I. SỰ RA ÐỜI CỦA PHONG TRÀO THƠ MỚI
Sau chiến tranh thế giới lần thứ I (1914-1918), ở Việt Nam xuất hiện một giai cấp mới, đó
là giai cấp Tư sản. Chủ nghĩa tư bản đồng thời xâm nhập và thống trị đất nước ta, gây nên
một cuộc xáo trộn lớn chưa hề thấy trong mấy nghìn năm lịch sử Việt Nam. Những giá trị
tư tưởng vững bền từ cuối thế kỷ XIX đã trở thành đối tượng mỉa mai cay đắng trong thơ
Tú Xương. Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đi đôi với chính sách đẩy mạnh khai thác
thuộc địa của thực dân Pháp, làn gió mới Tây Âu cũng tràn vào Việt Nam. Tầng lớp tiểu tư
sản thành thị có điều kiện hình thành sớm hơn sau đợt khai thác kinh tế lần thứ I của thực
dân Pháp.
Giai cấp tư sản và một bộ phận tiểu tư sản lớp trên (trí thức, viên chức cao cấp đã có
một lối sinh hoạt văn minh ở thành thị. Người ta ở nhà lầu đi ô tô, dùng quạt điện, đi hòa
nhạc. Sinh hoạt của tư sản và tiểu tư sản thành thị cũng thể hiện ngay cả trong cách ăn mặc
của thanh niên nam nữ, các cô gái chàng trai, mỗi năm một mốt. Những đổi thay về sinh
hoạt dần tới sự thay đổi về ý nghĩ và cảm xúc. Những thay đổi đó cũng do sự tiếp xúc với
văn học Pháp đặc biệt là văn hóa lãng mạn Pháp.
Chính những đổi mới trong sinh hoạt tư tưởng và sự tiếp xúc với văn học lãng mạn
Pháp đã dần dần đem đến cho thanh niên tiểu tư sản thành thị những năm 30 của thế kỷ
này những tình cảm mới, những rung động mới. Họ yêu đương mơ mộng, vui buồn khác
các nhà thơ xưa. Trong buổi diễn thuyết ở nhà hội Quy Nhơn tháng 6-1934, Lưu Trọng
Lư đã nói :Các cụ ta ưa những màu đỏ chót, ta lại ưa màu xanh nhạt,đứng trước một cô
gái xinh đẹp các cụ xem như là một việc làm tội lỗi, còn đối với ta như đứng trước một
cánh đồng xanh mát mẻ…
Chính vì sự khác nhau sâu xa đó giữa hai thế hệ mà những câu thơ ngâm hoa vịnh
nguyệt sáo mòn và cũ rích trên Nam Phong , Văn học tạp chí, Tiếng dân không còn hợp
với tình cảm mới của họ. Phong trào Thơ mới lãng mạn ra đời năm 1932 chính là để đáp
ứng nhu cầu tình cảm của một tầng lớp thanh niên mới.
Một phong trào văn học ra đời bao giờ cũng phản ánh những đòi hỏi nhất định của
xã hội. Nó là tiếng nói của một tầng lớp người, của một giai cấp vừa mới ra đời, đang lớn
lên hoặc già cỗi trong xã hội. Thơ cũ trong Nam Phong, Văn học tạp chí là tiếng nói của
một tầng lớp phong kiến đã thất bại và đầu hàng đế quốc. Văn học lãng mạn 1932 trở đi là
tiếng nói của tư sản và tiểu tư sản thành thị. Thơ mớichủ yếu là tiếng nói của giai cấp tư
phiền phức, luật lệ ràng buộc, khắc nghiệt không khác luật hình.
Năm 1928 trên báo Trung Bắc Tân Văn, Nguyễn Văn Vĩnh dịch bài thơ của LaFontaine:
Con ve sầu kêu ve ve
Suốt mùa hè
Ðến kì gió bấc thổi
Nguồn cơn thật bối rối…
Ðây là bài thơ dịch theo thể thơ tự do và được người đọc rất hâm mộ. Ðây chính là cơ sở
cho một thể thơ mới ra đời.
Cuộc bút chiến này có hai phe, phe thơ cũ và phe thơ mới.
_ Ý kiến của phe thơ mới:
Phụ nữ Tân Văn số 29, ra ngày 21 tháng 11 năm 1929: … lối thơ Ðường luật bó
buộc người làm thơ phải theo khuôn phép tỉ mỉ, mất cả hứng thú tự do, ý tưởng dồi dào,
nếu ngày nay ta cứ sùng theo lối thơ ấy mãi thì làng văn Nôm ta không có ngày đổi mới
được (Trịnh Ðình Rư)
Ngày 10 tháng 3 năm 1932 phụ nữ Tân Văn số 132 một lối thơ trình chánh giữa
làng thơ. Ðó là bài Tình già của Phan Khôi. Tác giả đem trình làng đứa con tình thần có
trước bạ.
Phan Khôi viết: lâu nay mỗi khi có hứng, tôi toan mở ngâm vịnh thì cái hồn thơ của
tôi lúng túng. Thơ chữ Hán ư? Thì ông Lý, ông Ðỗ, ông Bạch, ông Tô choán trong đầu tôi
rồi. Thơ Nôm ư thì cụ Tiên Ðiền, bà Huyện Thanh Quan đè ngang ngực làm cho tôi thở
không ra. Cái ý nào mình muốn nói lại nói không được, thì đọc đi đọc lại nghe như họ đã
nói rồi. Cái ý nào chưa nói, mình muốn nói ra lại bị những niêm luật bó buộc mà nói
không được. Té ra mình cứ loanh quanh, luẩn quẩn trong lòng bàn tay của họ thật là dễ
ức.
Việc làm của Phan Khôi không vì danh, không vì hiếu sự mà chính vì tình cảnh thúc
bách, ý tưởng duy tân, tìm một mảnh đất mới cho thế hệ trẻ. Phan Khôi kêu lên:Duy tân
đi? Cải lương đi?
Lưu Trọng Lư là người theo chân Phan Khôi. Lưu Trọng lư được kể vào lớp chiến
sĩ xung kích trên mặt trận khẩu chiến và bút chiến.
Thơ thách họa các cụ đồ
Năm 1935 hai ông Tường Vân, Phi Vân cho xuất bản tập thơ cũ Những bông hoa trái mùa
chống lại thơ mới.
Năm 1936 ông Thái Phĩ công kích thơ mới trên báo tin văn Hà Nội.
Năm 1941 ông Huỳnh Thúc Kháng sau nhiều lần bị chỉ trích, nhất quyết khẳng định thơ
mới đến ngày mạt vận.
Suốt những năm 1933-1935, những cuộc khẩu chiến và bút chiến giữa hai phe mới cũ
nhưng khi Thế Lữ xuất hiện như một đòn dứt điểm.
Tản Ðà hình như đặt mình vào vòng, mặc dù bị báo Phong Hóa thỉnh thoảng lôi ra để
châm biếm. Tuy nhiên ngày 30-11 năm 1934 Tản Ðà có viết một bài in trên tiểu thuyết thứ
Bảy, nhan đề Phong trào thơ mới. Ông trình bày với mọi người những bài thơ ông làm
cách đây 20 năm. Ông cũng làm thơ tự do như bài Tống Biệt. Tản Ðà dùng lời lẽ ôn hòa,
cảnh tỉnh lớp người mới, cái mà lớp người sau gọi là mới chính Tản Ðà đã trải qua. Chỉ có
khác ở nội dung.
b. Những nhà thơ tiêu biểu trong thời kì 1932-1935
_ Lưu Trọng Lư:
Lưu Trọng Lư là người diễn thuyết hăng hái nhất bênh vực thơ mới và là người có công
khai sinh ra thơ mới. Bài thơ Ðường đời và Vắng khách thơ là những bài thơ mới của Lưu
Trọng Lư xuất hiện sau bài Tình già của Phan Khôi.
Bài thơ của Lưu Trọng Lư sau này đưa vào tập Tiếng thu đổi tên là Xuân về :
Năm vừa rồi
Chàng cùng tôi
Nơi vùng giác mộ
Trong gian nhà cỏ
Tôi quay tơ
Chàng ngâm thơ
Vườn sau oanh giục giã
Nhìn ra hoa đua nở
Dừng tay tôi kêu chàng…
Này, này! Bạn! Xuân sang
Chàng nhìn xuân mặt hớn hở
cuộc giao tranh giữa thơ mới và thơ cũ. Trên văn đàn, Thế Lữ không bàn về thơ mới,
không bênh vực thơ mới, không bút chiến khẩu chiến. Thế Lữ chỉ lặng lẽ điềm nhiên bước
những bước vững vàng mà trong khoảnh khắc cả hàng ngũ thơ xưa phải tan rã (Thi
phẩmMấy vần thơ).
Ông là người có công trong việc xây dựng nền thơ mới. Phan Khôi, Lưu Trọng Lư chỉ là
người làm cho người ta chú ý đến thơ mới mà thôi, còn Thế Lữ mới chính là người làm
cho người ta tin cậy vào tương lai của thơ mới. Thế Lữ xuất hiện được Hoài Thanh đánh
giá rất cao: Ðộ ấy thơ mới vừa ra đời. Thế Lữ như vầng sao đột hiện ánh sáng chói khắp cả
trời thơ Việt Nam.
Thơ Thế Lữ tiêu biểu cho tiếng nói của cái tôi trong thơ mới thời kì đầu. Nó hăng hái tự
khẳng định, vẫn ít nhiều còn dè dặt, tình yêu còn mức độ, chứ chưa buông tuồng, ích kỉ
trắng trợn như về sau. Thế Lữ nói đúng cái tôi trong thơ mới khi kêu gọi yêu đi, yêu mãi
bạn lòng ơi.
Thơ Thế Lữ thời kì đầu say sưa thoát li hiện thực. Nhưng những sự kiện lớn lao của
lịch sử còn dư vang trong tâm trí. Thơ Thế Lữ có ấp ủ một tinh thần dân tộc, một khát
khao tự do. Thời kì đầu tinh thần dân tộc đó chính là tiếng vọng lại xã xôi của phong trào
(1930-1931).
Thơ Thế Lữ diễn tả nỗi buồn. Thế Lữ đưa vào thơ Việt Nam cái buồn vô cớ, cái
buồn thi vị, lúc đó cái buồn đang là cái mốt. Cái buồn trở thành một thứ trang sức của trí
thức tiểu tư sản. Cái buồn bàn bạc khắp nơi, cả trong giấc mộng, trong cảnh tiên:
Tiếng đưa hiu hắt bên sông
Buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn…
(Tiếng sáo thiên thai)
Thơ mới nói chung là buồn. Cái buồn nhiều khi lẫn lộn với cái bi quan yếu đuối.
Xưa, nay những áng thơ hay trong quá khứ hầu hết là buồn: Thơ Cung oán ngâm khúc,
Chinh phụ ngâm, Truyện Kiều… đều buồn. Những câu ca dao hay nhất là những câu
buồn. Nhà phê bình văn học Bielinxki: cái buồn chính là làm nên sự hấp dẫn của thơ ca…
Bi quan là buồn, nhưng buồn không nhất thiết là bi quan. Cuộc đời có lúc vui, lúc
buồn, trước kia cũng thế và bây giờ cũng thế, chỉ có tỉ lệ thay đổi. Trước sự hi sinh của
đồng bào, đồng chí không thể không buồn. Nếu bi quan thì không tin vào một cái gì, chán
Cả ý lẫn lời đều tha thiết, làm cho người thanh niên ngây ngất.
_ Thời kì này xuất hiện nhà thơ Nguyễn Bính: nhà thơ chân quê
_ Huy Cận: dồn cả cái buồn thời đại vào thơ… (Hoài Thanh)
3. Thời kì 1940- 1942:
_ Do đại chiến thế giới lần hai, xã hội Việt Nam bước vào những năm khủng hoảng
tột độ. Văn học công khai diễn ra hỗn loạn. Cái Tôi trong thơ mới rút đến sợi tơ cuối cùng.
Mỗi nhà thơ thoát li một cách, và càng thoát li lại càng lạc lối. Từ 1940 về sau thơ mới
càng đi xa con đường đấu tranh cách mạng.
_ Thơ mới lắm xu hướng, nhiều màu sắc đều là nhiều hình thức khác nhau
của sự khủng hoảng.
+ Nhóm Dạ Ðài: Vũ Hoàng Chương, Trần Dần, Ðinh Hùng
+ Nhóm Xuân Thu Nhã Tập: một lối thơ khó hiểu (Hũ nút, tắc tị), gồm
các thành viên: nhà thơ Nguyễn Xuân Sách, nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Ðỗ
Cung, Phạm Văn Hạnh, Nguyễn Lương Ngọc, Ðoàn Phú Tứ
+ Xu hướng thoát li siêu thoát triết lí thần bí tiêu biểu là Huy Cận với
Vũ trụ ca, Kinh cầu tự, Chế Lan Viên với Vầng sao
III. NGHỆ THUẬT CỦA PHONG TRÀO THƠ MỚI LÃNG MẠN
1. Kế thừa truyền thống thơ cổ điển:
_ Kế thừa truyền thống thơ Ðường: bằng , trắc, đối ý, đối chữ. Ðặc biệt kế
thừa lối thơ Cổ phong.
_ Thể thơ lục bát được nâng niu. Nhà thơ Huy Cận, Nguyễn Bính mang đến
cho lục bát một khuôn khổ mới
2. Sự cách tân:
_ Cách tân về gieo vần
+ Loại vần liên tiếp:
Sông Hồng ôm ấp nóc nhà tranh
Trên con đường viền trắng mép đồi xanh…
+ Vần ôm nhau:
Lặng lẽ trên đường lá rụng mưa bay.
Như khêu gợi nỗi nhớ nhung thương tiếc