Tài liệu về kỹ thuật trồng, đặc điểm sinh lý và phân bố của cây Giổi Ăn Quả - Pdf 20

GIỔI ĂN QUẢ

Michelia tonkinensis A. Chev., 1918

Tên khác:Giổi, giổi ngọt, giổi lúa
Họ: Mộc lan - Magnoliaceae Hình thái

Cây gỗ lớn, thường xanh, cao 25-35 m,
đường kính 40-60 cm hay trên 1 m; tán nhỏ, màu
xanh đậm. Thân tròn thẳng, gốc có bạnh vè nhỏ;
vỏ nhẵn, màu xám hoặc nâu nhạt, có nhiều vết
địa y hình bản; thịt vàng hay xanh nhạt, giòn, có
mùi thơm nhẹ. Phân cành cao, cành mọc chếch,
cành con nhẵn, có nhiều vết sẹo do vòng lá kèm
để lại và có nhiều lỗ vỏ rải rác.

Lá đơn, mọc cách, xếp đều trên cành; phiến
lá dai, cứng, dài 8-25 cm, rộng 5-12 cm, hình bầu
dục hẹp, đầu có mũi nhọn ngắn, gốc lá tròn hoặc
hình nêm, mặt trên màu lục đậm xanh bóng, mặt
dưới lục nhạt. Gân bên 10-12 đôi nổi rõ; cuống lá
dài 1-2 cm, không có vết sẹo; phiến lá và cuống
lá nhẵn. Lá kèm nhọn, sớm rụng để lại vết sẹo
trên cành non.

Hoa đơn độc mọc ở đầu cành hay đối diện
với chỗ đính của cuống lá; cuống hoa dài 2,5-3,5
cm; bao hoa nhiều, mọc vòng, chưa phân hoá


Đặc điểm sinh học

Giổi phân bố khá phổ biến trong các khu rừng á nhiệt
đới thường xanh ở độ cao 700-1.500 m. Chúng thường
mọc trên các sườn phía đông và đông nam của các núi
đất, trên các loại đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất đỏ trên
mác ma, trung tính và bazơ, đất đỏ vàng trên đá biến
chất, đá sét, đất vàng đỏ trên đá mác ma axit, đất vàng
nhạt trên đá cát. Ít gặp giổi trên các đất có nguồn gốc từ
núi đá vôi như ở Na Hang (Tuyên Quang). Lúc nhỏ giổi
ăn quả là cây trung tính, lớn lên là cây ưa sáng, thường
vươn lên chiếm tầng cao nhất của rừng. Tuỳ theo địa
phương phân bố, giổi mọc cùng các loài cây lá rộng khác
nhau như: Dẻ đá, re, trám trắng (Tuyên Quang); gội, rè
sến mật (Nghệ An); giổi xanh, táu mật, vối thuốc, re (Hà
Tĩnh) giổi xanh, xoay, cà na (Kon Hà Nừng - Gia Lai).
Vùng có giổi ăn quả phân bố thường có lượng mưa cao:
1.500-2.500 mm/năm, nhiệt độ trung bình 20-25
0
C; độ
ẩm 85-87%.

Cây trồng 6-10 năm mới ra hoa kết quả; càng về sau quả càng sai. Cây ra hoa 2 vụ một
năm. Vụ chính ra hoa tháng 2-3, quả chín tháng 9-10; mùa phụ ra hoa tháng 7-8, quả chín vào
tháng 3-4. Giổi ăn quả thường ra hoa kết quả hàng năm; nhưng thường có chu kỳ sai quả nhất
định. Cây thường cho khá nhiều quả nhưng cây con tái sinh dưới tán cây mẹ không nhiều. Điều
tra trên ô tiêu chuẩn có đường kính bao quanh gốc cây mẹ 40 m ở Nghĩa Đàn, Nghệ An cho
thấy số cây giổi tái sinh dao động 88-207 cây, tuỳ theo độ tàn che của rừng. Nếu tàn che mở
rộng (0,4-0,5), số cây con tái sinh nhiều nhất: 207 cây; còn độ tàn che lớn (0,6), số cây tái sinh


Hạt và vỏ cây có tác dụng làm thuốc kích thích tiêu hoá, trị đau bụng, ăn không tiêu. Vỏ cây
còn có tác dụng chữa sốt.

Theo phân tích của Nguyễn Xuân Dũng (1997) thì trong tinh dầu từ thịt quả và hạt chứa
safrol 70,2% (thịt quả), 72,9% (hạt) và methyl eugenol 24,2% (thịt quả) và 18,5% (hạt).Tinh dầu
ở thân chủ yếu chứa camphor 23,8%; tinh dầu vỏ thân chứa camphor 15,7%, safrol 14,3%,(α -
caryophyllen 15,6% và elemicin 13,7%.

Kỹ thuật nhân giống, gây trồng

Nhân giống :
Vì giổi mọc rất rải rác, nên đến vụ quả chín phải thu mua hạt giống qua người địa phương.
Các cây giổi trồng thường phải trên 10 tuổi mới ra hoa kết quả. Khi quả nứt là có thể thu hạt.
Hạt thu về phải đãi sạch, ngâm nước lã trong 8-10 giờ và gieo ngay; càng để lâu tỷ lệ nảy mầm
càng giảm. Nếu chưa gieo được ngay hoặc cần di chuyển đi xa phải ủ trong cát ẩm, độ ẩm của
cát khoảng 15-16% và đảo cát thường xuyên, cát ẩm phải tưới thêm nước.

Hạt sau khi ngâm nước thường được ủ trong bao tải, mỗi ngày rửa lại 1 lần, cho đến khi
nứt nanh thì đem gieo vào bầu kích thước 10 x 15 cm. Thành phần ruột bầu 80% đất mặt vườn
+ 20% phân chuồng hoai. Gieo hạt vào giữa bầu, độ sâu lấp đất 0,5-1 cm. Thời vụ gieo tháng
2-3 và 9-10. Thời gian nuôi cây trong vườn 6-8 tháng.

Gieo trồng :
Từ năm 1959, giổi đã được trồng thí nghiệm ở trạm Lâm sinh Đúng, Yên Cát, Thanh Hoá.
Kỹ thuật trồng theo băng, chiều rộng của băng 30 m, chiều rộng băng chừa 15 m; trồng cây con
cao 45 cm. Kết quả sau 4 năm, cây đã có chiều cao 4,5 m và đường kính 9,5 cm. Năm 1980
giổi được trồng ở Lâm trường Nghĩa Đàn, Nghệ An theo băng và theo rạch:

+ Theo băng: Băng trồng rộng 20 m, băng chừa rộng 10 m

Hướng sử dụng tinh dầu từ vỏ, lá và hạt giổi ăn quả cũng là một hướng cần được nghiên
cứu để phát triển.

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) (1994). Một số rau dại ăn được ở Việt Nam. Nxb Quân đội nhân dân Việt Nam - Hà Nội:
115; 2. Nhiều tác giả (2004). Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam. Tập I. Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội:
872-873; 3. Nguyễn Bá Chất (2002). Cây giổi xanh. Báo cáo chuyên đề. Cây Bản địa Việt Nam. Hội thảo: Đánh giá tiềm
năng sử dụng cây bản địa vào trồng rừng ở Việt Nam; 4. Võ Văn Chi (1997). Từ điển cây thuốc Việt Nam. Nxb Y học:
1148. 5. Phạm Hoàng Hộ (1999). Cây cỏ Việt Nam. Tập I. Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh: 241;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status