DẦU RÁI
Dipterocarpus alatus Roxb. ex G.Don, 1831
Tên đồng nghĩa: Dipterocarpus philippiensis Forw., 1911
Tên khác: Dầu con rái, Dầu nước, Dầu sơn, Mậy nhang (Lào)
Họ: Dầu - Dipterocarpaceae
Tên thương phẩm: Gurjul, oleoresin of gurjul Hình thái
Cây gỗ lớn, thân trụ thẳng,
phân cành muộn, cao 40-45m,
đường kinh đạt tới 2m hay hơn.
Vỏ lúc non dày, màu xám trắng;
khi già mỏng, màu xám nâu, nứt
dọc nhẹ. Cành màu nâu đỏ, có
vết vòng lá kèm và có lông màu
xám hay hung đỏ.
Lá đơn mọc cách, mặt trên
màu xanh thẫm, nhẵn bóng, mặt
dưới xanh nhạt có lông mịn,
phiến lá hình bầu dục thuôn,
kích thước 16-25x5-15cm, đầu
nhọn, gốc tù hay hình tim. Ở
cây non lá có lông, sau nhẵn;
gân bên 18-31 đôi, nổi rõ ở mặt
dưới; cuống lá dài 4-8cm,
mảnh; lá kèm bao chồi búp màu
Việt Nam:
Cây phân bố rộng ở các tỉnh từ Thừa Thiên - Huế trở
vào Nam; trên các đảo Phú Quốc (Kiên Giang) và Côn Đảo
(Bà Rịa - Vũng Tàu) cũng có dầu rái mọc. Tập trung nhất ở
các tỉnh Đông Nam Bộ: Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương,
Tây Ninh.
Hiện nay được trồng ở nhiều tỉnh phía Bắc như Hà Nội,
Nghệ An, Thanh Hóa…
Thế giới:
Dầu rái phân bố ở các nước Nam và Đông Nam Á. Các
nước có dầu rái phân bố nhiều là: Lào, Thái Lan, Philippine,
Malaysia, Indonesia.…
Đặc điểm sinh học
Dầu rái ưa khí hậu nhiệt đới điển hình, với các điều kiện:
Nhiệt độ bình quân 25-27
0
C, tổng lượng mưa bình quân
hàng năm 1.500-2.200mm; ẩm độ trung bình năm: 75-85%
và hàng năm có mùa khô kéo dài 4- 6 tháng.
Thường gặp dầu rái ở vùng chuyển tiếp giữa kiểu rừng kín lá rộng thường xanh sang kiểu
rừng khô rụng lá theo mùa. Trong rừng, dầu rái thường mọc cùng các loài cây họ Dầu khác
như: vên vên, sao đen, dầu mít, dầu lá bóng… tạo thành kiểu rừng kín thường xanh ưu thế cây
họ Dầu ở vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Thường gặp dầu rái phân bố ở điều kiện địa
hình tương đối bằng phẳng, trong các thung lũng hoặc ven sông, ven đường đi.
công nghệ in, xảm thuyền và làm đuốc thắp sáng. Gỗ màu nâu hồng, có tỷ trọng 0,62-0,90,
dùng đóng đồ và trong xây dựng nhà cửa.
Theo Đặng Vũ Hỷ (1962), dầu rái đã được cư dân tại một vài địa phương ở miền Nam
dùng bôi lên chân để đề phòng bệnh sán vịt khi phải làm việc nhiều ở dưới nước.
Dầu rái là một cây trồng làm bóng mát rất quan trọng của các tỉnh phía Nam. Nhiều thành
phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Thủ Dầu Một, Buôn Ma Thuật có những
đường phố với 2 hàng cây dầu rái rất đẹp. Từ đầu thế kỷ XX, dầu rái đã được người Pháp
mang ra trồng ở Hà Nội (trong vườn Bách Thảo). Sau này những cây dầu rái trồng ở Miền Bắc,
chủ yếu cũng lấy giống từ các cây đó.
Kỹ thuật nhân giống, gây trồng
Nhân giống:
Hạt giống lấy từ cây mẹ có thân thẳng, tròn đều, chiều cao 15-20m, đường kính thân 30-
40cm, có sức sống khỏe, không sâu bệnh.Thu nhặt quả chín vừa rụng xuống đất; quả và cánh
quả có màu cánh dán. Mỗi kg có khoảng 210-230 quả. Hạt thường mất sức nảy mầm trong
khoảng 10-15 ngày, nên quả thu về nên gieo ngay hoặc cần phải giữ trong cát ẩm.
Trước khi gieo cần ngâm quả vào nước lã trong 6 giờ, cắt cánh và ủ rơm rạ. Gieo trên các
luống đất đã chuẩn bị sẵn và tưới đủ ẩm cho đến khi hạt nứt nanh. Với hạt đã nẩy mầm cần
đem gieo hoặc cấy vào bầu đất ngay (chú ý không để lâu quá 5 ngày sau khi nẩy mầm). Bầu
đất có vỏ bầu bằng nhựa thủng đáy và có đục lỗ quanh thành bầu. Kích thước bầu 8-10x15-
20cm. Ruột bầu là đất tầng mặt dưới rừng có dầu rái phân bố cộng với 10-15% phân chuồng
hoai và 1-2% supe lân, nếu ít phân chuồng có thể bổ sung thêm 0,1-0,5% đạm u rê.
Đặt hạt nằm ngang hoặc nghiêng 45
0
, lấp đất dày 2cm, dùng trấu hoặc vỏ cà phê đốt để
Khai thác, chế biến và bảo quản
Dầu con rái hay “dầu trong” ở Việt Nam được khai thác chủ yếu từ loài dầu rái. Đồng bào ở
các địa phương phía Nam nước ta đã có tập quán khai thác dầu rái từ rất lâu đời. Khi khai
thác, người ta dùng rìu bổ chéo vào thân cây, sâu độ 15-20cm, chiều cao cũng khoảng đó rồi
dùng rìu chặt ngang để tách mảng gỗ ra. Sau khi nhựa chảy ra sẽ làm bít ống dầu. Để cho dầu
tiếp tục chảy phải định kỳ đẽo sâu xuống hoặc đốt lửa để kích thích nhựa chảy ra. Phương
pháp chích nhựa này rất lạc hậu và ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng của cây. Cần cải tiến
phương pháp và kỹ thuật chích nhựa để vừa lấy được nhiều nhựa, vừa có thể duy trì việc chích
nhựa lâu năm trên cây.
Một cây dàu rái trưởng thành đường kính 30-40cm, trung bình cho 6-7kg nhựa/mùa khai
thác. Mùa chích nhựa là mùa khô.
Ở Thái Lan, kỹ thuật khai thác dầu rái như sau:
Thời gian thu hái: Có thể thu hái quanh năm, nhưng trừ mùa mưa và thời kỳ cây rụng lá
(tháng 3-4)
Khu vực khai thác: Do cây dầu rái thường mọc rải rác nên người thu hái phải chọn khu vực
khai thác và đánh dấu các mà cây họ đang và sẽ khai thác. Số cây một người có thể nhận khai
thác từ 50-500 cây.
Chất lượng nhựa: Chất lượng nhựa khai thác được phụ thuộc vào lượng mưa trong khi
khai thác, thời gian khai thác và vào các hố khai thác. Mỗi lần khai thác, có thể thu được
khoảng 10 lít nhựa một cây. Trong mùa mưa chỉ thu 6-9 lít.Trung bình mỗi người có thể khai
thác đến 432 lít nhựa trong một năm.
Kỹ thuật dùng lửa kích thích: Người khai thác dùng rìu đục một hố sâu trên thân cây
khoảng 13cm (vào phần gỗ); vết đục không được sâu đến ruột thân. Nếu cây gỗ có đường kính
Đầu thế kỷ XX, hàng năm các tỉnh phía Nam nước ta đã khai thác khoảng 1.000 tấn nhựa
dầu rái. Sau giải phóng năm 1975, nghề khai thác nhựa dầu rái vẫn tiếp tục. Nhưng một số
năm gần đây, số lượng nhựa giảm rất nhanh; nhiều địa phương không còn cây để khai thác.
Năm 1998 giá thu mua tại rừng khoảng 0,28 USD/lít dầu; nhưng các công ty sau khi loại bỏ
bớt tạp chất đã bán lại giá 1-1,4 USD/lít.
Giá trị kinh tế, khoa học và bảo tồn
Dầu rái là cây LSNG bản địa, đa tác dụng và phổ biến ở Việt Nam. Trong khoảng 15 năm
gần đây rừng dầu rái bị khai thác nhiều, vì vậy cần xây dựng các khu rừng giống để phục hồi và
phát triển lại nguồn tài nguyên quí giá này. Trước hết cần tập trung gieo trồng ở Đông Nam Bộ
và Tây Nguyên. Đồng thời cũng tập trung nghiên cứu các phương pháp khai thác nhựa một
cách hợp lý để có thể vừa sử dụng gỗ, vừa khai thác nhựa.
Tài liệu tham khảo
1. Bùi Đoàn (2002). Dầu nước. Báo cáo chuyên đề- Cây bản địa ở Việt Nam, trang 1-6. Viện Khoa học Lâm
Nghiệp - Hà Nội (Chưa xuất bản); 2. Hoàng Hòe (chủ biên) (1994). Kỹ thuật trồng một số loài cây rừng. Tr. 27-30. Nxb
Nông Nghiệp - Hà Nội; 3. Lã Đình Mỡi (2002). Chi Dầu – Dipterocarpus Gaertn. f. Tài nguyên thực vật có tinh dầu ở
Việt Nam. Tập II. Lã Đình Mỡi (Chủ biên). Tr. 34-57. Nxb Nông nghiệp - Hà Nội; 4. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
(2002). Sử dụng cây bản địa vào trồng rừng ở Việt Nam. Tr. 106-112. Nxb Nông nghiệp - Hà Nội; 5. Anon (2001).
Cultivating Forests: Alternative Forest Management, Practices and Techniques For Community Forestry. Recofftc
Report No.17. 2001. BangKok, Thailand; 6. Forest Inventory and Planning Institute (1996). Vietnam Forest Trees (Vu
Van Dung – Editor). pp. 123. Agricultural Publishing House – Hanoi.