình đã kết nối Internet, trong đó 18% cho biết mục
đích truy cập Internet có liên quan tới thƣơng mại điện tử và 4% từng sử dụng dịch vụ thanh
toán hoặc ngân hàng trực tuyến khi truy cập Internet.
Việc bán hàng trực tuyến đƣợc rất nhiều doanh nghiệp triển khai thực hiện, đi đầu là
doanh nghiệp trong các lĩnh vực hàng không, du lịch, phân phối, bán lẻ hàng tiêu dùng, v.v
Tới nay, việc mua bán qua mạng đã trở nên khá phổ biến đối với nhiều loại chủng loại hàng
hóa và dịch vụ đa dạng nhƣ vé máy bay, hàng điện - điện tử, đồ nội thất, điện thoại di động,
máy tính, sách, tour du lịch, đặt phòng khách sạn, v.v Phƣơng thức thanh toán đƣợc ngƣời
bán thực hiện rất linh hoạt, đáp ứng hầu hết các yêu cầu của ngƣời mua từ thanh toán sau khi
nhận hàng, chuyển khoản cho đến thanh toán trực tuyến.
Hiện nay, một số doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho sinh hoạt của các
hộ gia đình nhƣ điện, nƣớc, viễn thông đã triển khai thử nghiệm hoặc có kế hoạch triển khai
thu phí dịch vụ qua Internet.
Các giao dịch giữa ngƣời mua và ngƣời bán chủ yếu đƣợc thực hiện thông qua các
website của doanh nghiệp, sàn giao dịch TMĐT, mạng xã hội trực tuyến. Ngoài ra, sự phát
triển nhanh chóng của dịch vụ viễn thông di động trong các năm gần đây với đặc điểm nổi bật
là giá dịch vụ rẻ, số lƣợng ngƣời sử dụng điện thoại di động tăng mạnh là điều kiện rất thuận
lợi cho hoạt động mua bán qua phƣơng tiện điện thoại di động tăng khá nhanh trong thời gian
qua.
4. LỢI ÍCH CỦA THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
4.1. Lợi ích đối với doanh nghiệp
- Mở rộng thị trƣờng: Với chi phí đầu tƣ nhỏ hơn nhiều so với thƣơng mại truyền
thống, các công ty có thể mở rộng thị trƣờng, tìm kiếm, tiếp cận ngƣời cung cấp, khách hàng
và đối tác trên khắp thế giới. Việc mở rộng mạng lƣới nhà cung cấp, khách hàng cũng cho
phép các tổ chức có thể mua với giá thấp hơn và bán đƣợc nhiêu sản phẩm hơn.
hoặc không thu phí đăng ký kinh doanh qua mạng. Thực tế, việc thu nếu triển khai cũng gặp
rất nhiều khó khăn do đặc thù của Internet.
- Các lợi ích khác: Nâng cao uy tín, hình ảnh doanh nghiệp; cải thiện chất lƣợng
dịch vụ khách hàng; đối tác kinh doanh mới; đơn giản hóa và chuẩn hóa các quy trình giao
dịch; tăng năng suất, giảm chi phí giấy tờ; tăng khả năng tiếp cận thông tin và giảm chi phí
vận chuyển; tăng sự linh hoạt trong giao dịch và hoạt động kinh doanh.
4.2. Lợi ích đối với ngƣời tiêu dùng
- Vƣợt giới hạn về không gian và thời gian: Thƣơng mại điện tử cho phép khách hàng
mua sắm mọi nơi, mọi lúc đối với các cửa hàng trên khắp thế giới
- Nhiều lựa chọn về sản phẩm và dịch vụ: Thƣơng mại điện tử cho phép ngƣời mua có
nhiều lựa chọn hơn vì tiếp cận đƣợc nhiều nhà cung cấp hơn.
- Giá thấp hơn: Do thông tin thuận tiện, dễ dàng và phong phú hơn nên khách hàng có
thể so sánh giá cả giữa các nhà cung cấp thuận tiện hơn và từ đó tìm đƣợc mức giá phù hợp
nhất.
- Giao hàng nhanh hơn với các hàng hóa số hóa đƣợc: Đối với các sản phẩm số hóa
đƣợc nhƣ phim, nhạc, sách, phần mềm việc giao hàng đƣợc thực hiện dễ dàng thông qua
Internet.
- Thông tin phong phú, thuận tiện và chất lƣợng cao hơn: Khách hàng có thể
dễ dàng tìm đƣợc thông tin nhanh chóng và dễ dàng thông qua các công cụ tìm
kiếm (search engines); đồng thời các thông tin đa phƣơng tiện (âm thanh, hình ảnh).
- Đấu giá: Mô hình đấu giá trực tuyến ra đời cho phép mọi ngƣời đều có thể tham gia
mua và bán trên các sàn đấu giá và đồng thời có thể tìm, sƣu tầm những món hàng mình quan
tâm tại mọi nơi trên thế giới.
- Cộng đồng thƣơng mại điện tử: Môi trƣờng kinh doanh thƣơng mại điện tử cho phép
mọi ngƣời tham gia có thể phối hợp, chia sẻ thông tin và kinh nghiệm hiệu quả và nhanh
chóng.
- ―Đáp ứng mọi nhu cầu‖: Khả năng tự động hóa cho phép chấp nhận các đơn hàng
khác nhau từ mọi khách hàng.
- Thuế: Trong giai đoạn đầu của thƣơng mại điện tử, nhiều nƣớc khuyến khích bằng
- Vấn đề an ninh và mã hoá
- Độ tin cậy thấp và rủi ro lớn trong giao dịch thƣơng mại điện tử
Về Thương mại:
- Thiếu đội ngũ cán bộ có trình độ kinh doanh và tin học cần thiết
- Thiếu mô hình kinh doanh thƣơng mại điện tử phù hợp cho từng quốc gia có mức độ
phát triển mạng Internet
- Trở ngại văn hoá trong phát triển thƣơng mại điện tử
- Đối tƣợng tham gia thƣơng mại điện tử giới hạn trong nhóm ngƣời thuộc tầng lớp trí
thức và thu nhập cao
- Thƣơng mại điện tử đòi hỏi những thay đổi căn bản trong cơ cấu tổ chức và quản lý
của doanh nghiệp
- Rủi ro xuất phát từ gian lận thƣơng mại, nguy cơ hàng giả rất cao trong thƣơng mại
điện tử
- Tốc độ kết nối mạng Internet ở các nƣớc đang phát triển, đặc biệt là ở Việt Nam rất
chậm
- Các vấn đề luật pháp
- Thách thức đối với quá trình marketing trên nền tảng thƣơng mại điện tử
hơn LAN, phạm vi vài km. Nó có thể bao gồm nhóm các văn phòng gần nhau trong thành
phố, nó có thể là công cộng hay tƣ nhân và có thể hỗ trợ chung vận chuyển dữ liệu và đàm
thoại, hay ngay cả truyền hình. Ngày nay ngƣời ta có thể dùng kỹ thuật cáp quang (fiber
optical) để truyền tín hiệu. Vận tốc có hiện nay thể đạt đến 10 Gbps.
Bài giảng Thương mại điện tử - Bùi Như Hiển
Bộ môn Thương mại điện tử - Kế toán máy
Trang 23
Hình 2.2. Mạng MAN
WAN
WAN (wide area network), còn gọi là "mạng diện rộng", dùng trong vùng địa lý lớn
thƣờng cho quốc gia hay cả lục địa, phạm vi vài trăm cho đến vài ngàn km. Chúng bao gồm
tập họp các máy nhằm chạy các chƣơng trình cho ngƣời dùng. Các máy này thƣờng gọi là
máy lƣu trữ(host) hay còn có tên là máy chủ, máy đầu cuối (end system). Các máy chính đƣợc
nối nhau bởi các mạng truyền thông con (communication subnet) hay gọn hơn là mạng con
(subnet). Nhiệm vụ của mạng con là chuyển tải các thông điệp (message) từ máy chủ này sang
máy chủ khác. Hình 2.3. Mạng WAN
Hình 2.6. Mô hình Peer-to peer
Mô hình lai (Hybrid)
Mô hình này là sự kết hợp giữa Client-Server và Peer-to-Peer. Phần lớn các mạng máy
tính trên thực tế thuộc mô hình này.
1.2 Địa chỉ IP
Địa chỉ IP (IP là viết tắt của từ tiếng Anh: Internet Protocol - giao thức Internet) là một
địa chỉ đơn nhất mà những thiết bị điện tử hiện nay đang sử dụng để nhận diện và liên lạc với
nhau trên mạng máy tính bằng cách sử dụng tiêu chuẩn Giao thức Internet (IP).
Mỗi địa chỉ IP là duy nhất trong cùng một cấp mạng.
Một cách đơn giản hơn: IP là một địa chỉ của một máy tính khi tham gia vào mạng
nhằm giúp cho các máy tính có thể chuyển thông tin cho nhau một cách chính xác, tránh thất
lạc. Có thể coi địa chỉ IP trong mạng máy tính giống nhƣ địa chỉ nhà của bạn để nhân viên
bƣu điện có thể đƣa thƣ đúng cho bạn chứ không phải một ngƣời nào khác.
Giao thức Internet (Internet Protocol-IP) là giao thức vận chuyển cơ bản cho các gói
tin trên mạng Internet và các mạng dùng giao thức TCP/IP (Transmission Control Protocol/
Bài giảng Thương mại điện tử - Bùi Như Hiển
Bộ môn Thương mại điện tử - Kế toán máy
Trang 25
Internet Protocol). IP là giao thức liên mạng. Nó cung cấp hệ thống truyền thông trên các
mạng đƣợc nối với nhau.
IPv4
Địa chỉ IP theo phiên bản IPv4 sử dụng 32 bit để mã hoá dữ liệu. Địa chỉ IP (IPv4) có
dạng nhƣ sau: EFG.HIJ.KMN.OPQ (ví dụ một địa chỉ IP: 220.231.124.5)
IPv6
Địa chỉ IP theo phiên bản IPv6 sử dụng 128 bit để mã hoá dữ liệu, nó cho phép sử
dụng nhiều địa chỉ hơn so với IPv4.
hoặc mạng cục bộ với một mạng diện rộng, với một máy tính mini hay máy tính lớn.
Với các mạng cục bộ cần phải có cáp mạng (cable) hoặc điểm truy cập (access point)
để cung cấp truy cập không dây.
Modem để kết nối một máy tính vào internet thông qua đƣờng dây điện thoại. Chức
năng của modem là đổi tín hiệu số (digital) thành tín hiệu tƣơng tự (analog) và ngƣợc lại.
Môi trƣờng truyền (media) mà các thao tác truyền thông đƣợc thực hiện qua đó. Môi
trƣờng truyền có thể là các loại dây dẫn (dây cáp), sóng điện từ (đối với các mạng không dây).
Giao thức truyền thông (protocol) là các quy tắc quy định cách trao đổi dữ liệu giữa các thực
thể.