Khóa luận
“ Nghệ thuật trần thuật
trong truyện ngắn Vũ
Trọng Phụng “
MỤC LỤC
PHẦN DẪN
LUẬN 1
1. Lí do chọn đề
tài 1
2. Lịch sử vấn đề
2
3. Phương pháp nghiên
cứu 21
4. Những đóng góp của luận văn
22
5. Bố cục luận văn
22
CHƯƠNG I : QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI
TRONG TRUYỆN NGẮN VŨ TRỌNG PHỤNG
24
1. Con người với những chân dung xấu xí, dị dạng
25
2. Từ con người “vô nghĩa lý” đến con người tha hóa
30
2.1 Con người “vô nghĩa lý”
30
113
2.2.1 Từ người kể chuyện xưng “tôi” có tham gia vào câu
chuyện
đến nhân vật tự thuật
114
2.2.2 Sự đan xen giữa điểm nhìn nhà văn và điểm nhìn của
nhân vật chính
119
2.2.3 Sự phối hợp nhiều điểm nhìn khác nhau trong một
tác phẩm
124
3. Giọng điệu trần thuật
129
3.1 Một sự bổ sung cho tài năng trào phúng bậc
thầy 131
3.2 Giọng triết lí – sự mở đầu cho khuynh hướng và những đặc trưng
136
PHẦN KẾT LUẬN
144
TÀI LIỆU THAM KHẢO 151 1. KẾT CẤU TRẦN THUẬT :
Nhữ Bá Sĩ đã thể hiện sự quan tâm tới kết cấu ngay từ những năm cuối
thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX khi ông nhận xét: “Loại văn chương tột bậc của
thiên hạ đúng là không ở trong cái giới hạn đóng, mở, kết cấu, nhưng mà
không đóng, mở, kết cấu thì cũng không thành văn chương”. [118, tr.154]
Mỗi tác phẩm văn học tồn tại trong một cấu trúc nghệ thuật nhất định
bao gồm nhiều yếu tố, nhiều bộ phận và mối liên hệ, quan hệ giữa chúng
được tổ chức hợp lý, nghệ thuật trong một hệ thống, một chỉnh thể nhằm biểu
trưng của tư duy nghệ thuật hiện đại. Sự đảo lộn trật tự thời gian của các sự
kiện có ý nghĩa không nhỏ trong việc thể hiện nội dung tác phẩm nên kiểu kết
cấu này đã rất phổ biến ở truyện ngắn các giai đoạn sau.
Được sử dụng trong 13/41 số lượng truyện ngắn của Vũ Trọng Phụng,
dạng kết cấu này khiến chúng ta phải dành sự chú ý cẩn trọng cho nó. Một
khi tác giả đã xóa đi trật tự tuyến tính của thời gian, ắt hẳn ông muốn nhấn
mạnh với người đọc một vấn đề nào đó.
Trong truyện ngắn Nhân quả, ông đã để nhân vật người đàn ông hồi
tưởng lại những chuyện xưa cũ từ điểm nhìn ngày đám cưới trong thực tại.
Dòng hồi tưởng đó gắn liền với tâm trạng phơi phới khi nhớ lại một quá khứ
đào hoa lẫy lừng đã vùi chôn bao đời con gái. Hắn đã chiếm đoạt, hắn đã
khinh khi và giờ đây tràn đầy khao khát, mãn nguyện với ý nghĩ cô vợ mới
cưới “về phần tân tiết thì nắm chắc đến mười mươi”. Đảo trình tự thời gian
như vậy, Vũ Trọng Phụng đã lột tả bản chất xấu xa của một gã trai phóng
đãng, bỉ ổi, sở khanh và giúp ta hiểu được niềm khao khát trinh tiết phụ nữ
trong hiện tại của hắn vì sao lại mãnh liệt nhường ấy để từ đó càng làm rõ
được nỗi chua chát, bẽ bàng của hắn ở cuối truyện.
Với truyện ngắn Người có quyền, tác giả lại kể về cuộc đời một nhân
vật “văn dốt, vũ dát, hai mươi bảy tuổi đầu còn ăn bám vào mẹ, cả ngày đi
tìm mấy gia đình nhàn cư bất thiện để gạ đánh cờ không tiền hay là chầu rìa
tổ tôm”, nói tóm lại là dở ông dở thằng. Nhưng ông không bắt đầu câu
chuyện từ điều ấy mà khơi nguồn từ tâm trạng phớn phở của nhân vật khi
hôm nay anh ta đã được làm cha một đứa trẻ con – kết quả mối tình của anh
và “một người đàn bà góa chồng rất trẻ, cũng vui vẻ, nhí nhảnh…mà anh đã
chim”. Để nhân vật triết lí về hạnh phúc, sung sướng với thực tại trong sự hồi
tưởng ngược dòng về quá khứ, Vũ Trọng Phụng cho người đọc những bất
ngờ : con người như thế mà sao may mắn đến vậy? Nhưng không, đó chỉ là
cách nhà văn che giấu cho một tương lai gần rất bi kịch mà hợp lí : con là con
người ta, nhân tình bấy lâu đầu ấp tay gối đã lừa gạt và phũ phàng xua đuổi
không thương tiếc. Lối trần thuật như vậy quả thật có giá trị riêng của nó :
nghĩ.
Nhân vật Lê Vân trong truyện ngắn Gương … tống tiền giờ đây bệ rạc,
chán đời, phung phí tuổi trẻ khi “làm bạn với ả phù dung”, đến nỗi “từ một
thiếu niên có tương lai tốt đẹp” nay đã thành “kẻ bị xã hội khinh bỉ…, ma dại
thân tàn”. Tất cả cũng chỉ vì nỗi thất vọng trong tình yêu với Loan. Vì tình
yêu, Lê Vân điên đảo cuộc đời, phá nát tương lai. Và cũng bất ngờ thay,
chính nhờ tình yêu cay đắng ngày xưa ấy Vân kiếm chác được ít tiền duy trì
tháng ngày “sống mòn” của mình. Khởi đầu nhân vật này khiến người đọc có
cảm xúc giận dữ nhưng vẫn còn chút xót xa nhưng càng về sau, qua cách trần
thuật giàu kịch tính của tác giả, ta chỉ còn một cảm giác khinh bỉ tận cùng
dành cho Lê Vân.
Chống nạng lên đường và Tội người cô cũng trình bày cho ta thảm
cảnh hiện tại của hai nhân vật Hai Xuân và người cô ông chủ nhà. Hai Xuân
chịu cảnh tật nguyền, phải sống nhờ vào anh và hằng ngày chứng kiến cảnh
vì một người làm nuôi cả nhà, vì thiếu cơm mà anh của Xuân “mắng bố, gắt
mẹ, chửi nồi, chửi rế, chửi đôi guốc đang đi mà quai đứt, chửi xó nhà lắm
muỗi vo vo ”. Tất cả cũng chỉ vì một buổi kéo xe Hai Xuân đã bị xe hơi chẹt
phải đến nỗi đành cưa chân thành tật nguyền. Cả một số phận con người rẽ
sang bước ngoặt tăm tối trong một tích tắc oan trái của quá khứ. Bên cạnh đó,
tác giả còn để cho nhân vật hồi tưởng lại ngày xưa nghèo khổ mà vui vẻ khi
sau mỗi ngày làm việc mệt nhọc được trở về nhà, “đến chĩnh nước ngửa cổ
“tu” một hơi nước lã thật dài xong thở đánh “hà à à”một cái rất khoái chí
rồi cầm mảnh mo vừa quạt vừa bước vào nhà ngơ ngác nhìn xem bố mẹ đã
thổi chín cơm chưa, để liệu dọn mâm bát”, một ngày xưa thân ái với cảnh
“mâm cơm dọn xong, nó chỉ còn chờ anh Cả cho nó đi làm về là cùng ngồi
vào, tuy bữa nào cũng chẳng hơn gì bữa nào, chỉ rặt cà, tương, dưa muối mà
thằng Xuân ăn thấy rất ngon”. Thế nhưng quá khứ ấy chỉ là thoáng chốc còn
hiện tại đau đớn khố khổ khốn nạn mới kéo dài chưa biết đến đâu. Khởi đầu
với hiện thực phũ phàng, cay đắng rồi sống lại với quá khứ giản dị mà tươi
đẹp, câu chuyện đã khiến chúng ta thêm ngậm ngùi buồn đau cho số phận
tồn tại chung được với nhau. Mượn lời người bạn để hiểu được một quá khứ
lắm nỗi và một cuộc đời đáng thương, truyện ngắn này thật đúng với nhan đề
của nó : thật tội cho người cô; chỉ vì cái “tội” yêu thương đến dại khờ, hi sinh
đến mê muội mà phải chịu cảnh cô độc, ghẻ lạnh đớn đau.
Cái hàng rào - một truyện ngắn được cho là một đoạn của tiểu thuyết
Bởi không duyên kiếp (tức Dứt tình) - cũng được thuật lại với kết cấu đảo
trình tự thời gian. Đoạn đối thoại khá gay cấn giữa hai nhân vật - Phong và
Tiết Hằng - ở đầu tác phẩm đã dần chuyển sang chuyện quá khứ để giúp ta
hình dung ra phần nào cơ sự của ngày hôm nay. Chuyện của ba năm về trước,
hai người yêu nhau nhưng đã không đến được với nhau vì mẹ Phong “kịp lúc
đoạn tang” đã cải giá với cha của Tiết Hằng. Sự tình ai oán, éo le này khiến
Phong xót xa nghĩ rằng “sự thành hôn, cuộc gắn bó giữa mình với Hằng sẽ là
một bài văn khôi hài cho miệng thế”. Vì vậy, anh đã rứt áo ra đi, bỏ lại Tiết
Hằng “đứng rũ rượi, dựa vào một cột đèn ở ga”. Để rồi sau đó, Tiết Hằng
lấy một người chồng theo sự sắp đặt của cha và chịu cảnh góa bụa chỉ sau ít
năm ngắn ngủi. Về phần Phong, anh “lên thượng du, sống cái đời mây rừng
gió núi, coi sóc việc thầu đốn rừng lim của cha để lại cho” và sống trong nỗi
“lo buồn, áy náy, hối hận” trước cảnh đời của người tình cũ. Quá trình nhân
vật Phong từ “một cậu học trò yếu ớt nhưng có một trái tim bọc sắt” hóa
thành “cái thân thể vạm vỡ lẩn trong một bộ quần áo đi săn mũ da cáo, giầy
ống, áo tơi nhưng có trái tim đa cảm của đàn bà” đã được tác giả diễn tả sinh
động, khéo léo, chân thực qua cách trần thuật đan xen, lồng ghép quá khứ và
thực tại, nhưng chiếm phần lớn vẫn là chuyện của quá khứ. Và cuộc đối thoại
gay cấn đầu tác phẩm đã có một điểm dừng, dù xót xa, bất ngờ. Dĩ nhiên để
đi đến được kết thúc này phải trải qua một quá trình dẫn dắt sống động
ngược dòng thời gian để lí giải cho hiện tại, đan xen bao nỗi niềm trong quá
khứ để thể hiện rõ sự đời lắm khi ngang trái.
Những truyện ngắn trên là minh chứng tiêu biểu cho lối trần thuật đảo
trình tự thời gian của Vũ Trọng Phụng. Xét ở khía cạnh kết cấu trần thuật,
cách kể chuyện này ít nhiều cũng đã hình thành nên một nét đặc sắc cho
Mặt khác, sự đan cài hai câu chuyện vào nhau là một cách thức tạo sự
luân phiên điểm nhìn, góp phần làm cho nhân vật (nhất là thế giới nội tâm
của nó) được xem xét dưới nhiều góc độ và được xây dựng một cách tự nhiên
hơn. Đó chính là thế mạnh của kết cấu truyện lồng trong truyện, góp phần tạo
dựng cho truyện một nghệ thuật trần thuật hiện đại.
Như đã nêu trên, kết cấu “truyện lồng trong chuyện” không phải một
dạng kết cấu mới lạ đối với loại hình tự sự. Và kết cấu này đã đi vào truyện
ngắn Vũ Trọng Phụng với những giá trị riêng của nó. Lỡ lời, Cái ghen đàn
ông, Một cái chết, Lấy vợ xấu, Sống để mà lo, Bà lão lòa, … là những truyện
ngắn được kết cấu theo dạng thức như vậy.
Với trường hợp Cái ghen đàn ông, Một cái chết và Lấy vợ xấu, tác giả
thường lồng một câu chuyện khác vào cuộc trò chuyện giữa các nhân vật.
Xen vào cuộc gặp gỡ giữa nhân vật “tôi” và người bạn trong truyện ngắn Một
cái chết là cảnh một ông lão ăn mày “vừa lòa vừa cụt chân, người quắt như
con mắm nướng, áo tơi, nón lá chống nạng lê vào” xin bố thí. Trong khi
nhân vật “tôi” gắt ầm lên đuổi đi thì người bạn đã “đứng dậy, ra ân cần để
vào tay ông lão một xu” rồi kể lại một chuyện “đuổi ăn mày … đã được mục
kích” biến thành tấn kịch rất đỗi bi thương. Đó là chuyện Thằng Hợi, con
thầy cai lấy thuế chợ, chủ nơi trọ học của người bạn tác giả. Qua câu chuyện
xót xa với hai cái chết thương tâm : một của người ăn mày bị cha Hợi xua
đuổi, một của Hợi như một sự day dứt – tác giả đã đưa ra một bài học về lẽ
đời thật sâu sắc. Từ chuyện đuổi ăn mày, “những chuyện rất thường”,
“tưởng chẳng có chuyện gì bình thường hơn thế nữa”, Vũ Trọng Phụng đã
thể hiện rõ nét tấm lòng thương cảm sâu sắc của mình.
Trong truyện ngắn Cái ghen đàn ông, lẫn trong câu chuyện giữa Giao
Đài, Lê Văn Thư và mấy người bạn là chuyện đời bi đát của vợ chồng giáo
Hiển ; và trong Lấy vợ xấu thì giữa lúc chuyện trò giữa hai người bạn cũ –
nhân vật “tôi” và anh Doãn – anh Doãn đã kể về mối duyên giữa anh và vợ
mình, “một người đàn bà có cái nhan sắc của một người đàn ông không đẹp
giai”.
con nheo nhóc, đói kém, bà đã “cởi hầu bao, lấy ra một cuộn giấy bạc” đem
cho; và cuối cùng trước cảnh đau xót của một người phụ nữ phải bán con để
mong cứu chồng bệnh liệt giường liệt chiếu đã hơn nửa tháng, bà cũng đã cho
năm đồng về lo thuốc men cho chồng mà không phải bán con. Đến cuối cùng
Vũ Trọng Phụng mới cho ta biết hóa ra đó chính là bà lão lòa tội nghiệp bây
giờ. Ba câu chuyện nhỏ về sự phúc đức để góp phần làm rõ một nghịch lí : bà
đã từng rất tử tế với người không ruột thịt thân thích, bà đã từng động lòng
trắc ẩn trước bao số phận vật vờ tận đáy cuộc đời; song giờ đây, người thân
thích ruột rà không mảy may động lòng xót xa cho thân già tật nguyền cô độc
của bà, nhẫn tâm tàn tệ với bà hơn cả với người dưng nước lã, đay nghiến chà
đạp lên thân phận sống nhờ đầy nghịch cảnh bà đang phải chịu. Trần thuật
với kết cấu “truyện lồng trong truyện”, Vũ Trọng Phụng đã dựng lên sự đối
lập gay gắt giữa quá khứ và thực tại, giữa thiện tâm và ác tâm, giữa vị tha và
ích kỉ để phê phán sự bội bạc, bất nhân của người đời và tố cáo cái nghèo làm
nhân cách con người dần thảm hại như nó.
Mỗi một truyện ngắn có kết cấu “truyện lồng trong truyện” dường như
đều mang trong đó một nghĩa lí nào đó mà tác giả muốn đem lại cho người
đọc. Lồng ghép những mảnh đời vào câu chuyện, tác giả không chỉ làm đa
dạng hóa kết cấu trần thuật mà phần nào đó đã nêu bật được tình cảm, thái độ
của ông dành cho dành cho cuộc đời, cho kiếp người. Có cảm giác đọc truyện
ngắn Vũ Trọng Phụng như đến với một quyển sách với nhiều chương, mỗi
một chương lần giở ra lại thấy hiện lên một cảnh đời, một câu chuyện khác
nhau. Điều ấy khiến quyển sách chưa bao giờ nhàm chán, luôn mới lạ, hấp
dẫn, kích thích người đọc khám phá tiếp tục để hiểu thêm bao nhiêu trang đời
đã nén chặt, đã được lồng ghép trong quyển sách số phận ấy. Lại có một hình
dung khác về những câu chuyện trên, nó cứ như những bông hoa đang chớm
nở. Ta phải bóc dần từng cánh từng cánh để thấy được cái nhụy bên trong –
một cái nhụy mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc như một hạt giống lành để lại
mùa sau.
1.1.3 Kết cấu trần thuật theo diễn biến tâm lí của nhân vật :
sức với những chiếc xe cơ khí hóa đang lăm le cướp cơm của mình. Tận cùng
trong dòng hồi ức ấy là bao ai oán, ngỡ ngàng, uất ức với bước ngoặt cuộc
đời : ngày bị tật nguyền. Những điều đó đưa Hai Xuân trở lại với nỗi buồn
ghê gớm, buồn vì nỗi mặc cảm ; hổ thẹn khi cụt chân, buồn đến độ muốn chết
đi ngay được. Và rồi, nhân vật ngủ quên đi trước khi bị đánh thức dậy bởi
tiếng đoàn tàu. Và khi tỉnh dậy, Hai Xuân sợ chết, lần lần tìm về nhà nhưng
lại càng buồn hơn khi chứng kiến cảnh nhà. Trước sự tàn nhẫn lạnh lùng và
hỗn láo của anh mình, Hai Xuân đã thấy giận sôi lên nhưng rồi vì sợ, vì
thương bố mẹ nên đành ra đi, dẫu rằng không biết đi về đâu, dẫu rằng “đau
lòng quá đỗi”. Chịu trận ngoài đường qua cơn mưa đêm xối xả, anh trở về
nhà và chọn cách ra đi để cha mẹ đỡ tủi nhục, tê tái. Cả một quá trình tâm lý
của Hai Xuân trong khoảng thời gian ngắn ngủi từ chiều hôm trước đến sáng
hôm sau được diễn tả sinh động, chân thực và đầy thương tâm. Câu chuyện
cũng chỉ diễn ra trong chừng ấy thời gian, tuy ngắn ngủi mà gây nhiều xúc
động. Ta phục cái tài của Vũ Trọng Phụng đã cấu trúc, nối kết những diễn
biến tâm lý của nhân vật vào một câu chuyện hoàn chỉnh, nhưng càng kính
trọng hơn cái tâm đã xúc động biết bao với số phận đau khổ của nhân vật mà
tác giả đã ẩn sâu vào từng dòng tâm lý ấy. Nếu không xót xa chân thành và
yêu thương sâu sắc, làm sao nhà văn có thể miêu tả được đến như vậy.
Rửa hờn, Duyên không đi lại và Nhân quả có thời gian diễn ra còn
nhanh hơn cả Chống nạng lên đường. Ở đó, Vũ Trọng Phụng đã dồn nén sự
kiện và cấu trúc tác phẩm theo diễn biến tâm lý của nhân vật chính ở những
thời điểm có tính chất bước ngoặt của cảm xúc.
Với nhân vật gã đàn ông trong Nhân quả thì thời điểm ấy là đêm tân
hôn. Bao nhiêu khung cảnh lãng mạn trữ tình được y vẽ ra trong đầu. Càng
tưởng tượng đến cảnh đó hắn càng bực mình khi khách khứa vẫn chưa chịu
về, để hắn cứ mãi phải ngồi tiếp chuyện, đáp lại “những lời chúc sáo bằng
một nụ cười gằn luôn điểm vờ vĩnh trên môi”. Tình cờ ngắm mình trong
gương, nhân vật có cảm xúc tự hào vì “hắn cũng biết mình là điển đấy”.
Chợt cả một đoạn hồi ức năm xưa sống dậy trong hắn, một quá khứ nổi tiếng
con”. Cô bỗng “bủn rủn chân tay, lạnh toát cả người” khi nghe lại giọng nói
năm xưa, xót xa bao nhiêu khi giờ đây “kẻ bạc tình nỡ đến hỏi mình về
chuyện vợ con”. Sau đó là sự “sung sướng” vì được nhân cơ hội để báo thù
khi dồn ép, tra tấn tâm lí người tình phụ bằng việc dần hé lộ quá khứ xấu xa
của y. Nhưng khi nghe hắn tỏ ý muốn tìm lại mình và con, cô thầy bói đã
“lặng im, cảm động”. Tiếp nối diễn biến câu chuyện là bao dằn xé : tha thứ
hay không tha thứ, cho cha con nhận nhau hay mãi mãi lặng im. Cuối cùng,
lòng tự trọng đã thắng và cô đoạn tuyệt với người xưa bằng lời phán cả hai
mẹ con mình đã chết từ lâu cho người ấy khỏi kiếm tìm. Như đã phân tích ở
phần trên, nhân vật cô thầy bói khiến ta xót thương và quí trọng – thương xót
cho số phận hẩm hiu và quí trọng một nhân cách tốt đẹp. Đi từ hận thù, oán
giận đến mủi lòng và cuối cùng dứt khoát đoạn tuyệt ân tình, một kết thúc bất
ngờ nhưng hợp lý cho cả quá trình diễn biến tâm lý phức tạp, đa dạng của
nhân vật. Truyện ngắn này có nhiều điều khiến ta phải ngạc nhiên : ngạc
nhiên vì sự gặp gỡ trùng hợp, ngạc nhiên trong cách cô ứng xử rõ ràng với
người xưa nhưng hơn hết vẫn là niềm tin cho nhân cách tốt đẹp của con
người vẫn tồn tại trên cuộc đời vốn nhiều dối trá, lọc lừa.
Rửa hờn lại đưa ta sống cùng với những cảm xúc đối nghịch đến bất
ngờ của nhân vật thầy đội Chín Tư trong buổi sáng mùng một Tết. Đang phơi
phới trong bao nhiêu sự tha thứ với ý nghĩ quyết chẳng đánh đập ai hôm nay,
thầy Chín Tư thấy sao “cuộc đời lại có thể tốt đẹp đến thế !”, nhân vật sống
trong lâng lâng xúc cảm ngày Tết khi nhận thấy : “Xác pháo trông đẹp, mùi
thuốc pháo ngửi thơm. Ai cũng có quần áo đẹp, ai cũng tươi cười. Ăn mày
chẳng cần lè nhè nhiều, phu xe không phải giở giọng vòi vĩnh”, với đứa trẻ
nghịch pháo ném trúng giữa lưng thầy, thầy “chỉ quay lại, mỉm cười tha
thứ”. Ấy thế nhưng tất cả nhanh chóng bị xóa tan đi hết khi bác phải đánh vợ
vì tội buôn bán trên hè phố làm mất mĩ quan đô thị. Nén lòng, đau đớn để vụt
roi vào vợ nhằm tránh cho vợ bị ông xếp Tây làm lật úp thúng hàng và trừng
trị, từ đó thầy Tư đổi hẳn thái độ. Không còn tử tế được nữa, thầy chua chát
với nghề và nảy sinh ý định phải trừng trị mọi người cho hả nỗi hờn, nỗi nhục
sao cho đến chỗ kết thúc thật bất ngờ, tạo ấn tượng mạnh nơi người đọc.
Trong Đời viết văn của tôi, ông từng nhấn mạnh: “Câu kết của tôi là một cái
lờ. Nó thường làm cho độc giả đột ngột cũng như đến chỗ hẹp nước chảy
mạnh, thì cá bất thình lình bị đẩy tuột vào hom”. Người đọc như bị cuốn hút
vào những lời căn vặn, tra hỏi ráo riết, dữ dội tìm cho ra thủ phạm trong
truyện Mất cái ví nhưng đến cuối truyện mới vỡ lẽ ra là chính người cháu quý
hoá đã dựng chuyện để đuổi khéo người cậu của mình đi. Với truyện Đồng
hào có ma, tác giả tạo được một tình huống truyện độc đáo làm nổi bật một
cách bất ngờ bản chất nhân vật huyện Hinh. Hắn ta đầy uy nghi, oai vệ khiến
con mẹ Nuôi sợ hãi quá, lóng ngóng đánh rơi một đồng hào, tìm mãi không
thấy ở đâu. Nhưng không phải đồng hào có ma mà huyện Hinh khi thấy đồng
hào lăn đến chân đã thản nhiên dậm chân lên. Và rồi khi mụ Nuôi đi khỏi,
hắn mới “đưa mắt xuống chân, dịch chiếc giày ra một tí” và “vẫn tự nhiên
như không”, “cúi xuống, thò tay, nhặt đồng hào đôi sáng loáng, thổi những