I - Gợi dẫn
1. Tác giả
Mãn Giác thiền sư (1052 – 1096) tên thật là Lí Trường, sống vào thời vua Lí Nhân Tông. Năm 25 tuổi
ông mới xuất gia và trở thành một thiền sư được ngưỡng vọng. Vua Lí thường xuyên hỏi ông về việc
nước. Năm 1096, ông cáo bệnh và làm bài thơ này để báo cho mọi người biết. Cũng năm đó, ông qua đời.
Bài thơ mang nội dung triết lí, đúc kết những trải nghiệm từ chính cuộc đời của nhà thơ, có tính chất như
một bài kệ, vì thế gọi là bài thơ kệ.
2. Tác phẩm
Thơ thiền có một vị trí vô cùng quan trọng trong văn học Lí – Trần. Đây là thời kì thịnh trị của Phật giáo.
Tư tưởng của Phật giáo ảnh hưởng nhiều đến chính sách trị nước của các bậc quân vương. Bài thơ Cáo
tật thị chúng thể hiện những suy ngẫm của nhà sư về cuộc đời. Bài thơ chia làm hai phần : Phần thứ nhất
nói về quy luật sinh tử của tự nhiên, phần thứ hai thể hiện tâm sự lạc quan của tác giả. Bài thơ mang vẻ
đẹp trong sáng nhưng chứa đựng chất triết lí sâu sắc của thơ thiền : vừa thể hiện tình yêu, niềm tin vào
cuộc sống của con người, vừa là sự ngộ giải chân lí Phật giáo của một vị chân tu trước lúc “nhập diệt”.
3. Cách đọc
Bốn câu đầu đọc chậm, giọng trầm thể hiện tính triết lí. Hai câu cuối đổi giọng, đọc sôi nổi hơn, thể hiện
niềm lạc quan của tác giả.
II - Kiến thức cơ bản
Con người không thể thoát khỏi quy luật “sinh, lão, bệnh, tử” của tự nhiên. Phàm đã là con người ai cũng
phải trải qua những giai đoạn đó. Nhà sư Mãn Giác đã một lần nữa khẳng định quy luật tự nhiên ấy qua
Cáo tật thị chúng. Tinh thần nhập thế của Phật giáo cũng được thể hiện rõ ở bài thơ này. Tâm sự của một
nhà sư cũng là tâm trạng chung của tất cả mọi người trước sự xoay vần “đà định sẵn” của tự nhiên.
Mượn hình ảnh hoa nở hoa tàn để nói đến quy luật của thiên nhiên, bài thơ kệ được bắt đầu bằng hai câu
thơ :
Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai.
Miêu tả sự tuần hoàn của tự nhiên nhưng bằng một cách nói hơi trái tự nhiên. Thông thường có hoa nở
mới có hoa tàn nhưng ở đây nhà thơ lại nói đến hình ảnh hoa tàn trước rồi mới nói chuyện hoa nở. Phải
chăng tuổi già (nhà sư viết bài thơ vào năm cuối của cuộc đời) với những dự cảm của người sắp ra đi
thường nghĩ đến chuyện mất mát trước. Tác giả của bài thơ là một nhà sư, và theo quan niệm của đạo
Phật, cuộc đời là những vòng luân hồi nối tiếp nhau, không có sự kết thúc thật sự. Điểm kết của vòng đời
biểu tượng cho sự thanh cao. Không phải là hoa gì khác mà là một cành mai, biểu tượng cho mùa xuân,
mùa của trăm hoa khoe sắc, của muôn cây đâm chồi nảy lộc. Rất có thể, sự xuất hiện đầy bất ngờ của một
cành mai cuối xuân đã khơi nguồn cảm hứng để nhà thơ viết bài thơ kệ này, nhưng cũng có thể nhà thơ
mượn một cành mai trong tưởng tượng để thể hiện tinh thần lạc quan, tin tưởng vào sự bất diệt của cái
đẹp, của sự sống. Theo tình huống nào thì cành mai vẫn là một biểu tượng đẹp cho tinh thần của con
người, con người có ý chí kiên cường, vượt lên sự nghiệt ngã của quy luật tự nhiên.
Hai câu thơ cuối đối lập với bốn câu đầu cả về hình thức và nội dung. Bốn câu thơ đầu khẳng định quy
luật bất biến của cuộc sống – vạn vật có sinh có mất, và không gì cưỡng lại được, nhất là con người. Hai
câu cuối lại khẳng định điều ngược lại – vẫn có một cành mai nở vào độ xuân tàn, hiện hữu hoàn toàn trái
quy luật. Cành mai xuất hiện bất ngờ như sự khẳng định rằng không có gì là bất biến. Và con người, với ý
chí và nghị lực phi thường của mình, vẫn có thể vượt qua được quy luật. “Lão tòng đầu thượng lai” tưởng
đã là điểm kết thúc của một đời người. Nhưng niềm lạc quan, ý chí và cả niềm tin tôn giáo đã giúp nhà sư
thấy được “Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”.
Cáo tật thị chúng là một bài thơ thiền, và vậy tất nhiên có gửi gắm những quan niệm, triết lí Thiền học.
Mãn Giác thiền sư viết bài thơ này khi ông sắp qua đời, vì thế nó thể hiện sự ngộ giải chân lí Phật giáo.
Nhà Phật vẫn tin rằng, con người có thể sẽ chiến thắng được quy luật sinh tử của tự nhiên nếu tu thành
chính quả, nếu chiến thắng được những dục vọng cá nhân và giác ngộ. Là một bài thơ kệ, là tác phẩm ra
đời vào thời kì mà văn học dân tộc chưa có được bề dày thành tựu nghệ thuật, song Cáo tật thị chúng đã
thể hiện một tầm kết tinh nghệ thuật đáng tự hào. Bài thơ chỉ có sáu câu nhưng đã truyền tải được một nội
dung triết lí sâu sắc. Giá trị ấy của thi phẩm được làm nên bởi tài năng sử dụng, lựa chọn ngôn từ, hình
ảnh và sự sắp xếp kết cấu gợi cảm của nhà thơ. Trước hết đó là nghệ thuật sử dụng và sắp xếp từ ngữ, mỗi
từ ngữ đều chứa đựng khả năng biểu hiện ý tứ sâu sắc, “bách hoa lạc” (trăm hoa rụng), “bách hoa khai”
(trăm hoa đua nở), chỉ một từ hoa nhưng là biểu tượng cho vạn vật, là biểu tượng cho mùa xuân đến, mùa
xuân đi. Nghệ thuật đối điệp cũng được phát huy cao độ để tạo nên tính hàm súc cho bài thơ. Mỗi cặp câu
thơ là một cặp đối lập, nó biểu hiện cho quy luật sinh tử song tồn, cho sự trôi đi rất nhanh và vô tình của
thời gian. Bốn câu đầu và hai câu sau là một cặp đối, một bên là quy luật nghiệt ngã tưởng như không gì
chống lại nổi của tự nhiên, một bên là sự xuất hiện bất chấp quy luật “hoa lạc tận” của “nhất chi mai”.
Mùa xuân của thiên nhiên đã trôi qua nhưng mùa xuân và sức sống trong mỗi con người vẫn hiên ngang
và cứng cỏi. Hai câu thơ bảy chữ kết thúc bài thơ tạo nên một thế đứng vững vàng. Đó là thế đứng của
con người đã giác ngộ được chân lí của sự sống : quy luật của tự nhiên là quy luật của vạn vật trong trời