Tổng quan tài liệu về tiếp cận dịch vụ phòng chống HIV/AIDS và các bệnh /nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục đối với nam có quan hệ tình dục đồng giới tại Việt Nam - Pdf 12

4 Tạp chí Y tế Công cộng, 2.2012, Số 23 (23)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tổng quan tài liệu về
tiếp cận dòch vụ phòng chống HIV/AIDS và
các bệnh/ nhiễm trùng lây truyền qua đường
tình dục đối với nam có quan hệ tình dục
đồng giới tại Việt Nam
Mai Xuân Thu (*) , Lê Cự Linh (**)
Tỷ lệ hiện mắc HIV trên thế giới và tại Việt Nam đang có chiều hướng gia tăng, đặc biệt ở nhóm nam
có quan hệ tình dục đồng giới (MSM) với những hành vi tình dục không an toàn. Đây cũng là nhóm
bắc cầu làm lây truyền HIV trong cộng đồng dân cư nói chung với những hành vi chéo như quan hệ
tình dục không an toàn với nữ, tiêm chích và sử dụng ma túy hoặc chất kích thích. Cùng với sự gia
tăng tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm này thì tỷ lệ các bệnh/ nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục
như lậu, giang mai, chlamydia ở cơ quan sinh dục và hậu môn cũng tăng một cách đáng báo động.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này được lý giải là do sự thiếu kiến thức về phòng chống HIV/STI/STDs
của nhóm MSM dẫn đến những lầm tưởng, những ngộ nhận về nguy cơ lây nhiễm, khả năng điều trò
cũng như tỷ lệ nhiễm trong cộng đồng nói chung và nhóm MSM nói riêng. Bên cạnh đó, không thể phủ
nhận sự hạn chế trong việc tiếp cận với các dòch vụ tư vấn xét nghiệm HIV/AIDS, khám và điều trò
STI/STDs của nhóm MSM do những rào cản từ sự kỳ thò và phân biệt đối xử của xã hội, tâm lý lo sợ
biết tình trạng HIV, kiến thức bản thân hạn chế, hiểu biết lợi ích của các dòch vụ còn chưa rõ ràng và
tác động của chi phí xét nghiệm điều trò. Từ những thực trạng trên, việc đưa ra những kiến nghò nhằm
tăng cường hiệu quả các can thiệp dành cho nhóm MSM là cần thiết và nên được chú trọng.
Từ khoá: MSM, STDs, HIV/AIDS, đồng giới nam
Literature Review about Access to HIV/AIDS
and Sexually transmitted disease/infection
prevention services among Men who have sex
with Men in Viet Nam
Mai Xuan Thu (*); Le Cu Linh (**)
HIV prevalence in the world and Viet Nam has been on an increasing trend, especially among men who
have sex with men (MSM) due to unsafe sex behaviors. This is a high-risk group that may spread HIV to
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |

gia và các khu vực, nhưng nhiều nơi trên thế giới
hiện vẫn chưa có thông tin chính xác về tỷ lệ này vì
nam giới thường không tự nhận mình là đồng tính
hay lưỡng tính. Những người đàn ông QHTD không
an toàn với đàn ông cũng có thể QHTD không an
toàn với phụ nữ. Bằng cách đó, họ đã trở thành cầu
nối lây truyền vi-rút cho các cộng đồng dân cư [19].
Từ những nhận đònh trên, việc thực hiện tổng
quan tài liệu về tiếp cận dòch vụ phòng chống
HIV/AIDS và các bệnh/ nhiễm trùng lây truyền qua
đường tình dục đối với MSM tại Việt Nam là hết sức
cần thiết. Tổng quan nhằm mô tả tỷ lệ hiện mắc
HIV/STI/STDs cũng như kiến thức của MSM và
khả năng tiếp cận dòch vụ phòng chống
HIV/STI/STDs của MSM. Bên cạnh đó, với phần
bàn luận và khuyến nghò, tổng quan đưa ra một số
ý kiến góp phần nâng cao hiệu quả các chương trình
can thiệp và các nghiên cứu về nhóm MSM.
the community as the result of their risk behaviors such as: performing unsafe sex with both men and
women, injecting and using drugs or stimulants. Furthermore, the prevalent rate of STDs, such as
gonorrhea, syphilis, genital or anal Chlamydia is also on the alarmingly increasing trend. This situation is
explained by the lack of knowledge of MSM about HIV/STIs/STDs, leading to the misconceptions about the
risk of infection, potential treatment and prevention, particularly among MSM. Besides, it is reported that
there are several limitations in accessing HIV/AIDS counseling and testing services, medical examination
and treatment of STIs/STDs among MSM due to barriers of stigma and discrimination in the society, the
psychological anxiety about HIV status, limited knowledge, understanding of benefits of the services, as
well as the costs. From this literature review, recommendations for improving effectiveness of
interventions for MSM should be made and paid attention to.
Key words: MSM, STD, HIV/AIDS, Viet Nam
Tác giả:

Khảo sát năm 2006 có 9,4% MSM tại Hà Nội và
5,3% MSM tại thành phố Hồ Chí Minh nhiễm HIV
[1] [27]. Khi khảo sát trên được thực hiện lại vào
năm 2009 thì tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm
MSM đều trên 10% tại tất cả các thành phố, thay
đổi từ 14% - 20% và tỷ lệ cao nhất tại Hà Nội khi
14% MSM có QHTD nhận tiền và 20% MSM trong
nhóm QHTD không nhận tiền nhiễm HIV [2]. Khi
so sánh hai lần khảo sát thì dễ dàng nhận thấy tỷ lệ
hiện nhiễm tại thời điểm năm 2009 cao hơn trong
tất cả các nhóm MSM so với thời điểm năm 2006
tại các tỉnh thành khác nhau, bất kể MSM có hay
không có hành vi QHTD nhận tiền. Cùng với QHTD
không an toàn, nguy cơ lây truyền HIV còn cao hơn
nữa đối với MSM có tiêm chích ma túy. Tỷ lệ nhiễm
HIV chưa hiệu chỉnh trong số MSM có nghiện chích
là 31%, cao gấp 4 lần so với những MSM không
tiêm chích là 7,3% [8]. Một báo cáo khác đưa ra ước
tính tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM là 4,3% thì
tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM nghiện chích ma
túy là 40% [26]. Với những số liệu trên đây, tình
hình nhiễm HIV trong nhóm MSM đang gia tăng và
ở mức báo động, cần thiết phải có các chương trình
can thiệp để giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm HIV.
2.2. Tỷ lệ hiện mắc bệnh/ nhiễm trùng lây
truyền qua đường tình dục (STI/STDs) của
MSM tại Việt Nam
Tại Việt Nam có rất ít số liệu về tỷ lệ nhiễm
STI/STDs ở MSM nhưng các nghiên cứu gần đây
đều cho thấy tỷ lệ nhiễm cao ở

các khu vực thì có sự thay đổi trái ngược khi Hà Nội
có sự giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm STI ở cả nhóm
QHTD nhận tiền và QHTD không nhận tiền. Tuy
vậy, cũng cần chú ý rằng những tỷ lệ trên có thể có
những sai số nhất đònh, chỉ mang tính ước lượng cho
quần thể, trên thực tế thì tỷ lệ MSM nhiễm STI có
thể cao hơn rất nhiều.
3. Kiến thức và khả năng tiếp cận dòch vụ
phòng chống HIV/STI/STDs của MSM tại
Việt Nam
3.1. Kiến thức về HIV/STI/STDs của MSM
Mặc dù MSM có kiến thức về lây truyền HIV
và STI/STDs nhưng MSM vẫn còn có quan niệm sai
lầm về nguy cơ cá nhân, điều trò HIV và tỷ lệ nhiễm
trong số MSM [14]. Theo khảo sát thì có 67% MSM
có kiến thức về con đường lây nhiễm HIV. Mức độ
hiểu biết về cơ chế lây nhiễm được phản ánh qua
các câu hỏi cho thấy MSM có kiến thức khá tốt song
vẫn cần có sự nâng cao hiểu biết nhiều và sâu hơn
cho họ [18]. Nhiều MSM tin tưởng rằng mình không
có nguy cơ lây nhiễm HIV và STI/STDs. Một số
MSM khác có cảm nhận hoàn toàn sai về sự an toàn
vì cho rằng nam QHTD đồng giới không làm lây
nhiễm HIV [19]. Tại thành phố Hồ Chí Minh chỉ có
khoảng một nửa MSM biết rằng một người trông có
vẻ khỏe mạnh vẫn có khả năng lây truyền HIV hoặc
chưa có cách nào chữa khỏi AIDS, một phần ba
MSM tin rằng MSM tại Việt Nam có nguy
cơ nhiễm HIV [20]. MSM không nhận thức
rõ nguy cơ một phần là do các thông tin về

STI/STDs trong khi STI/STDs có khả năng làm tăng
sự lây truyền HIV. Điều này được giải thích do việc
hạn chế trong tiếp cận với các thông tin cần thiết về
HIV và STI/STDs [26]. Do đó đặt ra lưu ý đối với
các chương trình can thiệp tại Việt Nam cần tập
trung nhiều đến STI/STDs cho MSM bên cạnh
truyền thông phòng chống HIV.
3.2. Khả năng tiếp cận dòch vụ phòng chống
HIV/STI/STDs của MSM
Mặc dù MSM là đối tượng có nguy cơ lây nhiễm
HIV và STI/STDs cao nhưng họ lại không mong
muốn nhận dòch vụ tư vấn xét nghiệm HIV (XN
HIV) cũng như khám và điều trò STI/STDs. Theo
báo cáo châu Á thì năm 2010, Việt Nam có 41%
MSM chưa từng làm XN HIV bằng với tỷ lệ chung
Biểu đồ 2. Tỷ lệ mắc STI/STDs của MSM tại Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh (2006)
8 Tạp chí Y tế Công cộng, 2.2012, Số 23 (23)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
của MSM châu Á; 33% MSM đã từng làm XN HIV
trong 6 tháng trước đó, cao hơn tỷ lệ của châu Á là
26% [10]. Theo một nghiên cứu khác thì có gần một
nửa số người được hỏi đã đi XN HIV (49%). Nhóm
tuổi càng cao càng có tỷ lệ đã từng đi XN HIV cao
hơn. Tuy việc XN HIV không có quan hệ đáng kể
với các yếu tố khác như học vấn, thu nhập cá nhân
nhưng những MSM xuất thân từ gia đình khá giả lại
có tỷ lệ XN HIV thấp hơn những MSM xuất thân từ
gia đình có kinh tế trung bình hay gia đình nghèo và
người sống cùng gia đình cũng có tỷ lệ XN HIV

MSM tự kỳ thò bản thân và sợ sự kỳ thò của CBYT
cũng như sợ bò cộng đồng phát hiện ra đặc tính tình
dục của mình, nỗi sợ này càng gia tăng trong nhóm
bóng lộ (BL) hơn là nhóm bóng kín (BK). Nhiều
MSM cũng không chuẩn bò tâm lý đầy đủ để đối
diện với thực tế trong trường hợp họ nhận được kết
quả HIV dương tính. Điều này càng nghiêm trọng
hơn đối với những MSM mại dâm vì điều đó đồng
nghóa với việc họ không thể tiếp tục hành nghề.
Một điều quan trọng là MSM không tin mình có
nguy cơ lây nhiễm và hiểu biết về dòch vụ VCT còn
hạn chế. Một số MSM không thể đến khám và điều
trò tại các dòch vụ VCT và STI vì không đủ khả
năng chi trả các chi phí. Do đó, việc phát triển mô
hình phòng khám thân thiện với MSM hỗ trợ các
dòch vụ VCT và hệ thống MSM đồng đẳng như đã
triển khai tại thành phố Hồ Chí Minh là cần thiết
[27]. Đây cũng là một hướng đi mới cần được nhân
rộng để tăng cường sự tiếp cận của MSM đối với
các dòch vụ VCT.
4. Bàn luận
Việc thực hiện các chương trình dự phòng lây
nhiễm HIV trong nhóm MSM là vô cùng quan
trọng. Tuy nhiên trên thực tế, đây lại là nhóm
thường không lộ diện, bò kỳ thò, thiếu hiểu biết hoặc
không có đầy đủ thông tin. Ở một số nơi, nhiều cá
nhân và tổ chức không sẵn lòng làm việc với MSM.
Do đó, nguyên tắc quan trọng cần chú ý là tất cả các
can thiệp dành cho đối tượng MSM cần tôn trọng
tính đa dạng của cộng đồng MSM và huy động sự

hội; mở rộng mạng lưới giáo dục đồng đẳng và dòch
vụ cộng đồng cho các MSM nguy cơ cao để phát
triển kỹ năng thương lượng dùng BCS; triển khai
nghiêm túc chính sách quốc gia quy đònh về việc
cần có BCS ở những cơ sở dòch vụ giải trí. Không
những chỉ khuyến khích sử dụng BCS mà các
chương trình can thiệp cũng cần chú ý đến việc
nâng cao hiểu biết và khả năng tiếp cận với chất
bôi trơn tan trong nước để tăng cường sử dụng trong
nhóm MSM thông qua kích cầu và tăng tính sẵn có
của chất bôi trơn tan trong nước; tăng cường tiếp
cận với chất bôi trơn tan trong nước tại các điểm
bán lẻ phi truyền thống; tăng cường sự thuận tiện
trong việc sử dụng chất bôi trơn tan trong nước qua
việc điều chỉnh cách đóng gói.
Cùng với những hoạt động đó, việc khuyến
khích xét nghiệm tự nguyện và mở rộng tiếp cận
điều trò cho MSM bằng các dòch vụ chăm sóc sức
khỏe tình dục thân thiện với MSM với việc tăng
cường năng lực của cán bộ cung cấp dòch vụ VCT
và STI/STDs để những dòch vò họ cung cấp trở nên
thân thiện hơn; nâng cao chất lượng và sự thuận
tiện của các dòch vụ VCT/STI/STDs cũng là một
trong những hoạt động cần thiết để xác đònh và
kiểm soát tỷ lệ hiện mắc HIV/STI/STDs ở nhóm
MSM hiệu quả hơn.
Nhưng điều quan trọng để thực hiện các can
thiệp một cách hiệu quả và thành công là cộng đồng,
đặc biệt là người lập chính sách, người cung cấp dòch
vụ công, giới truyền thông đại chúng và gia đình của

đồng giới và nguy cơ lây nhiễm HIV tại khu vực nông thôn
tỉnh Khánh Hòa - Việt Nam, in Giới, Tình dục và Sức khỏe
tình dục. 2006, Nhà xuất bản Thế giới: Hà Nội.
8. Trường Đại học Y Hà Nội and S. Trường Đại học New
South Wales, Autralia, HIV/AIDS và các Trung tâm Giáo
dục Lao động Xã hội ở Việt Nam: Nhu cầu, sự lựa chọn và
chăm sóc về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục của học
viên Trung tâm giáo dục lao động xã hội cùng bạn tình của
họ. 2009.
9. Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội, Tìm hiểu và giảm kỳ
thò liên quan đến nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới và
HIV. 2010, Hà Nội.
10. Vũ, N.B. and P. Girault, Đối mặt với sự thật: Tình dục
đồng giới nam (MSM) và HIV/AIDS ở Việt Nam, in Giới,
Tình dục và Sức khỏe tình dục. 2005, Nhà xuất bản Thế giới:
Hà Nội.
11. Vũ, M.L.v.n.n.c., Tình dục đồng giới nam tại Việt Nam
- sự kỳ thò và hệ quả xã hội. 2009, SHAPC, Ford
Foundation.: Hà Nội.
10 Tạp chí Y tế Công cộng, 2.2012, Số 23 (23)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
12. Winder, R., HIV và nam giới có quan hệ tình dục đồng
giới ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. 2006.
Tiếng Anh
13. Beyrer, C., HIV/AIDS epidemics among men who have
sex with men (MSM) in Africa, Asia, Latin America and the
Caribbean, and the CIS. 2008.
14. Colby, D., HIV Knowledge and Risk Factors among Men
who have Sex with Men in Ho Chi Minh City, Vietnam.
2003.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status