Luận văn: ĐẶC TRƯNG PHẢN ÁNH NGHỆ THUẬT CỦA TRUYỆN NGẮN THẠCH LAM potx - Pdf 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

NGUYỄN MINH NGỌC
ĐẶC TRƢNG PHẢN ÁNH NGHỆ THUẬT
CỦA TRUYỆN NGẮN THẠCH LAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Thái Nguyên, năm 2008

ĐẶC TRƢNG PHẢN ÁNH NGHỆ THUẬT
CỦA TRUYỆN NGẮN THẠCH LAM

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học : PGS - TS Trƣơng Đăng Dung

Thái Nguyên, năm 2008
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC

Phần mở đầu Trang
I. Lí do chọn đề tài 1
II. Lịch sử vấn đề 2
III. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 9
IV. Phạm vi nghiên cứu 10
V. Phương pháp nghiên cứu 10
VI. Đóng góp của luận văn 11


1
PHẦN MỞ ĐẦU

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Phản ánh nghệ thuật là một vấn đề quan trọng của mĩ học nói chung
và lí luận văn học nói riêng. Sự phát triển của văn học nghệ thuật cho thấy sự
vận động của tư duy nghệ thuật được thể hiện qua những quan niệm của nhà
văn về hiện thực và phương thức phản ánh hiện thực. Có thể nói, qua thế giới
nghệ thuật của một nhà văn, chúng ta thấy được tư tưởng thẩm mĩ của nhà
văn ấy gửi gắm qua nội dung phản ánh và các thủ pháp phản ánh mà nhà văn
đã lựa chọn.
2. Chọn đề tài Đặc trƣng phản ánh nghệ thuật của truyện ngắn
Thạch Lam, chúng tôi muốn đi sâu vào một vấn đề có ý nghĩa lí luận, đó là
tìm hiểu nét độc đáo trong cách chiếm lĩnh hiện thực của Thạch Lam, nhà văn

Khởi đầu là văn học hiện thực phê phán và tiếp đó là văn chương Tự Lực văn
đoàn. Trong đó, phải kể đến một tên tuổi sáng chói trên văn đàn văn học dân
tộc nửa đầu thế kỉ XX, đó là Thạch Lam.
2. Xét trong thời kì văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX, sự xuất hiện
của Thạch Lam đã mở ra một bước tiến mới cho văn xuôi nghệ thuật nói
chung và địa hạt truyện ngắn nói riêng.
Hơn nửa thế kỉ trôi qua kể từ ngày văn phẩm đầu tay của Thạch Lam
chào đời, đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về thân thế, sự nghiệp
và đặc biệt là truyện ngắn của nhà văn. Một cách tổng quát, có thể thấy các tài
liệu nghiên cứu về Thạch Lam xoay quanh ba nội dung lớn.

3
Thứ nhất là các tài liệu viết về đặc điểm con người của Thạch Lam
hoặc những kỉ niệm sâu sắc với nhà văn. Đây là những bài viết của người
thân, bạn bè, những nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình từng gặp gỡ, tiếp xúc, có
thời gian sống cùng Thạch Lam hoặc làm công tác nghiên cứu về ông. Tiêu
biểu là các bài viết: Người em thứ sáu (Hồi kí) của Nguyễn Thị Thế, Thạch
Lam- cha tôi trong trí tưởng của Nguyễn Tường Giang, Thạch Lam- một nhà
văn yêu người như yêu mình của Vũ Bằng, Những kỷ niệm “chia ngọt sẻ bùi”
cùng Thạch Lam của Đinh Hùng, Thạch Lam thẩm âm của Hoài Điệp Thứ
Lang, Với Thạch Lam của Hồ Dzếnh, Thạch Lam- những điều còn nhớ của
Lưu Khánh Thơ ghi theo lời Song Kim kể, Những điều tôi học được ở Thạch
Lam của Hoàng Tiến
Thứ hai là các bài viết đưa ra những nhận xét, đánh giá khái quát về
Thạch Lam. Đây là những tài liệu nghiên cứu về thành tựu của văn học Việt
Nam thời kì từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945. Trong
những tài liệu này, các chuyên gia nghiên cứu về văn học Việt Nam hiện đại
đã đưa ra những nhận định về giá trị văn chương Thạch Lam và khẳng định
đóng góp của ông vào thành tựu chung của công cuộc hiện đại hóa văn học
nước nhà, nhằm mục đích làm rõ những đánh giá khái quát về thời kì văn học.

Ngọc Phan đã nhận được sự đồng tình của nhiều nhà nghiên cứu về Thạch
Lam.
Trong bài Tính cách tạo tác của Thạch Lam, Thế Lữ khẳng định: “Bao
nhiêu băn khoăn về nghệ thuật, bao nhiêu tư tưởng cũng như tình cảm rung
động, lúc nào cũng chứa chất dồi dào trong tâm trí: cái kho tàng cuộc sống
bên trong ấy rất sẵn châu báu mà chỉ cầm đến bút, Thạch Lam đã thấy dàn
xếp theo hình thể của lời” [44; 146]. Như vậy, Thế Lữ đã nhận thấy sự hoá
thân sâu sắc và yếu tố cảm xúc trong sáng tác của Thạch Lam.

5
Nguyễn Tuân cũng cho rằng một số sáng tác của Thạch Lam là mẫu
mực. Ông nhận xét cách lí giải về hiện thực của Thạch Lam như sau: “Thạch
Lam hay đi vào những cảnh ngộ nghịch trái, mà đồng thời cũng đi sâu vào
những tâm trạng, tâm tình, cảm xúc, cảm giác” [45; 264]. Đây là lí do quan
trọng khiến cho độc giả “ngày nay đọc lại Thạch Lam vẫn thấy đầy đủ cái dư
vị và cái nhã thú của những tác phẩm có cốt cách và phẩm chất văn học” [45;
258].
Hàng loạt bài nghiên cứu trong tạp chí Giao điểm, Sài Gòn, số 1, 1972
đều tiếp tục khẳng định sức sống vượt thời gian của văn chương Thạch Lam,
trong đó có những ý kiến xác đáng, đầy sức thuyết phục về các khía cạnh giá
trị trong di sản văn học “không mấy đồ sộ” của ông. Trong bài viết Thạch
Lam: hưong thơm và nỗi u hoài, Dương Nghiễm Mậu đánh giá cao khả năng
“tỉa tách chi ly tâm hồn người Việt Nam, ở những khía cạnh nhỏ nhặt, tế nhị
và sâu sắc nhất” của Thạch Lam [3; 157]. Tác giả Huỳnh Phan Anh trong
Thạch Lam, tiểu thuyết gia cũng đã chú ý đến nét riêng trong sáng tác của nhà
văn: “Văn Thạch Lam là một lời mời gọi không của lý trí sáng suốt đầy ẩn
tình, ẩn ý mà của tâm hồn, không của tư tưởng mà của rung động và cảm
tình” [3; 263]. Nhận xét này không chỉ đúng với tiểu thuyết mà còn rất đúng
với truyện ngắn của Thạch Lam.
Năm 1989, nhà nghiên cứu Nguyễn Hoành Khung giới thiệu về Thạch

hàng đầu - điều này nếu chưa đến mức được xem là đặc trưng tất yếu thì cũng
đã trở thành đặc trưng chất lượng của truyện, theo như quan niệm của Thạch
Lam” [56; 131]. Khi tìm hiểu quan niệm về con người trong sáng tác của
Thạch Lam, Lê Dục Tú nhấn mạnh: “trong khi miêu tả thế giới tinh thần của
con người, Thạch Lam chỉ quan tâm miêu tả những phần đẹp đẽ, trong sáng,
lành mạnh Đó là nét đặc trưng trong bút pháp của Thạch Lam khi ông miêu

7
tả con người” [69; 121]. Cũng theo Lê Dục Tú: “việc đi sâu thể hiện thế giới
tinh thần, thế giới nội tâm của con người và coi đó là đối tượng để miêu tả
con người là chỗ mạnh và cũng là chỗ yếu của các nhà văn lãng mạn nói
chung, của ngòi bút Thạch Lam nói riêng” [3; 19]. Nghiên cứu về truyện ngắn
Thạch Lam, Phạm Thị Thu Hương bổ sung thêm: “với Thạch Lam, thế giới
nội tâm là thế giới của hồi ức, của kỷ niệm” [32; 90].
Qua các công trình nghiên cứu có thể thấy các tác giả đều nhất trí thừa
nhận thế mạnh về nội tâm, về cảm giác của Thạch Lam và chỉ ra đó là phạm
vi phản ánh hiện thực chủ yếu trong truyện ngắn của ông. Tuy nhiên, những
kiến giải, đánh giá về đối tượng của phản ánh nghệ thuật trong truyện ngắn
Thạch Lam phần nhiều vẫn chỉ dừng ở việc khai thác nội dung tư tưởng chứ
chưa đi vào khía cạnh đặc trưng phản ánh nghệ thuật, chưa làm rõ thế giới
bên trong, thế giới nội tâm như là đối tượng của phản ánh nghệ thuật trong
truyện ngắn Thạch Lam.
Liên quan đến vấn đề thủ pháp phản ánh nghệ thuật trong truyện ngắn
Thạch Lam, nhiều tác giả đã nói đến cốt truyện và kết cấu, giọng điệu, ngôn
ngữ trần thuật trong truyện ngắn Thạch Lam.
Phần lớn ý kiến của các nhà nghiên cứu đều nhấn mạnh cốt truyện của
Thạch Lam rất đơn giản, hầu như không có truyện gì đáng kể. Trần Ngọc
Dung đã cho rằng: “nhiều truyện ngắn của Thạch Lam là loại truyện ngắn
không có truyện” [14; 126]. Bích Thu cũng khẳng định cốt truyện của Thạch
Lam “thường ít hành động và kịch tính mà giàu những chi tiết, những “sự

ngòi bút giản dị, tinh tế lạ thường, ngôn ngữ đặc biệt trong sáng, đầy chất thơ,
Thạch Lam đã góp phần nâng cao trình độ truyện ngắn Việt Nam lên một
bước mới” [35; 206]. Lê Dục Tú cũng nhấn mạnh nhiều đoạn văn của Thạch
Lam “cho đến hôm nay vẫn có thể coi là những đoạn văn mẫu mực cả về cú

9
pháp lẫn hình ảnh” [3; 24]. Ông đã dẫn ra rất nhiều câu văn, đoạn văn “hoàn
hảo” trong truyện ngắn của Thạch Lam. Lê Thị Đức Hạnh cũng nhất trí với ý
kiến đó khi nhận ra sự “giản dị, tinh tế, nhẹ nhàng, uyển chuyển, giàu hình
ảnh, giàu cảm xúc, nhiều khi đậm chất thơ” [25; 106] của ngôn ngữ trong
truyện ngắn Thạch Lam. Năm 2006, trong luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ nghệ
thuật truyện ngắn Thạch Lam, Nguyễn Thị Mai Hương đã dành một phần
nghiên cứu về lời văn trần thật và ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn Thạch
Lam. Tuy nhiên, ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Thạch Lam vẫn cần
được xem xét một cách toàn diện và khái quát hơn trong ý nghĩa như là một
thủ pháp quan trọng của phản ánh nghệ thuật.
Như vậy, bản sắc riêng trong phản ánh nghệ thuật của truyện ngắn
Thạch Lam đã được các nhà nghiên cứu, các thế hệ độc giả đề cập tới nhưng
chưa có một chuyên luận, một công trình nào coi vấn đề này là đối tượng
nghiên cứu chính và tập trung khảo sát, phân tích một cách toàn diện, sâu sắc,
mặc dù đây chính là hạt nhân cốt lõi làm nên một dấu ấn Thạch Lam với “cái
thế giới nghệ thuật duy nhất, sự độc sáng một lần trong lịch sử văn học” [3;
458]. Việc đi từ góc độ lí thuyết về đặc trưng phản ánh nghệ thuật để soi sáng
truyện ngắn Thạch Lam, rồi từ truyện ngắn Thạch Lam soi sáng lại lí thuyết
về đặc trưng phản ánh nghệ thuật vẫn còn là vấn đề bỏ ngỏ. Xuất phát từ thực
tiễn đó, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu một cách hệ thống thế giới nghệ
thuật của Thạch Lam trong tinh thần của mô hình phản ánh nghệ thuật nhằm
chỉ ra đặc trưng phản ánh nghệ thuật của nhà văn.
III. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
Đi từ cái nhìn lí luận về vấn đề phản ánh nghệ thuật trong lịch sử mĩ

1. Phương pháp phân tích

11
2. Phương pháp so sánh, đối chiếu
3. Phương pháp tổng hợp
VI. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
1. Người ta đã viết nhiều về truyện ngắn của Thạch Lam, nhưng chưa ai
xuất phát từ một vấn đề cơ bản của mĩ học và lí luận văn học để soi sáng thế
giới nghệ thuật của Thạch Lam. Lựa chọn đề tài Đặc trƣng phản ánh nghệ
thuật của truyện ngắn Thạch Lam, luận văn mang đến một cái nhìn khoa
học, khám phá đối tượng nghiên cứu trong thế chủ động với hệ quy chiếu của
mĩ học sáng tạo.
2. Luận văn nghiên cứu đối tượng và thủ pháp phản ánh nghệ thuật của
truyện ngắn Thạch Lam, chỉ ra những đặc điểm của thế giới nghệ thuật Thạch
Lam, từ đó khẳng định những giá trị thẩm mĩ độc đáo của nhà văn này.
3. Luận văn cho thấy sự lựa chọn đối tượng và thủ pháp phản ánh của
nhà văn thể hiện tư duy nghệ thuật của nhà văn, nó tạo nên cái riêng không
lẫn với người khác của anh ta. Trong dòng chảy chung của truyện ngắn 1930 -
1945, Thạch Lam đã có được vị trí riêng vì ông đã có được bản sắc riêng của
phản ánh nghệ thuật.
VII. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Vấn đề đặc trưng phản ánh nghệ thuật trong mĩ học và lí
luận văn học
Chương 2: Đối tượng của phản ánh nghệ thuật trong truyện ngắn Thạch
Lam
Chương 3: Những thủ pháp của phản ánh nghệ thuật trong truyện ngắn
Thạch Lam


Những luận điểm nổi tiếng của Platon và Aristote về đặc trưng của
phản ánh nghệ thuật đã được nói đến từ hơn hai nghìn năm trước. Sau đây,
chúng tôi sẽ đề cập tới hai tác giả tiêu biểu này.
Trong tư tưởng mỹ học của Platon (427-347 trước CN), cái đẹp là vấn đề
quan trọng nhất. Nhưng cái đẹp theo Platon lại không nên tìm kiếm ở những
phẩm chất khả giác của sự vật và những cảnh sinh động hay trong mối quan
hệ với hoạt động của con người. Bởi vì, trong thế giới hiện thực mà con người
có thể cảm nhận bằng giác quan thì tất cả đều thay đổi và biến dịch, không có
gì là bền vững và đích thực cả. Và do vậy, những cái đẹp thường ngày mà
chúng ta cảm giác được chỉ là ánh hồi quang, là bản sao, là những mảnh vụn
của cái đẹp ý niệm mà thôi.
Chính vì quan niệm cái đẹp có tính chất siêu nhiên như vậy nên Platon
cho rằng chỉ có thể nhận thức cái đẹp bằng lí trí, bằng con đường suy luận
trừu tượng chứ không phải bằng cảm giác, bằng con đường sáng tạo và tiếp
nhận nghệ thuật. Ông miêu tả quá trình nhận thức cái đẹp như sau: đầu tiên là
lí trí từng bước tách ra khỏi những sự vật đẹp riêng lẻ, tiếp đó lí trí sẽ vươn tới
mọi vật thể đẹp phổ quát, tới những chuẩn mực đẹp phổ quát và cuối cùng
dừng lại ở nhận thức cao nhất về ý niệm đẹp.
Theo Platon, thế giới của các sự vật cảm biết là không nhận thức và thế
giới của ý niệm là thế giới của những cái phi cảm tính, phi vật thể, là thế giới
của sự đúng đắn, chân thực và các sự vật cảm biết chỉ là cái bóng của ý niệm.
Từ đó, Platon cho rằng nhận thức của con người không phải là phản ánh các
sự vật cảm biết của thế giới khách quan mà là nhận thức ý niệm. Nghệ thuật
cũng là sự sao chép lại những sự vật khả giác, mà bản thân những sự vật này
thì vốn là bản sao của các ý niệm, là sự phản ánh lại các ý niệm. Do vậy, xét
đến cùng sự diễn tả của nghệ sĩ chính là bản sao lại một bản sao, sự bắt chước
lại một sự bắt chước. Nghĩa là, phản ánh nghệ thuật cũng chính là sự phản

14
ánh cái đã được phản ánh. Mặc dù còn những hạn chế nhưng Platon vẫn có

thế. Ông quan niệm cái đẹp phải được xem như là thuộc tính và phẩm chất
của các sự vật, cái đẹp được biểu hiện cao nhất nơi các hữu thể sống, cả trong
thiên nhiên, cả trong xã hội, đặc biệt là nơi con người, đó là tính phổ quát của
cái đẹp. Con người với sự hài hòa trong các bộ phận của cơ thể mình là hiện
thân và là đối tượng chính của cái đẹp.
Nét nổi bật trong cách lí giải về những vấn đề chủ yếu trong mĩ học của
Aristote là ở chỗ ông đã xem mĩ học như một lĩnh vực độc lập của nhận thức.
Đây chính là một nỗ lực tìm kiếm rất đáng trân trọng ở ông.
Bước sang thời Phục hưng, mĩ học không còn thu mình khiêm tốn trong
tư cách là một bộ phận của triết học mà đã phát triển thành một phương diện
cơ bản của nghệ thuật. Không thể chia sẻ với quan niệm cuộc đời không có
cái đẹp của mĩ học trung cổ phong kiến phương Tây, các nhà Phục hưng đã
coi con người là một bộ phận của tự nhiên, sống và chết theo quy luật của tự
nhiên và vì vậy, phải trả con người về với tự nhiên để nó phát triển theo tự
nhiên.
Mĩ học thời trung cổ kéo cái đẹp lên chín tầng mây, mĩ học Phục hưng
khẳng định cái đẹp tồn tại nơi hạ giới. Đến thời Phục hưng, người ta luôn đề
cao việc khám phá và diễn tả những cái đẹp bắt rễ ngay trong chính bản chất
sự vật. Các nghệ sĩ miệt mài khám phá vẻ đẹp tự nhiên ấy. Thời kì này, các
nhà mĩ học luôn đòi hỏi nghệ thuật phải “phát hiện ra những quy luật khách
quan đó và phải chịu sự điều khiển của chúng”. Trong văn học Phục hưng,
chân lí được tái hiện qua những hình thức của chính cuộc sống thực. Những
gì đang diễn ra, đang phát triển một cách khách quan trong cuộc sống trần thế

16
đều là đối tượng của phản ánh nghệ thuật. Cuộc sống ấy không phụ thuộc vào
ý thức con người nhưng lại được khúc xạ qua lăng kính của ý thức ấy.
Người đặt nền móng cho văn nghệ Phục hưng Ý là Dante (1265 -
1321), tác giả của kiệt tác Thần khúc. Giữa lúc giáo lí nhà thờ vẫn còn ngự trị
trên mọi lĩnh vực của đời sống, Dante đã can đảm đưa ra những tìm tòi trong

xa hơn một bước trong sáng tác của các nghệ sĩ cũng như trong công trình của
các nhà mĩ học và lí luận nghệ thuật. “Họ đã khẳng định mối quan hệ giữa
hiện thực và lý tưởng trong nghệ thuật; đã hoàn thiện cái đang có bằng cách
sáng tạo cái phải có, cái cần có”[73; 54].
Đến thế kỉ XVII, những vẻ đẹp tự do phóng khoáng đầy tính nhân văn
thời Phục hưng đã bị tạm xếp lại khi mĩ học cổ điển hình thành. Nếu văn học
Phục hưng đề cao khát vọng của con người giữa cuộc đời trần thế thì ở thời kì
này, các nghệ sĩ lại kêu gọi sự tuân thủ những vẻ đẹp có tính chuẩn mực khắt
khe của Hàn lâm viện. Điều đáng nói là chủ nghĩa cổ điển không chú trọng
diễn tả và đề cao cá tính, tình cảm riêng tư của con người mà lại quan tâm
nhiều đến lợi ích, danh dự của dòng dõi, quốc gia.
Cho đến nay, một số người vẫn thường quan niệm Boileau là người đặt
nền móng cho chủ nghĩa cổ điển. Chúng tôi hoàn toàn chia sẻ với ý kiến này
bởi Boileau là người có công lao đúc kết những thành tựu lớn trong sáng tác
thực tiễn của thơ ca đương thời thành những chuẩn mực, những công thức
ngắn gọn, sắc sảo, cô đọng, có tính chất định hướng cho nghệ thuật. Công
trình đưa ông lên vị trí “nhà lập pháp” của văn học cổ điển Pháp chính là
Nghệ thuật thơ (1674). Tác phẩm gồm bốn khúc ca. Khúc ca thứ nhất nói về
nghệ thuật sáng tạo thơ ca nói chung. Khúc ca thứ hai dành để trình bày các
quy tắc sáng tác của hơn mười loại thể thơ nhỏ và nhấn mạnh đặc trưng của

18
chúng. Khúc ca thứ ba nói về thi pháp các thể loại lớn: anh hùng ca, bi kịch
và hài kịch. Khúc ca thứ tư nhấn mạnh vai trò của đạo đức đối với nhà thơ.
Trong những lời bàn về vấn đề chung của sáng tạo nghệ thuật, Boileau
rất quan tâm đến phẩm chất của người nghệ sĩ. Theo ông, nghệ sĩ trước hết
phải có thiên hướng sáng tạo và phải trung thành với lí trí. Ông cũng đồng
nhất hóa sự thực do lí trí thiết lập với cái đẹp tự nhiên. Ông ủng hộ thuyết bắt
chước thiên nhiên và coi mô phỏng là nhiệm vụ cơ bản, là tiêu chuẩn của mọi
giá trị thẩm mĩ. Trong quan niệm của ông, thiên nhiên phải là “đối tượng duy

sống, để tìm vẻ đẹp thẩm mĩ phải xem xét những quan hệ trong tác phẩm văn
học và nghệ thuật. Còn nếu chúng ta định xem xét quan hệ giữa vẻ đẹp của tự
nhiên và vẻ đẹp của chính nó được phản ánh vào trong nghệ thuật, thì chúng
ta sẽ tìm thấy cái đẹp do sự bắt chước khéo léo đem lại.
Diderot cũng phân biệt rõ hai lĩnh vực của nhận thức: nhận thức lí tính
và nhận thức tình cảm. Từ đó, ông khẳng định cái đẹp thuộc về lĩnh vực tình
cảm, cảm xúc thẩm mĩ là bước khởi đầu của nhận thức thẩm mĩ. Chính sự
nhấn mạnh chủ thể nghệ thuật và các khả năng tưởng tượng sáng tạo đã ghi
nhận những tìm tòi trong tư tưởng mĩ học của Diderot.
Sự tiến bộ trong tư tưởng mĩ học của Diderot còn thể hiện ở chủ trương
văn học nghệ thuật phải phản ánh chân thực cuộc sống, ở quan niệm cái
“chân, thiện, mĩ” trong nghệ thuật phải gắn bó chặt chẽ với nhau, ở quan điểm
nghệ thuật không thể tách rời cuộc đấu tranh cho tiến bộ xã hội.
Đến thời Khai sáng, với sự nhấn mạnh chủ thể nghệ thuật và các khả
năng tưởng tượng trong sáng tạo thì phạm vi của việc tiếp cận vấn đề phản
ánh nghệ thuật một cách biện chứng đã được mở rộng.
Sự phản bội lại tất cả, phản bội lại chính mình của giai cấp tư sản đã tạo
nên một tâm lí thâm thù xã hội tư sản ngày càng trở nên phổ biến. Đây cũng

20
chính là lí do khiến “càng về cuối thế kỷ XVIII, mỹ học càng xa rời lý tưởng
nhân văn Phục hưng, càng tách khỏi lý tưởng chiến đấu duy vật thời Khai
sáng” [33; 49].
Đại diện tiêu biểu nhất cho mĩ học cổ điển Đức cuối thế kỷ XVIII là
Hegel (1770 - 1831). Trong công trình Mĩ học, Hegel đã tập trung lí giải một
cách hệ thống, chặt chẽ, nhất quán ba vấn đề lớn: ý niệm và lí tưởng; sự phát
triển của lí tưởng và sự tách ra của nó thành những hình thức nghệ thuật khác
nhau; hệ thống các ngành nghệ thuật.
Hegel không hề phủ nhận cái đẹp của tự nhiên và đã dành cho nó một
chương trong số ba chương về nguyên lí cơ bản của cái đẹp. Ông thừa nhận

ở nghệ thuật cái đẹp mới có tính chất tinh thần. Ông đã khảo sát cái đẹp trong
nghệ thuật ở ba phương diện chủ yếu: lí tưởng với tính cách lí tưởng; cách lí
tưởng được thể hiện trong tác phẩm nghệ thuật; tính chủ thể sáng tạo của nghệ
sĩ.
Hegel cho rằng nếu như tình cảm của con người, thế giới tinh thần của
con người bộc lộ bằng con mắt thì nhiệm vụ của nghệ thuật là “làm sao cho
mọi điểm của ngoại hình của nó, cái ngoại hiện trở thành con mắt, trung tâm
của tâm hồn và làm cho người ta thấy được tâm hồn”[26; 274]. Và chỉ có làm
như thế, nghệ thuật mới trở thành cụ thể. Hệ luận tất yếu của luận điểm này là
thái độ chống chủ nghĩa tự nhiên. Sao phỏng các hình ảnh của tự nhiên dưới
hình thức như chúng tồn tại là “một việc thừa”[26; 113], vì nó chỉ tạo nên một
“vẻ bên ngoài lừa dối”, chứ không có “sự sống chân thực”[26; 114] và chán
ngấy vì nghệ thuật không phải chỉ là một mánh khóe thủ công.
Rõ ràng Hegel đã cố gắng chứng minh cái đẹp là bản chất của nghệ
thuật. Ông xem cái đẹp như là hình thức cảm tính của tư tưởng và nghệ thuật,
là nơi kết tinh của cái đẹp, tuy nhiên ông lại phủ nhận cái đẹp thực tế để giành

Trích đoạn Cốt truyện và kết cấu 1 Cốt truyện Ngôn ngữ của cảm giác Ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhạc điệu Trong dòng văn học 1930-1945, Thạch Lam nổi lên như một nhà văn tương ứng với đối tượng của phản ánh nghệ thuật đã lựa chọn,
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status