MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Nông thôn -– nơi chứa đựng những trầm tích về văn hóa truyền thống luôn nằm ở
mạch ngầm trong đời sống của người dân Việt Nam,, Bởi Đó là những giá trị truyền thống văn
hóavốn để đã kết thành những phẩm chất trong sáng, đẹp đẽ ở người nông dân. Cũng Và dĩ
nhiên, nơi đóchính mảnh đất này đã đọng lại không ít những nỗi đau, tủi hờn, oan khuất đeo
bám người dân quê… Hiện thực đời sống xã hội nông thôn và người nông dân Việt Nam đã
được ánh xạ và in dấu lên mọi sáng tác văn học. Điều đó đã được minh định từ thực tiễn sáng
tác, từ truyền thống văn học dân tộc suốt trường kỳ lịch sử với những hình ảnh mộc mạc, đẹp
đẽ của làng quê Việt Nam. Và chúng từng lưu giữ trong các sáng tác của tập thể dân gian. Các
văn thi sĩThời trung đại, các nhà nho – thi sĩ ưu ái dành riêng chốn quê Việt Nam những vần
thơ chân mộc, sâu lắng ân tình. Những năm 1930-1945, vVăn học lãng mạn, bám rễ vào nguồn
mạch dân tộc nhưng tâm hồn lại hút gió Tây phương, vẫn neo đậu một hồn quê nơi bạn đọc.
Vào Những năm 1930-1945,Các nhà các nhà văn hiện thực phê phán đã khẳng định sự thành
công khi dựng nên bức tranh nông thôn với những mảngh tối -– sáng về thân phận của người
nông dân oằn mình dưới ách thống trị thực dân phong kiến. Văn học cách mạng đã kế thừa
thành tựu của văn học hiện thực phê phán, khẳng định khả năng đấu tranh vươn lên làm chủ
của những người cần lao như một sự phát hiện, hàm ơn với nền văn học của một thời “mất
nước nhưng không mất làng”. Suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ
vĩ đại, thần thánh thì hình ảnh làng quê với người nông dân mặc áo lính đã đi vào văn học như
những biểu tượng đẹp trong kí ức hào hùng của dân tộc.
1.2. Đại thắng mùa Xuân 1975 đã khép lại cuộc chiến tranh, non sông liền một dải.
Đất nước dần chuyển mình từ thời chiến sang thời bình, một kỷ nguyên mới mở ra với lắm
bộn bề nhưng cũng nhiều khát vọng. Chính điều đó là mảnh đất màu mỡ để văn học sau
1975 vươn mình lớn dậy và tỏa bóng xuống cuộc sống rộng lớn, mênh mông. Đặt biệt,
luồng gió tư tưởng đổi mới kể từ sau Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng đã tạo thành cơn
luân vũ mãnh liệt tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, tạo nên bầu không khí dân
chủ, cởi mở, tiến bộ hơn, trong đó có văn học - một bức tranh nhiều màu sắc với khát vọng
vẽ trọn vẹn chân dung tâm hồn con người của thời đại từ những miền quê. Trong sự phát
triển mạnh mẽ và toàn diện của nền văn học mới, mảng văn học nông thôn chiếm một vị trí
không nhỏ cả về số lượng lẫn chất lượng, góp phần làm nên diện mạo, thành tựu, tác dụng
từ 1986 đến 2012nay. Qua đó, thấy được quy luật vận động của tiểu thuyết Việt Nam viết về
nông thôn Việt Nam sau chiến tranh cũng như trên con đường giao lưu của văn học dân tộc với
văn học thế giới.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Lựa chọn đề tài này, chúng tôi phần nào giới hạn đối tượng nghiên cứu. Vì vậy, toàn
bộ các sáng tác của tiểu thuyết viết viết về nông thôn Việt Nam từ 1986 đến 2012 sẽ là đối
tượng trực tiếp để khảo sát. Riêng đề tài nông thôn miền núi, chúng tôi tạm thời không đề
cập đến trong luận án. Số lượng tác phẩm viết về nông thôn miền núi sau đổi mới khá lớn
(chủ yếu truyện ngắn), nội dung lại phong phú, độc đáo nên cần chuyên luận riêng để
nghiên cứu kĩ lưỡng và sâu rộng. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi có liên
hệ, so sánh nhằm chứng minh nét riêng của tiểu thuyết viết về nông thôn.
Sở dĩ chúng tôi chọn mốc thời gian này, vì đó là mốc đánh dấu sự đổi mới toàn diện
của đất nước; văn xuôihọc nói chung, tiểu thuyết viết viết về nông thôn nói riêng đã có bước
2
ngoặt chuyển mình để đi đến những thành tựu đáng ghi nhận như hôm nay. Tất nhiên, giới
hạn mốc lựa chọn để khảo sát chỉ có ý nghĩa tương đối, vì hiện tượng đổi mới tiểu thuyết đã
có bước chuẩn bị khá sớm vào đầu những năm 1980 với một số tác giả có đóng vai trò tiền
trạm như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Mạnh Tuấn, Lê Lựu, Đoàn Lê…
Nhìn lại chặng đường phát triển, số lượng tiểu thuyết viết viết về nông thôn rất lớn,
chưa có giai đoạn nào trước đây sánh kịp. Dẫu biết rằng, trong sáng tác, vấn đề không chỉ số
lượng, mà ở chất lượng nên những cuốn tiểu thuyết có giá trị được sàng lọc qua thời gian và
đã được bạn đọc quan tâm, giới nghiên cứu thừa nhận (thông qua các giải thưởng danh dự)
được tác giả luận án triển khai khảo sát kĩỹ hơn như Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội của (Lê
Lựu), Bến không chồng, Dưới chín tầng trời của (Dương Hướng), Mảnh đất lắm người
nhiều ma của (Nguyễn Khắc Trường), Lời nguyền hai trăm năm của (Khôi Vũ), Lão Khổ
của (Tạ Duy Anh), Thủy hỏa đạo tặc, Đồng sau bão của (Hoàng Minh Tường), Dòng sông
Mía của (Đào Thắng), Ba người khác của (Tô Hoài), Ma làng của (Trịnh Thanh Phong),
quan trọng, có ý nghĩa của tiểu thuyết viết về nông thôn trong tiến trình đổi mới văn xuôi
Việt Nam sau 1986 trong tính chỉnh thể nội dung và hình thức như quan niệm hiện thực và
con người cùng những phương thức, phương tiện biểu hiện đặc sắc của chúng.
Sau 1986, viết về nông thôn, một số tác giả tiếp tục quay trở lại đề tài cải cách
ruộng, hợp tác hóa nông nghiệp. Vấn đề này rất nhạy cảm nhưng đã được tiểu thuyết quan
tâm một cách rốt ráo vào những năm 1960. Những trầm tích về văn hóa truyền thống nằm
ở mạch ngầm trong đời sống nông thôn Việt Nam. Bởi đó thực sự là những giá trị truyền
thống bề sâu như phong tục, tập tục, tập quán để kết thành những phẩm chất trong sáng,
đẹp đẽ của nông dân Việt Nam, dĩ nhiên, cũng từ đó đọng lại không ít nỗi đau, những tủi
hờn, oan khuất đeo bám họ.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
3.1. Phương pháp nghiên cứu xã hội học văn học: vận dụng để nghiên cứu tiến trình vận
động và phát triển của tiểu thuyết Việt Nam viết về nông thôn, nghiên cứu các tác phẩm tiêu biểu
đóng góp tích cực vào việc đổi mới của tiểu thuyết nông thôn Việt Nam viết về nông thôngiai
đoạn từ 1986 đến năm 2012.
3.2. Phương pháp phân tích, so sánh: nhằm làm sáng tỏ giá trị nội dung và nghệ
thuật, sắc thái độc đáo giữa những sáng tác của tiểu thuyết viết về nông thôn cùng và không
cùng giai đoạn; đồng thời so sánh sự đổi mới của tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới
(1986 - – 2012) với trước đổi mới (1932-1985); so sánh thể loại tiểu thuyết và các thể loại
khác (truyện ngắn, kí, bút kí) trong cùng đề tài (đồng đại) để thấy được nét nổi trội về
những đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết viết về nông thôn.
3.3. Phương pháp cấu trúc, hệ thống, thi pháp: được sử dụng để nghiên cứu mối
liên hệ nội tại hữu cơ của tác phẩm, đồng thời có cái nhìn tổng thể, khái quát về sự chuyển
mình, đổi mới của tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn từ 1986 đến 2012này;. tTiếp cận
dưới góc độ thi pháp đưa đến sự thuận lợi trong việc khám phá những cấu trúc phức tạp của
thể loại tiểu thuyết như ngôn ngữ, giọng điệu, kết cấu…
4. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
4.1. Qua khảo sát Đặc trưng phản ánh hiện thực của tiểu thuyết Việt Nam về nông
thôn.
5. CẤU TRÚC LUẬN ÁN
Luận án gồm 150 trang chính văn. Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Công trình tác giả
đã công bố có liên quan đến luận án, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Phụ chú, phần Nội
dung của luận án gồm 4 chương.
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam về nông thôn từ
1986
đến nay
Chương 2: Diện mạo chung của tiểu thuyết Việt Nam về nông thôn từ 1986 đến nay
Chương 3: Hiện thực và con người trong tiểu thuyết Việt Nam về nông thôn
từ 1986
đến nay
Chương 4: Phương thức nghệ thuậtbiểu hiện của tiểu thuyết Việt Nam về nông
thôn từ 1986
đến nay
5
NỘI DUNG
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TIỂU THUYẾT VIỆT
NAM
VỀ NÔNG THÔN TỪ 1986 ĐẾN NAY
Trong lịch sử văn học Việt Nam, tiểu thuyết viết viết về nông thôn chiếm một vị trí
quan trọng. Đặc biệt, sau đổi mới (1986), tiểu thuyết viết về nóđề tài này đã góp phần làm
nên diện mạo mới cho văn xuôi Việt Nam hiện đại. Hành trình đi tìm lịch sử nghiên cứu
vấn đề Đặc trưng phản ánh hiện thực của tiểu thuyết Việt Nam về nông thôn từ 1986 đến
nay, chúng tôi đứng trước khối lượng tư liệu khá phong phú, in rải rác trên các tạp chí, báo
chuyên ngành và những công trình sách, luận văn, luận án đã hoặc chưa xuất bản. Để xử lý
nguồn tư liệu có được, rút ra những vấn đề liên quan đến luận án, chúng tôi tạm thời chia
Việt Nam từ tháng 8-1945, Phong Lê không đi sâu tìm hiểu văn xuôi viết viết về nông thôn. Ở
đây, tác giả đã nhìn truyền thống văn học trên hai đề tài lớn: chiến tranh và nông thôn. Trong
đó, đề tài nông thôn “có chiều dài lịch sử ngót một thế kỷ mà công lao tạo dựng đầu tiên là hơn
một thế hệ người viết, kể từ Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn… đến Ngô Tất Tố, Nam Cao…,và cuộc tìm kiếm kéo dài hơn 20 năm, nhằm xác định một mô hình thích hợp cho sự phát triển
của đất nước trong sự tương ứng với thời đại của những cuộc cách mạng xã hội và khoa học -–kỹ thuật” [103;tr.21]. Tác giả đã khái quát cả bước chuyển mình của nông thôn trong trang văn
của các bậc tiền bối. Trong bài Các nhà tiểu thuyết nông thôn trong cơ chế thị trường, Hoàng
Minh Tường cũng khẳng định: mảng văn xuôi viết về nông thôn có lịch sử của nó, từ Hồ Biểu
Chánh, Ngô Tất Tố và Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan… Những nhà văn này
đã giữ lại vốn văn hóa, đời sống tâm hồn người Việt ở thời đại họ và cho hậu thế, tạo một dòng
chảy liên tục đến hôm nay. Ông nhận định sâu về mặt chuyển biến của “mảng tiểu thuyết nông
thôn đã phần nào làm được một công việc là ghi lại những biến động ở nông thôn cùng những
đổi thay, những vật vã của một thời. Hai chủ đề khá nổi bật được phản ánh trong hầu hết các
tác phẩm, là những xung đột âm ỉ quyết liệt về dòng họ, và cuộc vật vã thoát khỏi thời kỳ quan
niệm bao cấp, xác lập một cơ chế làm ăn mới” [181;tr.64]. Góp lời nhận xét, trong bài Hiện
trạng tiểu thuyết, Bùi Việt Thắng đã khẳng định: “Các nhà tiểu thuyết hôm nay đã từ bỏ được
lối nhìn dễ dãi về đời sống con người… Họ đã thôi nhìn nông thôn với cảnh điền viên, trống
dong cờ mở. Nông thôn đích thực hiện ra trong tiểu thuyết của các anh trong khung cảnh “long
trời lở đất” rối rắm và cũng nhìn vào nông thôn ấy ta sẽ thấy cả xã hội Việt Nam mấy chục
năm qua” [184;tr.9].
Nguyễn Hà, Tôn Phương Lan đi vào xác định ranh giới khác biệt của tiểu thuyết
viết về nông thôn trước và sau đổi mới. Trong bài Về hướng tiếp cận mới đối với hiện thực
trong văn xuôi sau 1975, Tôn Phương Lan cho rằng: “Lâu nay vấn đề người nông dân hầu
như chỉ được nhìn nhận qua vấn đề ruộng đất, vấn đề vào ra hợp tác xã, giờ đây vấn đề đó
được nhà văn nhìn vào số phận lịch sử của họ. Và lịch sử đất nước được hiện ra qua lịch sử
thôn không hề “bạc màu”, “không bao giờ mòn”. Bởi, nông thôn Việt Nam đang từng bước
chuyển mình, đáng được ghi nhận. Quá trình nông thôn hóa, sự tác động của công nghiệp
vào nông nghiệp, sự lai căng về văn hóa…, cũng có mặt tích cực và tiêu cực nên đáng để
các nhà văn suy ngẫm, trăn trở [169]. Cùng quan điểm, trong cuộc trả lời phỏng vấn với
báo Nông nghiệp Việt Nam, Nguyễn Đăng Điệp đánh giá rất xác đáng: “Văn học về nông
dân và nông thôn tuy ít người theo đuổi nhưng vẫn chưa đến mức đoản mệnh”, “số lượng
người viết về nông thôn nhiều hay ít không phải là quá quan trọng mà quan trọng hơn
nhiều là làm sao để có được nhiều tác phẩm hay” [53]. Bùi Ngọc Tấn cũng rất tin tưởng,
lạc quan khi cho rằng: trong thời gian gần đây, mảng văn học nói chung, tiểu thuyết viết về
nông thôn nói riêng có những tác phẩm hay, đáp ứng được tầm đón đợi của bạn đọc:
“Chúng ta sẽ viết được những cuốn tiểu thuyết như chúng ta hằng mong ước, cũng như tôi
8
luôn tin mỗi giọt máu của chúng ta đều cháy lên lòng yêu nhân dân, yêu đất nước; một
nhân dân, một đất nước đã đổ máu, đổ mồ hôi, đang vượt qua mọi khó khăn để xây dựng
cuộc sống mới và đang chờ đón những tác phẩm của chúng ta” [53].
Trong công trình nghiên cứu Tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 -– 2005: Diện mạo và đặc
điểm, Lê Thị Hường đã chỉ ra được những đặc điểm chính của tiểu thuyết giai đoạn này là sự
đa dạng về hệ đề tài, trong đó đề tài nông thôn là một trong những đề tài có lực hút đối với các
nhà tiểu thuyết đương đại: tiểu thuyết về đề tài nông thôn sau 1986 đã gây được ấn tượng. Các
nhà văn đã gặp gỡ nhau ở vấn đề cốt lõi của nông thôn: gia đình và dòng tộc, phong tục, nếp
nghĩ, nếp sống của những con người sống trên những mảnh đất phần lớn còn chịu sức đè của
những thói tục cũ [86]. Năm 2000, trong Luận án Tiến sĩATS Ngữ văn, Nguyễn Mạnh Hùng
đã khảo sát Sự vận động của tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1975 một cách có hệ thống và có
những đóng góp đáng kể. Trên phương diện đề tài, tác giả nhận xét rất xác đáng về vị trí của đề
tài nông thôn trong dòng chảy văn học: “Công cuộc xây dựng và phát triển đất nước bây giờ là
nhiệm vụ trung tâm của thời đại, nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu và phần lớn số dân
là nông dân, vai trò to lớn của nông dân và nông nghiệp đối với đất nước, lối sống và tâm lý
nông dân cũng như ảnh hưởng của chúng đối với đời sống xã hội, cảnh sắc làng quê và hấp
dẫn của nó đối với nghệ thuật, và cao hơn hết là sự hiểu biết cũng như tình cảm của nhà văn
đối với người nông dân với những bước đường đi theo cách mạng” [82;tr.65]. Và đề tài nông
1.1.2. Quan ngại về dấu hiệu chững lại
Những năm trở lại đây, một số nhà văn, nhà nghiên cứu băn khoăn trước thực trạng
ngày càng thưa dần, thiếu vắng các tác phẩm viết về nông thôn. Trong bài Đề tài về người
nông dân, làm sao cho xứng tầm, Đào Thái Tuấn cho rằng: nông thôn Việt Nam đang
“đứng trước công cuộc Công nghiệp hóa -– Hiện đại hóa đất nước hiện nay rất nhiều vấn
đề về Nông nghiệp - – Nông thôn đã nảy sinh”. Vì vậy,, do đó “mảng về văn học nông thôn
rất quan trọng”,. nNhưng thời gian gần đây “chỉ lẻ tẻ một vài tác phẩm viết về nông thôn”,
“các nhà văn chưa đi sâu vào để tiếp tục khai thác”., Do đó,Vì vậy “đây là một thiếu sót
của giới sáng tác văn học nghệ thuật” [177;tr.22]. Đây chính là dấu hiệu của sự chững lại
của văn xuôi và tiểu thuyết viết viết về đề tài nông thôn và nó còn kéo dài sang cả thập niên
đầu của thế kỷ XXI. Trong bài Tiểu thuyết 2009 trong chuyển động của tiểu thuyết Việt
Nam mười năm đầu thế kỷ XXI, Đỗ Hải Ninh cho rằng: đời sống của tiểu thuyết viết về đề
tài nông thôn sau đổi mới, đặc biệt thập niên đầu thế kỷ XXI khá bình lặng, mặc dù có
những cuộc thảo luận, trao đổi: “Với một quốc gia có hơn bảy mươi phần trăm dân số sống
ở nông thôn như Việt Nam, trong quá khứ đã từng có những tác phẩm xuất sắc về nông
thôn thì hiện nay sáng tác hay về đề tài này lại không nhiều…, vẫn chưa dành sự quan tâm
đích đáng mặc dù cách đây mấy năm đã có vài ba tác phẩm gây được sự quan tâm của
người đọc như Dòng sông Mía (Đào Thắng), Trăm năm thoáng chốc (Vũ Huy Anh), Cách
đồng lưu lạc (Hoàng Đình Quang). Số tác phẩm xuất bản năm nay lọt vào vòng chung khảo
cuộc thi tiểu thuyết lần 3 rất ít như Cách trở âm dương (Vũ Huy Anh), Họ vẫn chưa về
(Nguyễn Thế Hùng), Thần thánh và bươm bướm (Đỗ Minh Tuấn)” [136]. Trong bài Nhà
quê, nông thôn: Tự nó và về nó, Mai Anh Tuấn cho rằng: dẫu có hẳn một hội thảo mang tên
“Văn học với đề tài Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn”, nhưng “văn học chưa có nhiều
tác phẩm xuất sắc viết về tam nông như “tầm” của nó” [178]. Trong bài Nhà văn với đời
sống nông thôn và nông dân ngày nay, Nguyễn Bính Hồng Cầu cũng khẳng định: văn học
Việt Nam có “bề dày lịch sử, có thành tựu”, nhưng thẳng thắn mà nói “còn thiếu vắng về
10
đề tài nông thôn, nhất là nông thôn ngày nay đang trong tiến trình công nghiệp hóa -– hiện
đại hóa đất nước” [15].
Nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra nguyên nhân (chủ quan và khách quan) dẫn đến đề tài
trạng có thật và đang trở thành mối quan tâm lớn trong thời gian vừa qua… Những tác giả
trở về sau càng thể hiện rõ điều đó” [226]. Cùng quan điểm, trong cuộc phỏng vấn ngắn với
Báo Nông nghiệp Việt Nam, Nguyễn Đăng Điệp cũng đã khẳng định: trong lịch sử văn học
dân tộc có rất nhiều tác phẩm xuất sắc viết về đề tài nông thôn (Tắt đèn, Chí Phèo, Vợ nhặt,
11
Vỡ đê). Thời đổi mới cũng có một số tác phẩm gây được sự chú ý của bạn đọc, nghiên cứu
như:, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Bài học nông thôn,
nhưng lại thuộc về các nhà văn lớp trước. Còn thực tế hiện nay đang diễn ra là các nhà văn
trẻ không mấy mặn mà với đề tài nông thôn: “Nhìn vào văn học trẻ hiện nay, không chỉ tôi
mà nhiều người điều thấy chuyện đó… Ngay cả những cuộc tọa đàm về văn học gần đây
do Hội Nhà văn tổ chức cũng không có tác phẩm nào thật sự chuyên chú về người nông
dân” [53].
Truy tìm căn nguyên đó, Hồ Huy Sơn cho rằng: các nhà văn trẻ không “mặn mà” với
đề tài nông thôn là vì “đa số các cây bút trẻ hiện nay đều tập trung ở thành thị. Tuy rằng trước
đó họ đã có một khoảng thời gian sống ở nông thôn nhưng “kho tàng kíý ức” ấy theo thời gian
không còn được sống động, vẹn nguyên như ngày xưa. Khi đó, họ bắt buộc phải viết theo tâm
thức và cảm thức đương đại. Bên cạnh đó, sự khắt khe của thời kinh tế thị trường đã làm cho
văn học, đặc biệt là văn học về nông thôn thêm phần chật vật. Nhiều nhà xuất bản cũng như
các tờ báo muốn sách, báo của mình “đắt hàng” thì bắt buột phải chạy theo thị hiếu của độc
giả” [157]. Nguyễn Đăng Điệp cũng cho rằng: “Thế hệ trẻ hiện nay lên phố lập nghiệp sớm,
thời gian truy cập internet nhiều, sợi dây gắn bó với nông thôn và nông dân vì thế cũng không
thật sâu. Hơn thế nữa, lớp trẻ là những người nhạy cảm với những cái mới, cái lạ nên rất dễ hút
vào những đề tài hoót như sex, đồng tính, tình tay ba tay tư” [53]. Hồ Quỳnh Yên dẫn ra
nguyên nhân nữa là “giới sáng tác trẻ hiện nay viết những gì mà Nhà xuất bản, tòa soạn cần để
đáp ứng nhu cầu độc giả. Chính vì vậy, nên vô hình trchung, đề tài về nông thôn càng trở nên
nhạt nhòa” [226]. Ngay một số nhà văn trẻ cũng thừa nhận sự yếu kém của mình khi sáng tác
mảng về đề tài nông thôn và nông dân. Họ cho rằng: muốn có tác phẩm viết về nông thôn để
đời, thì “cần sự chín muồi” (Nguyễn Thị Thu Thủy), “phải am hiểu về nó” (Hà Thanh Phúc).
“viết khó hay và sách khó bán”(Nguyễn Văn Học) [157].
Theo một số nhà nghiên cứu, văn xuôihọc và tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn
năm đã khác. Không chỉ khác về diện mạo bên ngoài, mà khác cả trong nếp sống, nếp nghĩ.
Nếu trước đây ta có một nông dân hoàn toàn thuần phác, thì hôm nay sự thuần phác dưới
bóng tre làng đang bị cơ chế thị trường dùng đại bác tấn công san bằng mọi thứ lô cốt bảo
thủ rồi dựng lên những pháo đài của thời kỳ đổi mới, một bức tranh hoành tráng trắng đen
lổn chổn…” [152]. Ở góc nhìn khác, trong bài Suy nghĩ về đề tài nông thôn trong văn học
hiện nay, Trần Quốc Toàn cho rằng: viết về đề tài nông thôn cần mở rộng biên độ trong việc
khắc họa hình ảnh người nông dân, đặc biệt là nhân vật thiếu nhi: “Bàn về nNông nghiệp,
nông thôn, nông dân không thể quên thiếu nhi, vì không ít, hay rất nhiều các em sẽ lớn thành
nông dân để làm nông nghiệp hiện đại trong một nông thôn mới”. Thực tế, “phần lớn những
tác phẩm văn học thiếu nhi của văn học Việt Nam hiện đại, sống được với thời gian vẫn là
những tác phẩm có đề tài nông thôn như Dế mèn phiêu lưu kí của Tô Hoài, Đất rừng phương
Nam của Đoàn Giỏi, Dòng sông thơ ấu của Nguyễn Quang Sáng đều là như thế”. Theo tác
giả bài viết, ngoài ra nhân vật nông thôn có học vấn, học vị cũng không thể bỏ qua. Những
nhân vật -– con người này có đóng góp không nhỏ trong bước chuyển mình của nông thôn
hiện đại. Vì thế, “cứ viết cho kĩ về nhân vật này, có thể nắm bắt được diện mạo đồng đất Việt
Nam hôm nay” [173]. Về phía nhà quản lí, phải “khuyến khích những cây viết trẻ”, “có
những chính sách”, “cần sự quan tâm của người viết” (Trần Thị Hồng Hạnh), “phải tổ chức
cho nhà văn đi và vận động cả những cây bút ở nông thôn nữa” (Hà Thanh Phúc), “mỗi năm
tổ chức cuộc thi truyện ngắn và tiểu thuyết về đề tài nông nghiệp nông thôn dành cho tuổi
13
trẻ, trao giải cao… Cứ mang kinh tế ra khuyến khích, động viên, người viết trẻ cảm thấy
mình đầu tư viết về đề tài nông thôn rất đáng đồng tiền bát gạo, họ sẽ dấn thân viết”
(Nguyễn Văn Học) [156].
Ngay lĩnh vực nghệ thuật khác như truyền hình, sâu khấu cũng cùng chung số phận. Hồ
Ngọc Xung trăn trở, băn khoăn trước thực trạng đề tài nông thôn và nông dân ngày càng ít đi,
lép vế so với các đề tài khác: “Trong mấy năm gần đây, số đầu phim Việt Nam được phát sóng
lên tới hàng trăm… Nhưng trong số đó, phim có đề tài nông thôn, nông dân thực sự không
nhiều. Gây tiếng vang nhất của đề tài này trong thời gian qua là hai bộ phim Ma làng và Gió
làng Kình… Lĩnh vực sân khấu (tuồng, chèo, cải lương), hiện tượng hiếm vở diễn về người
nông dân và nông thôn cũng đang diễn ra…, hình ảnh người nông dân cũng mờ nhạt dần và
không ít “người nhà quê” tiếp xúc với đô thị đã bị bại hoàn toàn, sống dở chết dở, điêu
đứng bi thảm, sự thất bại của họ mang ý nghĩa xã hội sâu sắc” [64;tr.119]. Thiếu Mai có cái
nhìn thấu đáo khi phân tích sự tác động của hoàn cảnh đến quá trình hình thành tính cách
Giang Minh Sài. Đó là anh nông dân cả cuộc đời đã phải gánh trên vai hệ tư tưởng gia
trưởng, những quan niệm, định kiến khiến “anh nhà quê” không lúc nào được sống bằng
chính cuộc đời mình, chỉ biết nghe và chiều ý mọi người: “Trong con người anh, luôn luôn
tồn tại hai thế lực: chống đối và khuất phục. Hai thế lực ấy ngày càng phát triển, càng mâu
thuẫn, và đẩy bi kịch trong con người Sài lên một mức độ ngày càng cao hơn” [118;tr.121].
Không những Sài, rất nhiều nông dân làng quê Hạ Vị cũng sống và làm những điều mình
không muốn chỉ vì không dám làm phật ý hay làm khác mọi người như cụ đồ Khang, chú
Hà, anh Tính, chính ủy Đỗ Mạnh, anh Hiển. Nói cách khác, những con người này vừa đại
diện cá nhân riêng lẻ, đồng thời là sản phẩm chung của “một thời -– thời xa vắng, nhưng
chưa xa là bao”. Cái thời - do hoàn cảnh của nó mà ý thức cá nhân tạm lu mờ, nhường chỗ
cho những vấn đề lớn lao mang ý nghĩa dân tộc. Theo Thiếu Mai, để hiểu được căn cốt tính
cách về anh nông dân Giang Minh Sài, thì “Lê Lựu đã tỏ ra hiểu nhân vật của mình đến tận
chân tơ kẽ tóc, đến tận những ngọn ngành sâu thẳm nhất của tình cảm, suy nghĩ. Xót xa
cho cuộc đời Sài bao nhiêu, tác giả lại giận dữ lên án cách sống, cách ứng xử thiếu bản lĩnh
của anh ta bấy nhiêu” [118;tr.122]. Về mặt nghệ thuật, tác giả cho rằng: mặc dù nhiều
người đánh giá “văn Lê Lựu không chuốt, mộc quá, và không phải không có những câu
què, hoặc trúc trắc, thậm chí có câu ngữ pháp chưa chỉnh”, thế nhưng, tiểu thuyết Thời xa
vắng được chưng cất bằng “một giọng văn trầm tĩnh vừa giữ được vẻ đầm ấm chân tình,
vừa khách quan, không thêm bớt, tô vẽ, đặc biệt là không cay cú, chính giọng văn như vậy
đã góp phần đáng kể vào sức thuyết phục, hấp dẫn của tác phẩm” [118;tr.123]. Đinh Quang
Tốn cho rằng: tiểu thuyết Thời xa vắng “viết về hậu phương miền Bắc trong công cuộc
chống Mĩ cứu nước với cả cái vui và cái buồn, cái nồng nhiệt và sự non nớt, những quầng
sáng và những bóng mờ, có cả nụ cười và nước mắt…” [174;tr.18]. Tác giả cũng khẳng
định đề tài hậu phương nông thôn miền Bắc trong chiến tranh chống Mĩ có nhiều người
viết, nhưng “Lê Lựu là người viết thành công nhất”, và “nếu trong tổng số sáu trăm hội
viên Hội nhà văn Việt Nam, cứ mười người chọn lấy một người tiêu biểu, thì Lê Lựu là
một trong tổng số 60 nhà văn ấy. Nếu về văn xuôi Việt Nam hiện đại, chọn lấy 30 tác
người nông dân, Nguyễn Văn Long khẳng định: “Trong nhiều trường hợp, con người vừa
là nạn nhân mà cũng là thủ phạm của tấn bi kịch đời mình, họ phải chịu trách nhiệm một
phần về số phận của mình” [220]. Cùng mạch suy nghĩ đó, nhưng Trung Trung Đỉnh đi vào
thân phận của nhữngđã lý giả thấu đáo nguồn cơn bi kịch của những nhân vật nữ như bà
Nhân, bà Khiêm, mụ Hơn, cô Hạnh, cô Thủy… ĐDặc biệt, là Nguyễn Vạn -– một người
nhà quê suốt đời gìn giữ cái bóng của vinh quang nên đã đánh mất đi bản thân mình, cá
nhân mình [48]. Trần Cương đào sâu vàotập trung khai thác số phận nhân vật Vạn: “Vạn
trong Bến không chồng là cả một đời không vượt nổi những định kiến và nhận thức ấu trĩ,
cực đoan để rồi sau phút “lầm lỡ” phải quyên sinh” [24;tr.35]. Nguyễn Hà lí giải nguyên
nhân dẫn đến bi kịch của Vạn: “Nguyễn Vạn là một dạng khác của bi kịch con người hai
mặt” [57;tr.56]. Phong Lê cho rằng: “Mảnh đất lắm người nhiều ma đặt ra những vấn đề
chìm nổi, bề mặt và chiều sâu trong sự đan xen giữa “nề nếp ý thức và sinh hoạt tinh thần
16
của con người, là các vấn đề về gia tộc và dòng họ, hôn nhân và gia đình, là các quan hệ
làng xã và nề nếp công xã” [138]. Hoàng Ngọc Hiến, Lê Nguyên Cẩn xếp tác phẩmnó vào
loại “tiểu thuyết phong tục”. Bởi, tác phẩm đã lấy việc miêu tả phong tục, tập quán và lề
thói của một vùng cư dân làm cảm hứng. Chính những lề thói và thành kiến hủ lậu của xóm
Giếng Chùa đã thâm nhập vào đời sống nông thôn, chi phối mạnh mẽ đến nếp nghĩ, nếp
sống của người nông dân [138]. Thế giới kỳ ảo in đậm trong tác phẩm, nó được đan kết
bằng các mối quan hệ tình yêu không bình thường, đặt trong những cái chết không bình
thường. Và qua thế giới kỳ ảo đó, “những nét riêng của bản sắc văn hóa dân tộc hiện ra,
giúp chúng ta nhìn nhận thấu đáo hơn về chính mình. Đồng thời cũng khẳng định tính chất
tiểu thuyết phong tục thể hiện qua việc miêu tả các sự kiện liên quan đến điều kiện sống,
điều kiện tồn tại của con người” [16;tr.276]. Về không gian và thời gian, hai tác phẩm đã
tạo dựng được không gian đặc biệt. Ở Mảnh đất lắm người nhiều ma, Hà Minh Đức,
Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: nổi lên không gian “làng xóm”, là sự “oi nồng vô cùng xưa
cũ mà hết sức hôm nay ở những làng quê bao lần ta thờ ơ đi qua chẳng biết và bổng hiểu ra
rằng, trong cái “không khí” ấy thì ắt mọi chuyện nhất thiết phải diễn ra như vậy”, là “không
khí âm dương lẫn lộn, quỷ ở với người”, là “âm khí còn nặng nề nhưng dương khí đã bắt
đầu phát triển” [138]. Nguyễn Hữu Sơn phát hiện ra thời gian bóng đêm chính là đặc trưng
cách mạng tháng Tám tới những năm cải cách ruộng đất và cả về sau đó; và dung lượng
tiểu thuyết lớn hơn truyện ngắn, cộng với sự trưởng thành của nhà văn với sự già dặn từng
trải về kĩỹ thuật viết (nỗ lực tạo ra hình thức và hiệu quả cao nhất cho tác phẩm) điêu luyện
hơn”, vì thế tác phẩm xem “như một bước tiến dài của Tạ Duy Anh” [75], [84]. Hoàng
Ngọc Hiến đánh giá: “Đây là một cuốn tiểu thuyết rất quan trọng… thêm một giả thuyết
văn học về bản chất và thân phận người nông dân Việt Nam”. Nhận xét về nghệ thuật,
Nguyễn Thị Hồng Giang cho rằng: “Thời gian luân chuyển và thời gian đan xen trước –/
sau, quá khứ/ - hiện tại (tuy không có con số cụ thể) vẫn là thời gian bên ngoài lịch sử, thời
gian nguyên cấp” [141;tr.65]. Đoàn Ánh Dương khẳng định: tiểu thuyết Lão Khổ đã phá vỡ
kết cấu cổ điển với một cảm hứng lãng mạn bao trùm, thể hiện kiểu tư duy khác, lối viết
tiểu thuyết khác, không còn nhất phiến, liền mạch của câu chuyện, tiểu thuyết hiện lên bởi
một “chuyện chính yếu” và rất nhiều “chuyện ngoài rìa” [30].
1.23.1.4. Dòng sông Mía đạt giải thưởng Hội nhà văn (2002 - 2004) và giải thưởng
văn học viết về Nông nghiệp, nông dân và nông thôn lần nhất (3/6/2011). Trong Báo cáo
tổng kết cuộc thi tiểu thuyết 2002 - – 2004, Hữu Thỉnh đánh giá cao mảng tiểu thuyết viết
về đề tài nông thôn, đặc biệt tác phẩm Dòng sông Mía: “Nông thôn trong Dòng Sông Mía
của Đào Thắng vừa vạm vỡ, đằm thắm vừa đầy ắp thế sự với biết bao xung đột xoay quanh
một gia đình, một dòng tộc. Chỗ chênh vênh mà lại chính là chỗ thành công của tác giả này
là họ đã không bị rơi vào chủ nghĩa khách quan lạnh lùng ngay cả khi miêu tả những tình
huống tồi tệ, bi đát nhất của cuộc sống” [195;tr.241]. Nhìn Từ cuộc thi tiểu thuyết 2002 -–
2004, Phong Lê khai thác sâu vấn đề hiện thực nông thôn trong chiều dài lịch sử, đặc biệt
nhấn mạnh đến thân phận người nông dân: “Đọc Dòng sông Mía để hiểu thêm và hiểu mới
về nông thôn Việt Nam trong chiều dài và chiều sâu lịch sử. Một nông thôn xuyên suốt thế
kỷ XX, dẫu có một cái đập lớn là cách mạng tháng Tám ngăn đôi nhưng dòng chảy thì vẫn
thế. Vẫn cuồn cuộn cả hai phần đục trong. Vẫn dữ dội và bi thống trong biết bao thân phận
con người, không kém bất cứ một xứ sở nào khác trên thế giới này”. Và như thế, “sau
Mảnh đất lắm người nhiều ma, Dòng sông Mía là cuốn sách hiếm hoi tiếp tục được mạch
sâu những vấn đề căn cốt của nông thôn Việt Nam trên các phương diện của dân tộc và giai
18
cấp, gia đình và dòng họ, đạo lý và phong tục, nếp nghĩ và lối sống” [104;tr.249]. Trần
chủ yếu tuân thủ những nguyên tắc của tiểu thuyết truyền thống, nhưng bù lại tác giả biết
cách dẫn dắt câu chuyện, độc đáo ở chi tiết, biết hé mở dần dần những bức màn bí mật, biết
“dựng người, dựng cảnh”, “ngôn ngữ phong phú, nhiều màu sắc, âm điệu. Đáng chú ý là
những lời ăn tiếng nói vận nhiều tục ngữ, ca dao, đối đáp, ví von rất quen thuộc trong dân
gian và cách nói năng mang “dáng dấp Tây Phương” cùng ngữ điệu âm ái, du dương của
kinh Thánh làm cho lời văn trở nên mượt mà, trong sáng và nhiều đoạn lôi cuốn”. Kết thúc
19
tác phẩm đã tạo được điểm nhấn: “Ngoài lối kết thúc mở nhằm trao một phần quyền phán
xét cho độc giả, đoạn kết của Dòng sông Mía có vẻ rất “xinê”, “ngôn ngữ điện ảnh” quả
thật là tỏ rõ được ưu thế của mình” [201;tr.234]. Kết thúc bài viết, tác giả kết luận: “Dòng
sông Mía là một cuốn tiểu thuyết thành công trên nhiều phương diện, đánh dấu một bước
tiến quan trọng trong sự nghiệp cầm bút của nhà văn Đào Thắng” [201;tr.235].
1.23.1.5. Dưới chín tầng trời cũng được một số nhà nghiên cứu như Hoàng Ngọc Hiến,
Bùi Việt Thắng, Hữu Tuân… đánh giá cao. Hữu Tuân đi sâu nghiên cứu hiện thực đời sống
nông thôn được tái hiện trong tác phẩm. Người viết khẳng định: Dưới chín tầng trời là bức
tranh hiện thực hoành tráng nhưng sự hoành tráng đó không chỉ thể hiện ở độ dày tác phẩm,
không chỉ ôm trọn một thời kỳ lịch sử nửa thế kỷ đất nước trải qua nhiều biến động dữ dội,
không chỉ ở hàng chục nhân vật, đủ các thành phần xã hội, mang đầy cá tính sắc sảo -– đó chỉ
là phần nổi. Còn “chiều sâu tác phẩm khiến Dưới chín tầng trời mang dáng dấp sử thi chính ở
tư tưởng nghệ thuật có tính khái quát cao, ở ý nghĩa nhân sinh sắc nét, ở lĩnh vực tâm linh bí
ẩn” [176;tr.20-23]. Bùi Việt Thắng tinh tế nhận ra Bến không chồng, Bóng đêm và mặt trời
chính là cột “xương sống”, “cốt tủy” để nhà văn tiếp tục mở rộng, đào sâu vào hiện thực nông
thôn và số phận bi kịch của người nông dân. Vì thế, Dưới chín tầng trời “ròng ròng sự sống”,
thể hiện sinh động qua những số phận bi kịch - nhưng đó là bi kịch lạc quan. Bởi qua những
số phận biị kịch của mỗi nhân vật, người đọc không thấy yếu hèn đi, mà có niềm tin vào ngày
mai sẽ là “một con đường mới”. Vì vậy, bi kịch chính là hình thức để “tẩy rửa tâm hồn” con
người nên đó là “bi kịch lạc quan”. Hai là, cách tiếp cận lịch sử của nhà văn, tác giả bài viết
khẳng định: Dưới chín tầng trời là “một cuốn tiểu thuyết toàn bích về những góc khuất của
lịch sử”, vì thế tác phẩm “mang đậm chất sử thi tâm lí”, “mở ra với một thời gian dài và một
không gian rộng và tầng tầng lớp lớp nhân vật. Một hình ảnh đời sống trọn vẹn, đa chiều và
một tiểu thuyết cho đến giờ phút này là ấn tượng nhất về cải cách ruộng đất… Tôi nghĩ đối với
xã hội ta, sự xuất hiện những cuốn sách như cuốn này là một cách giải tỏa cho một trong
những chấn thương của xã hội” [7]. Đề cập đến sự tha hóa của người nông dân, Trúc Anh nhận
định: trong cơn giông bão cải cách đã đẩy “một vùng quê đang yên lành, bỗng chốc chìm ngập
trong các cuộc đấu tố, tranh giành, oan khuất, đem tối và đẫm máu”, người nông dân vốn chất
phác, hiền lành như Bối, Đình, Cự thành những kẻ độc ác. Cuối cùng những kẻ gieo rắc tội ác
đối với nhân dân phải nhận kết cục bi thảm: “Đội Cự vào Nam, chiêu hồi, bị đặc công ta giết;
Đội Đình và vợ con đi ăn mày rồi tha hương vào vùng kinh tế mới Lâm Đồng, tiếp tục đeo
đuổi giấc mơ trại Đại Đồng hão huyền; Đội Bối bị vợ con bỏ, bật ra lề hè bơm xe Bi kịch cải
cách ruộng đất ở xã nọ kết thúc có hậu, kèm theo lời giải đáp “đúng hướng” về nguyên nhân đẻ
ra sự xáo trộn làng quê kinh hoàng: Đội Cự có vẻ như do địch cài vào, Đội Bối là đảng viên giả
mạo, còn Đội Đình, đảng viên thật sự, chỉ có mỗi tội lãng mạn không tưởng” [1]. Tác giả truy
tìm “nguyên nhân đẻ ra sự xáo trộn làng quê kinh hoàng…, chỉ có mỗi tội lãng mạn không
tưởng”. Nguyên Ngọc nhấn mạnh: “Không chỉ là sự tha hóa của nông thôn, mà là sự tha hóa
của xã hội, tầm khái quát lớn” [1421]. Về phương thức biểu hiện, Văn Chinh cho rằng tác
phẩm viết có “kĩỹ thuật”, “hiện đại” [1421]. Nguyên Ngọc: “Cách viết hay, độc đáo về cải
cách ruộng đất. Đó là bút pháp mỉa mai, dửng dưng, cười cợt” [1421]. Hà Minh Đức “nhiều
đoạn tả hay” “tư duy hiện đại”, “ngôn ngữ tự nhiên, mộc mạc” [1421]. Văn Giá: “giọng điệu
bao trùm là cười cợt, như không, vui với nó, đùa với nó, cái nhìn humour hài hước: tức là ông
cởi bỏ được mọi thứ ràng buộc, mọi thứ đe nẹt, cởi bỏ luôn trong định kiến của mình và của xã
hội, đạt tới cảnh giới hoàn toàn tự tại, không vướng bận một chút gì. Ngòi bút và sức viết hết
sức phóng túng, thoải mái, nói ra được hết những gì ông chiêm nghiệm về cuộc đời này. Điều
21
đó rất quan trọng. Các nhà văn của ta viết vẫn rón rén, tính toán ghê lắm, riêng Tô Hoài không
còn hãi gì cả, nên ông viết rất vui và rất tưng tửng” [1421]. Nguyên Ngọc: sử dụng bút pháp
“hư cấu. Đó là bút pháp hiện đại, mỉa mai, dửng dưng, cười cợt, tạo nên sức mạnh của văn
học” [1421].
1.2.2. Nhận định, đánh giá về những hạn chế
Nêu bật hạn chế, các nhà phê bình, lý luận văn học không có ý hạ thấp tác phẩm, tên
tuổi nhà văn, mà nhằm mục đích đóng góp ý kiến chân thành để hầu mong gương mặt tiểu
tác giả vẫn chưa làm cho người đọc thấy day dứt, đau đớn” [38;tr.12]. Hồng Diệu cũng chỉ
ra nhược điểm về kết cấu: “Đọc tới chỗ bà Son chết, giá mà tác giả chỉ làm thêm chút vĩ
thanh giống như cái điếu văn cho lũ ma sống thì vừa. Diễn giải thêm bao nhiêu, nhạt bấy
nhiêu” [138;tr.15]. Cùng quan điểm, Thanh Phước cho rằng: cấu trúc chính là “cái dở nhất
của tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma”. Thiếu Mai chỉ ra “đôi điều đáng tiếc”:
“Trong lúc dồn tâm lực cho bài binh bố trận sao cho diễn biến câu chuyện dẫu gay go phức
tạp vẫn thông suốt đâu ra đấy, không bị rối tung rối mù, dường như tác giả đã mảãi say sưa
theo câu chuyện mà có phần xao nhãng, nói đúng hơn là chưa quan tâm đúng mức đến
nhân vật của mình…, không được nhà văn khai thác đến đầu đến cuối” [138]. Văn Chinh
cũng đã chỉ ra nhược điểm của hai tiểu thuyết này: “Bây giờ đọc lại bộc lộ ra những khiếm
khuyết, ở đây là sự thiếu thiết chế khiến đoạn cuối bị tãi ra, ở kia thì còn lổn nhổn những dễ
dãi, tạo nên những cú “vấp” rải rác trên đường tác phẩm đi vào lòng người” [21]. Về Ba
người khác, Phan Thị Thanh Nhàn nhận định: “Trong Ba người khác có đến ba nhân vật
đều dâm ô cả, như thế thì nặng quá, liều lượng như thế thì hơi quá” [142]. Hà Minh Đức
cho rằng: “Cái kết hơi gò, hơi dang dở, không thể nói Tô Hoài nên tìm kết khác, nhưng
theo tôi so với tổng thể thì phần kết chưa được ưng ý. Cuốn Ba người khác nhiều điểm rất
hay nhưng nhiều điểm trình độ tôi chưa tiếp thu được, có khi phải vài năm nữa” [142]. Về
Dòng sông Mía, Lý Hoài Thu có cái nhìn khá toàn diện về mặt nội dung và nghệ thuật,
đồng thời cũng chỉ ra những khuyết điểm: “Do mải miết đi tìm sự độc đáo khác biệt, cuốn
sách có nhiều chi tiết, hình ảnh xa lạ, thiên về nét dị hình, dị biệt, nhất là đối với nhân vật
Lẹp và bên cạnh Lẹp là cô Bê lớn - – vợ Lẹp…”, vì vậy người đọc “kinh hoàng khi đối
diện với nhân vật Lẹp và luôn đặt câu hỏi: “Tại sao hắn lại tập trung quá nhiều cái xấu xa,
thấp hèn và độc ác đến như vậy” [201;tr.232]. Về điểm nhìn trần thuật, tác giả bài viết cho
rằng: “Chính bởi một mình tác giả (trong vai nhân vật trung gian “thuật sự”) ôm đồm tất cả
mọi biến cố của tác phẩm nên đôi khi ông phải nói thay nhân vật, đôi chỗ chuyển đoạn còn
quá mộc” [201;tr.234].
* *
*
Các nhà nghiên cứu, phê bình văn học đi trước đã khẳng định đề tài nông thôn có
chiều dài lịch sử, trong đó tiểu thuyết viết về nông thôn có những đóng góp nhất định trong
nông dân nghèo trong cảnh sưu cao thuế nặng, bị bóc lột trắng trợn, dã man của chế độ
phong kiến (tiểu thuyết hiện thực phê phán: (Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam
Cao), tiểu thuyết viết viết về nông thôn đã chuyển sang thời kỳ mới -– đó là thời kỳ
sáng tác theo khuynh hướng sử thi. Tư duy sử thi đã ngự trị, chi phối gần bốn mươi
năm trong dòng chảy của tiểu thuyết viết viết về nông thôn (1945 - 1985). Đề tài nông
thôn nằm trong đề tài kháng chiến, vì thế nó thực sự là thứ vũ khí sắc bén, đắc lực trên
con đường đấu tranh, dựng xây đất nước, là một nhiệm vụ thiêng liêng không thể chối
cãi. Đây là “đề tài sinh tử” và “đề tài cao đẹp nhất”. Chúng ta từng ghi nhận sức mạnh to
lớn của tiểu thuyết viết viết về nông thôn bởi sức mạnh động viên khiến một thời bao
thế hệ nông dân từ những miền quê một lòng quyết tâm, hăng hái ra trận đã in dấu trong
những trang văn đầy nhiệt huyết của Nguyễn Văn Bổng (Con trâu), Nguyễn Đình Thi
(Vỡ bờ), Nguyễn Khải (Xung đột)… Vì vậyThế nên, chủ âm nổi lên là cảm hứng ngợi
ca gắn bó với kiểu tư duy sử thi ngự trị gần như tuyệt đối thời kỳ này. Tư duy ấy đã chi
phối đến hầu hết các phương diện nghệ thuật như chủ đề, hình tượng, xây dựng tính
cách nhân vật, ngôn ngữ, kết cấu, không gian và– thời gian nghệ thuật……
25