Ai đã từng đến Thuận Thành – miền quê bên kia sông Đuống – một vùng đất vốn có lịch sử lâu đời và hội
đủ những truyền thống, bản sắc văn hóa của nền văn hiến Kinh Bắc. Đến Thuận Thành du khách sẽ được
thưởng thức những làn điệu quan họ mượt mà, đằm thắm, những điệu chèo êm ả trên sông, đắm say cùng
với nghệ thuật múa rối nước ở Đồng Ngư. Dòng tranh dân gian Đông Hồ nổi tiếng còn mãi với thời
gian… Trong muôn vàn di tích lịch sử chúng ta không thể nhắc đến một nghệ thuật kiến trúc đồ sộ, có giá
trị tinh thần về đời sống tâm linh của con người. Chùa Bút Tháp là một đại diện tiêu biểu cho ý nghĩa ấy.
Cách Hà Nội khoảng 30km chúng ta đang đi trên lộ trình đến xã Đình Tổ. Kìa ngã tư Dâu kia rồi, phía
trước là chùa Dâu, nhưng theo ý kiến đông của du khách chúng ta sẽ đi thăm chùa Bút Tháp trước. Xe đã
đỗ trước cổng chùa, xin mời tất cả du khách xuống xe rồi chúng ta cùng vào vãn cảnh. Ồ, một cổng chùa
được trổ khắc rất tinh xảo hiện ra trước mắt du khách và tôi – một hướng dẫn viên du lịch. Với nhiệm vụ
của mình, tôi tự hào giới thiệu cho du khách biết: “Chúng ta đang đứng tại làng Bút Tháp, xã Đình Tổ,
huyện Thuận Thành và trước mặt quý khách đây chính là ngôi chùa có tên trùng với tên làng tức “Chùa
Bút Tháp”. Nó còn có tên chữ Hán là “Ninh Phúc tự” được khắc trên cổng chùa”. Vào sâu trong khuôn
viên chùa du khách ai nấy đều nhạc nhiên bởi cảnh sắc đẹp lạ thường như chốn “bồng lai tiên cảnh”. Phía
trước tiền đường là một ao sen tỏa hương thơm, dịu mát, thanh thoát của nhà Phật. Cây cối xung quanh
chùa uy nghiêm lạ thường. “Chùa Bút Tháp là một ngôi chùa cổ nằm ven bờ nam sông Đuống, tương
truyền, chùa được khởi dựng vào đời Trần Nhân Tông (1258 – 1278). Lúc đầu, chỉ là một ngôi chùa nhỏ,
đến thế kỷ XVII chùa đã trở nên nổi tiếng do nhà sự Hòa thượng Chuyết Chuyết trụ trì”. Như quý khách
đã biết tôi vừa giới thiệu về nguồn gốc của chùa. “Tại sao Hòa thượng Chuyết Chuyết trụ trì mà chùa lại
trở nên nổi tiếng; cô có thể giải thích cho tôi được không?”. Đó là câu hỏi của một vị khách nước ngoài
nói tiếng Việt vẫn còn sõi. “Thưa ông, câu hỏi của ông thật là thú vị, có thể mọi người ở đây cũng chưa
biết hết, tôi xin nói để mọi người cùng nghe: Trước đây, đời sống nhân dân rất khổ cực, cơm ăn không no,
áo mặc không đủ, chính Hòa thượng Chuyết Chuyết đã thấu hiểu nỗi khổ của nhân dân, ông đã quyên
góp, giúp đỡ những người dân nghèo. Vì vậy đức hạnh của Hòa thượng đã được nhiều người biết đến. Và
tất cả nhân dân đều rất kính trọng Hòa thượng. Bởi vậy năm 1644, Hòa thượng mất đi – đó là một sự mất
mát lớn đối với nhân dân, tuy nhiên ông là người có đức hạnh cao nên được vua Lê phong là: “Minh Việt
Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư”. Tiếp đấy người trụ trì chùa này là thiền sư Minh Hạnh, một học
trò xuất sắc của Hòa thượng Chuyết Chuyết”. Mời quý khách vào tiếp trong này chúng ta cùng thăm
quan. “Năm 1646, Hoàng thái hậu Diệu Viên (Trịnh Thị Ngọc Chúc) đã rời bỏ cung thất về đây tu hành.
Thấy chùa bị hư nát nhiều bà cùng con gái là công chúa Lê Thị Ngọc Duyên xin phép chúa Trịnh Tráng,
rồi bỏ tiền của, ruộng lộc ra công đức, cùng với nhà sư trụ trì là Minh Hạnh trùng tu lại. Đến năm 1647
Phật ở thế kỷ XVII.
Mời quý khách sang bên này, đây chính là pho tượng mà các vị muốn xem. Nó có tên là Phật Bà Quan
Âm nghìn mắt nghìn tay hay tên chữ Hán là “Thiên thủ thiên nhỡn”. Pho tượng chính là hiện thân của thế
giới nhà Phật, đồng thời thể hiện thế giới tâm linh của con người chúng ta thời xưa cũng như ngày nay
phải không các bạn? “Vậy, cô ơi cho tôi hỏi pho tượng này do ai khắc mà khéo léo tài tình thế, trước đây
tôi đã từng được xem rất nhiều pho tượng nhưng chưa cái nào độc đáo giống cái này”. “Quý khách thật có
con mắt thẩm mĩ biết nhìn nhận nghệ thuật đấy. Pho tượng này do nghệ nhân Trương Tiên Sinh Phụng –
một người có tay nghề cao trong làng nghề trạm khắc thời bấy giờ tức năm Bính Thân (1656), là một kiệt
tác vào loại độc nhất vô nhị trong các di sản văn hóa điêu khắc cổ xưa ở đất nước Việt Nam chúng tôi.
Tôi cũng giới thiệu thêm để quý khách cùng biết về đời sống tâm linh của người dân đất nước tôi thời ấy:
Nhân dân Việt Nam rất coi trọng đôi bàn tay và đôi con mắt và có quan niệm rằng: “Giàu hai con mắt,
quý hai bàn tay”. Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn, là cánh cửa quan trọng nhất để đón nhận tri thức, còn
đôi bàn tay là công cụ lao động giúp con người sống tốt hơn. Vì vậy nghệ nhân Trương Tiên Sinh đã rất
khéo léo và sáng tạo khi khắc pho tượng này. Chỗ độc đáo, sáng tạo ở đây chính là nghìn mắt kết hợp với
nghìn tay. “Xin hỏi có quý khách nào ở đây biết nghìn mắt ở đâu không ạ?”. “Tôi mạn phép xin nói –
Một bà nước ngoài trông có vẻ rất quý phái – Tôi đã từng được nhìn thấy pho tượng này trên tivi, nếu tôi
nhớ không nhầm thì trên mỗi đầu ngón tay là một con mắt có phải không cô?”. Xin cảm ơn bà, rất chính
xác đấy ạ! Các vị hãy để ý mà xem, vừa nói tôi vừa chỉ vào đầu ngón tay của pho tượng. “Đây chính là
con mắt, vì nó rất nhỏ nên quý khách không nhìn thấy, và tất cả các ngón tay của Phật đều có một con
mắt”. Theo quan niệm của nhà Phật trí tuệ và công cụ kết hợp với nhau sẽ làm nên tất cả. Điều đó là một
triết lý đúng đắn và xác thực của nhà Phật về cuộc sống thời bấy giờ.
Ngoài ra, trong chùa còn nhiều đồ thờ tự khác được chạm khắc trang trí hoa văn sơn son, thếp vàng lộng
lẫy đã thể hiện tư tưởng tình cảm và óc thẩm mĩ, bàn tay tài khéo sáng tạo của những người thợ nghệ sĩ
dân gian xưa.
Trải qua nhiều thế kỷ, ngôi chùa đã được trùng tu, tôn tạo nhiều lần, lần gần đây nhất vào năm 1993 với
sự giúp đỡ tài trợ của Nhà nước Cộng hòa Liên bang Đức, toàn bộ chùa Bút Tháp đã được trùng tu đẹp đẽ
và hoàn thành vào năm 1995. Di tích chùa Bút Tháp được Nhà nước công nhận và xếp hạng di tích lịch
sử văn hóa và kiến trúc nghệ thuật năm 1962.
Như vậy, tôi vừa giới thiệu và cùng du khách thăm quan vãn cảnh chùa Bút Tháp, bây giờ xin mọi người
cho biết cảm xúc của mình về cảnh chùa Bút Tháp. Xin mời bà: “Tôi rất thích phong cảnh ở chùa Bút