I - Gợi dẫn
1. Thể loại
Truyện cười là một thể loại văn học dân gian xuất hiện từ thời xã hội phân chia giai cấp, rất phát triển và
có sức sống lâu bền. Cho đến nay, kho tàng truyện cười vẫn tiếp tục được bổ sung. Truyện cười thường
có dung lượng ngắn nhưng với ngôn ngữ tinh và sắc, nghệ thuật kể chuyện đầy bất ngờ, truyện cười có
giá trị phê phán rất lớn. Tác giả dân gian thường tạo nên những tình huống đối lập nhau, rất dễ nhận ra để
gây cười và để phê phán những thói hư tật xấu trong cuộc sống.
2. Tác phẩm
Tam đại con gà là một truyện cười dân gian phê phán thói giấu dốt. Tác giả đã tạo nên một tình huống
gây cười rất độc đáo : Một anh học dốt nhưng đi đâu cũng lên mặt “văn hay chữ tốt”, đã thế còn cả gan đi
dạy học. Nhận ra cái dốt, luôn giấu dốt, nhưng anh ta lại có tài chống chế. Và chính sự chống chế của một
kẻ ngốc là chi tiết gây cười.
Truyện cười thường có giá trị phê phán rất lâu dài. Câu chuyện này cũng vậy. Xã hội đã hiện đại, nhưng
không phải đã hết những kẻ giấu dốt và thích khoe mẽ. Vì thế, câu chuyện có ý nghĩa nhân sinh rất sâu
sắc.
3. Tóm tắt
Xưa có anh học trò dốt nát nhưng cứ lên mặt văn hay chữ tốt. Có hôm đang dạy học trò, gặp chữ không
biết, anh nói liều rồi bảo học trò đọc khẽ. Sau xin được đài âm dương, anh mới bảo trẻ đọc to. Người nhà
thấy anh dạy chữ “kê” sai liền thắc mắc, anh tìm kế chối quanh: “tôi dạy cháu thế là để nó biết tận tam đại
con gà kia”!
4. Cách đọc và kể
Chú ý nhấn giọng ở câu “Dủ dỉ là con dù dì”. Lần thứ nhất đọc nhanh (vẻ còn e dè), các lần sau đọc chậm
hơn bình thường (vẻ tự tin).
II - Kiến thức cơ bản
Cái dốt, lại là cái dốt của học trò thì đáng chê mà không đáng cười ; còn dốt mà cố làm ra giỏi, sĩ diện
hão, giấu dốt mới là cái đáng cười. Đối tượng của tiếng cười trong truyện Tam đại con gà chính là cái dốt
và thói sĩ diện hão, giấu dốt vẫn thường thấy trong đời sống.
Nghệ thuật xây dựng mâu thuẫn gây cười trong truyện Tam đại con gà thể hiện ở sự phát triển của mâu
thuẫn gây cười : thầy dạy chữ, gặp chữ kê, nghĩa là “gà”, thầy mù tịt, học trò hỏi gấp, thầy cuống lên nói
liều : “Dủ dỉ là con dù dì”. Cái láu cá ở đây là “Thầy cũng khôn, sợ nhỡ sai, người nào biết thì xấu hổ,
mới bảo học trò đọc khẽ”.
khác nhau, ba nhân vật kia đều là phương tiện và điều kiện cần thiết để cho nhân vật chính bộc lộ cái
đáng cười của nó.
Còn một điều đáng chú ý nói thêm là ở đây dường như tác giả có dụng ý tạo ra sự khác nhau, thậm chí đối
lập nhau giữa hai nhân vật phụ là ông thổ công và người chủ nhà. Người chủ nhà thì giỏi chữ và truy vấn,
phản bác thầy đồ đến cùng ; còn ông thổ công lại dốt chữ và đồng tình, chấp nhận cái dốt của thầy đồ. Sự
trái ngược đó giữa hai nhân vật là rất cần thiết đối với cốt truyện. Nhân vật “thổ công” tuy chỉ được nói
đến và thể hiện qua việc xin đài âm dương của thầy đồ nhưng vai trò và tác dụng rất đáng chú ý. Có thể
coi đây là một nhân vật “lưỡng tính”, vừa có tính chất đối tượng, vừa có tính chất phương tiện của tiếng
cười phê phán. Loại nhân vật “lưỡng tính” này cũng có trong một số truyện cười dân gian khác (Ví dụ em
bé tối dạ trong truyện Lạy cụ Đề ạ, người lính hầu trong truyện Cái tăm quan huyện, người đầy tớ trong
truyện Đầy tớ thanh minh cho chủ…).
(Hoàng Tiến Tựu, Bình giảng truyện dân gian, NXB Giáo dục, 2001)