Trọng tâm thi tốt nghiệp môn văn lớp 12 năm học 2012-2014 - Pdf 12

NHỮNG KIẾN THỨC CHƯA RA THI TN TỪ 2009 ĐẾN 2011 CẦN CHÚ Ý
A. CÂU 2 ĐIỂM
Câu 1: Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ 1945-1975?
Văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1975 có ba đặc điểm:
a. Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hoá, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất
nước.Biểu hiện :
- Khuynh hướng, tư tưởng chủ đạo của văn học là tư tưởng cách mạng .
- Đề tài chủ yếu của văn học là Tổ quốc và Chủ nghĩa xã hội. Văn học gắn bó và phản ánh những chặng đường
cách mạng của dân tộc.
b. Nền văn học hướng về đại chúng. Biểu hiện :
- Đối tượng phản ánh và phục vụ của văn học là quần chúng nhân dân,xây dựng được hình tượng các tầng lớp
nhân dân,quan tâm đến đời sống nhân dân.
- Văn học có nội dung ngắn gọn, chủ đề rõ ràng, hình thức trong sáng, dễ hiểu.
c. Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.Biểu hiện :
- Văn học đề cập những vấn đề có ý nghĩa lịch sử và tính dân tộc.
- Nhân vật tiêu biểu cho phẩm chất cộng đồng
- Lời văn trang trọng, hào hùng.
- Văn học thể hiện và khơi dậy niềm vui, niềm tin cho nhân dân trước những khó khăn, thử thách của đất nước.
- Khuynh hướng sử thi kết hợp với cảm hứng lãng mạn:
Câu 2. Trình bày ngắn gọn quan điểm sáng tác văn học của Hồ Chí Minh ?

Quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh gồm ba điểm chính:
- Hồ Chí Minh coi văn nghệ là một hoạt động tinh thần phong phú, phục vụ có hiệu quả cho hoạt động cách
mạng; nhà văn cũng phải ở giữa cuộc đời, góp phần vào nhiệm vụ đấu tranh và phát triển xã hội.
- Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng đối tượng thưởng thức văn nghệ. Văn chương cách mạng phải hướng về
quần chúng nhân dân để phục vụ.
- Hồ Chí Minh luôn đề cao tính chân thật của văn chương; hình thức biểu hiện của tác phẩm phải trong
sáng,hấp dẫn, tránh lối viết cầu kì, xa lạ; tác phẩm văn chương phải thể hiện được tinh thần của dân tộc, của
nhân dân.
Câu 3: Trình bày ngắn gọn phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh ?
Phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh độc đáo, đa dạng thể hiện qua ba thể loại :

+Hồn thơ Tố Hữu hướng tới cái ta chung với lẽ sống lớn, tình cảm lớn,niềm vui lớn của con người cách
mạng.Cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu là cái tôi chiến sĩ,nhân danh cách mạng, nhân danh cộng đồng dân tộc
+Thơ Tố Hữu mang đậm tính sử thi, coi những sự kiện chính trị lớn của đất nước là đối tượng thể hiện
chủ yếu,luôn đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa lịch sử và có tính chất toàn dân.Cảm hứng chủ đạo là cảm
hứng lịch sử-dân tộc, là vấn đề vận mệnh cộng đồng, nhân vật trữ tình mang phẩm chất tiêu biểu cho dân tộc.
+Những vấn đề chính trị trọng đại của dân tộc được Tố Hữu thể hiện qua giọng thơ tâm tình,đằm thắm,là
lời ca ngọt ngào tha thiết.
-Nghệ thuật biểu hiện trong thơ Tố Hữu mang tính dân tộc rất đậm đà:
+Sử dụng sáng tạo các thể thơ truyền thống của dân tộc: thể thơ lục bát, thể thơ thất ngôn
+Sử dụng những từ ngữ và cách nói quen thuộc của dân tộc, phát huy cao độ tính nhạc phong phú của
tiếng Việt.
Tóm lại: Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình chính trị, thơ Tố Hữu gắn liền với khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng
mạn, thơ Tố Hữu có giọng điệu tâm tình ngọt ngào, tha thiết của quê hương xứ Huế,thơ Tố Hữu đậm đà bản sắc
dân tộc.
Câu 7: Nêu những nét chính về nội dung và nghệ thuật bài thơ Việt Bắc?
-Nội dung : Tình cảm đôn hậu của con người Việt Bắc và sự ân tình thuỷ chung của người cán bộ kháng
chiến trong cuộc chia tay. Qua đó, tác giả đã khắc hoạ đậm nét hình ảnh Việt Bắc tươi đẹp, cuộc sống chiến đấu
trong kháng chiến vô cùng gian khổ nhưng cũng bất khuất, anh hùng và chiến thắng.
-Nghệ thuật : Giọng thơ trữ tình ngọt ngào của thể lục bát, hình ảnh thơ trong sáng mang đậm màu sắc
địa phương, ngôn ngữ giản dị nhưng linh hoạt uyển chuyển, kết cấu đối đáp đậm nét ca dao trong một hoàn
cảnh chia tay đặc biệt đầy sáng tạo….khiến cho bài thơ đậm đà tính dân tộc.
Câu 8. Nêu những nét chính về nội dung và nghệ thuật đoạn trích "Đất nước"?
-Nội dung : Thể hiện những nhận thức, khám phá mới mẻ về Đất Nước của tuổi trẻ thành thị miền Nam
trong thời chống Mỹ. Trên nền văn hoá dân gian vững chắc, tác giả đã hướng sự tìm tòi, suy ngẫm tới nhiều
bình diện như lịch sử, địa lý, phong tục,…để làm nổi bật tư tưởng Đất Nước của Nhân Dân và gợi ý thức trách
nhiệm của mỗi người trước vận mệnh của Đất Nước.
-Nghệ thuật : tất cả các kiến thức, tư liệu, sự kiện phong phú được đưa vào không chỉ để tác động vào lí
trí, làm bừng sáng nhận thức mà còn lay thức tình cảm của người đọc, của mỗi người Việt nam chủ yếu nhờ vào
sự thẩm thấu qua tâm hồn cảm xúc của Nguyễn Khoa Điềm. Từ đó nhà thơ đã tìm được một cách nói riêng
giọng điệu tâm tình.

khơi nguồn từ hình ảnh này.
+ Ý nghĩa tả thực : Nhà văn nói về cây xà nu- một loài cây sống thành rừng ở Tây Nguyên.Loài cây này
có sức sống mãnh liệt, không chịu khuất phục trước sự thay đổi của thời tiết.Cây xà nu luôn gắn bó mật thiết và
quan hệ chiếu ứng với cuộc sống của người dân Tây Nguyên.
+ Ý nghĩa biểu tượng: Qua sức sống mãnh liệt của cây xà nu, rừng xà nu, nhà văn nói đến nỗi đau và sức
sống , phẩm chất kiên cường bất khuất của nhân dân Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Câu 13 . Câu văn mở đầu được lặp lại ở cuối tác phẩm Rừng xà nu được viết như thế nào ? Hình ảnh cánh rừng
xà nu đầu và cuối tác phẩm gợi cho anh (chị) ấn tượng gì?
a. Câu văn mở đầu được lặp lại ở cuối tác phẩm Rừng xà nu được viết : đứng trên đồi xà nu ấy trông ra
xa đến hết tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời .
b.Hình ảnh cánh rừng xà nu đầu và cuối tác phẩm : gợi ra cảnh rừng xà nu hùng tráng, kiêu dũng và bất
diệt, gợi ra sự bất diệt, kiêu dũng và hùng tráng của con người Tây Nguyên nói riêng và con người Việt Nam
nói chung trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước vĩ đại. ấn tượng đọng lại trong kí ức người đọc mãi mãi
chính là cái bát ngát của cánh rừng xà nu kiêu dũng đó.
Câu 14: Hãy cho biết màn kết vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” diễn ra như thế nào? Ý nghĩa của
màn kết vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”?
Trả lời :
- Kết thúc vở kịch, Trương Ba Chết, nhưng hồn ông vẫn còn đó “giữa màu xanh cây vườn, Trương Ba chập
chờn xuất hiện”, và ông đã nói với vợ mình những lời tâm huyết, hàm chứa ý nghĩa “ Tôi đây bà ạ.T ôi ở liền
ngay bên bà đây, ngay trên bậc cửa nhà ta…Không phải mượn thân ai cả, tôi vẫn ở đây, trong vườn cây nhà ta,
trong những điều tốt lành của cuộc đời, trong mỗi trái cây cái Gái nâng niu…”.
- Những lời nói của Trương Ba , phải chăng đó là sự bất tử của linh hồn trong sự sống, trong lòng người.Điều
đó thêm tô đậm nhân cách cao thượng của Trương Ba và khắc sâu thêm tư tưởng nhân văn cao cả của tác
phẩm.
Câu 15. Ý nghĩa nhan đề Hồn Trương Ba da hàng thịt ?
Nhan đề hồn Trương Ba da hàng thịt là một hình tượng nghệ thuật, phản ánh một hiện thực cuộc sống con
người khi bị rơi vào nghịch cảnh, phải sống giả tạo bên ngoài một đằng, bên trong một nẻo, không được sống
đích thực là chính mình. Nhan đề còn gửi gắm một ý nghĩa sâu sắc: Đó là sự cảnh tỉnh con người khi không làm
chủ được hoàn cảnh, không làm chủ được bản thân để lối sống dung tục tầm thường lấn át lối sống thanh cao

của cuộc sống xã hội, gây nên một căn bệnh tinh thần khá nguy hiểm: bệnh vô cảm, một căn bệnh có nguy cơ
lan rộng làm băng hoại đạo đức truyền thống của dân tộc, làm ô nhiễm môi trường tốt đẹp của xã hội mới.
Thân bài
1. Thế nào là bệnh vô cảm?
"Bệnh vô cảm" là căn bệnh tâm hồn của những người có trái tim lạnh giá, không xúc động, sống ích kỷ,
lạnh lùng, cho sự an toàn của bản thân mình là trên hết. Họ thờ ơ, làm ngơ trước những điều xấu xa, hoặc nỗi
bất hạnh, không may của những người sống xung quanh mình.
2. Những biểu hiện của bệnh vô cảm.
Bệnh vô cảm có những biểu hiện thật, đa dạng, muôn màu muôn vẻ: vô cảm đối với cuộc sống, xã hội; vô
cảm đối với đồng loại, gia đình, người thân, bạn bè, thậm chí vô cảm đối với chính bản thân mình.
Đi đường gặp những người bị tai nạn, gãy tay, gãy chân hoặc nằm bất tỉnh, những kẻ vô cảm chẳng có
phản ứng nào mà chỉ biết dửng dưng chứng kiến với thái độ "Thờ ơ con mắt lạnh. Nhìn chúng có hề chi!" (Tố
Hữu). Lên xe ô tô, thấy kẻ gian móc túi hoặc bọn côn đồ hành hung hành khách, họ cũng chỉ lờ đi xem như đấy
không phải chuyện của mình. Sống trong cơ quan trường học, chứng kiến bao chuyện ngang trái như cấp trên
nhận hối lộ, thầy giáo ngang nhiên bạo hành học sinh, còn học sinh thì quay cóp gian lận trong thi cử, họ cũng
không mở miệng mà ngoảnh mặt làm ngơ. Hoặc trông thấy hiện tượng những tên Xuân Tóc Đỏ thời nay
"nghênh ngang" "nhâng nháo trâng tráo, xỏ xiên, bịp bợm" họ vẫn im lặng, không mảy may lên tiếng.
Sự vô cảm là một căn bệnh đang có chiều hướng lan rộng trong xã hội ta, nó đang len lỏi khắp mọi nơi.
Nó không chỉ diễn ra ngoài xã hội mà còn xâm nhập vào trong các gia đình, những người thân ruột thịt. Tôi đã
chứng kiên cảnh có nhà cha mẹ bị ốm nặng nằm liệt giường mà con cái không đoái hoài gì đến, trái lại cứ điềm
nhiên "thưởng thức" hết trò vui này đến trò vui khác trên ti vi.
3. Bình luận mở rộng: Hậu quả của bệnh vô cảm.
Căn bệnh vô cảm sẽ gây nên hậu quả thật khủng khiếp cho xã hội, cộng đồng, đất nước. Nó biến con
người thành kẻ vô trách nhiệm, vô lương tâm và vô văn hóa, thậm chí là kẻ tội đồ. Có thể nói đó là căn bệnh của
những kẻ " cháy nhà hàng xóm bằng chân như vại". Nó sẽ làm cho một người cán bộ, người công dân trong xã
hội ta trở nên xa rời quần chúng, thiếu trách nhiệm trong công việc. Cũng vì vô cảm mà nhiều bác sĩ đã để cho
nhiều bệnh nhân cần phải cấp cứu mà phải nằm chờ hàng nửa tiếng đồng hồ nên đã dẫn đến hậu quả bệnh nhân
bị chết một cách oan khuất. Cũng vì vô cảm mà nhiều thầy giáo không hề quan tâm đến hoàn cảnh éo le của học
sinh, mà cứ mắng mỏ quát nạt các em dẫn đến hậu quả nhiều em bị bệnh trầm cảm, thậm chí là nhảy lầu tự tử.
Căn bệnh vô cảm là căn bệnh của những người sẵn sàng quay lưng lại với những nỗi đau khổ, bất hạnh

hội, đất nước. “Nhất nghệ tinh nhất thân vinh”. Học nghề nghiệp tinh thông sẽ có năng suất lao động cao, giải
quyết công việc dễ dàng, thuận lợi. Do xác định rõ mục tiêu “Học để làm“ nên mọi người sẽ cố gắng “học đi đôi
với hành”. Học nghiêm túc, chu đáo, kỹ càng đề làm việc được tốt. Sinh viên Y khoa có học giỏi thì khi trở
thành bác sĩ mới có thể chữa bệnh, cứu người, học dốt có khi lại làm hại người “tiền mất tật mang”.
3. Học để có kỹ năng sống, không để “chết vì dốt”
“Học để chung sống” là học để có kỹ năng sống, dễ dàng thích nghi với mọi môi trường, hoàn cảnh sống,
hòa thuận, hòa nhập với cộng đồng, với mọi người xung quanh. Người có học, có hiểu biết thường sống có lý,
có tình, tính cách, đức hạnh thu phục lòng người, thường được mọi người yêu quý, kính trọng.
4. Học để có phẩm chất đạo đức con người.
“Học để làm người” là học để có phẩm chất đạo đức, có chuyên môn nghề nghiệp cao, thành công trong
cuộc sống, nhờ học vấn mà người ta sống tự tin, tự trọng, hiểu đời, hiểu người, có nhân cách, có cá tính và
thành đạt. Học để trưởng thành, và được anh em, bè bạn, đồng nghiệp tôn trọng, chính là “học để làm người”
5. Học tập là quyền lợi, và nghĩa vụ của mỗi người.
Mục đích học tập mà UNESCO nêu trên cho chúng ta thông điệp rằng học tập là quyền lợi và nghĩa vụ
của mỗi người. Ai cũng phải học, học cho tốt để làm người, phục vụ cho bản thân và cho gia đình , xã hội.
Từ mục đích học tập như vậy mà UNESCO đưa ra phương châm “Học tập suốt đời”. Để biết, để làm, để
chung sống và để tự khẳng định mình, người ta phải học tập suốt đời. Xã hội ngày nay đã phát triển đến mức có
các phương tiện thích hợp để mọi người học tập suốt đời.
Xác định mục đích học tập đúng đắn là điều rất quan trọng để chứng mình ta cố gắng vượt mọi khó khăn,
chăm học và học giỏi. Nhiều bạn trẻ chưa xác định được động cơ học tập nên lười học, trốn học, quay cóp và
thiếu trung thực trong học tập, học tập miễn cưỡng, đi học cho cha mẹ Học mà không có niềm vui thì làm
sao mà học tốt được.
6. Học đi đôi với hành
Phương pháp học tập tốt và phù hợp là rất quan trọng. “Học đi đôi với hành”, tăng cường tự học để “học
tập suốt đời”, học mọi lúc mọi nơi, chú ý quan sát thực tế cuộc sống, liên hệ, suy nghĩ, sáng kiến, sáng tạo trong
khi kết hợp học với hành để có kết quả học tập tốt và thành công trong cuộc sống.
Để đạt mục tiêu”Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để làm người”, chúng ta phải học một
cách sáng tạo. Học một cách thực chất và biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống. Học để có kỹ
năng lao động cao, có kết quả việc làm tốt. Kết quả học tập phải cao, được xã hội công nhận (đạt danh hiệu học
sinh giỏi, học sinh đậu thủ khoa trong các kỳ thi). Người đã đi làm thì nhờ học vấn cao mà thể hiện được năng

phải trải qua trong quá trình học tập, rèn luyện và tu dưỡng.
- "Hoa quả ngọt ngào" hình tượng dùng để chỉ kết quả thu được sau quá trình học tập, nghiên cứu vất vả.
Đó có thể là những giải thưởng danh giá, là vinh quang trong một cuộc thi, là những đóng góp lớn lao cho kho
tàng tri thức nhân loại, là sự tôn vinh của xã hội hay đơn giản hơn, là một cuộc sống ổn định, sung túc về vật
chất và lành mạnh, phong phú về tinh thần.
=> Câu ngạn ngữ nói về đặc điểm của quá trình học tập, đó là một quá trình lâu dài và người học phải trải
qua nhiều gian khổ, thử thách nhưng nếu thành công, nếu vượt qua tất cả thử thách ấy, ta sẽ được đền đáp xứng
đáng.
2. Chứng minh, bình luận
- Học vấn là cả một quá trình, không phải là chuyện một sớm một chiều bởi lẽ kho tri thức của nhân loại
là mênh mông vô tận. Trên con đường chinh phục tri thức ấy có vô vàn khó khăn ngăn đường cản lối. Dẫn
chứng: biết bao nhiêu trẻ em vì gia đình khó khăn mà không thể đến trường, hay những bạn nhỏ vùng sâu, vùng
xa để được học cái chữ phải chèo đèo, lội suối, phải đi bộ hàng chục cây số,
- Để vượt qua những khó khăn thử thách ấy, mỗi người phải có ý chí, nghị lực, sự kiên trì và lòng quyết
tâm thậm chí cả niềm đam mê, khát vọng nữa. Nhà văn M.Gorki đã có một tuổi thơ cay đắng, phải sớm vật lộn
với cuộc sống để mưu sinh trên khắp nẻo đường nước Nga. Nhưng cậu bé Gorki gày gò, nghèo khổ ấy lại có
lòng đam mê đọc sách. Có lần, cậu kiếm được một chiếc rương với nhiều cuốn sách rất hay nhưng vì phải làm
việc kiếm sống nên ông chỉ có thể tranh thủ đọc vào buổi tối. Mà nhà nghèo, không có tiền để thắp đèn điện,
ông đã phải đánh bóng chiếc sanh đồng để phản chiếu ánh trăng, lấy ánh sáng đọc sách. Ở nước ta, từ xưa đến
nay, cũng không thiếu những tấm gương hiếu học biết vượt qua những khó khăn, thử thách để vươn tới ánh
sáng tri thức, giành được thành công trong sự nghiệp và hạnh phúc trong cuộc sống. Anh học trò nghèo vì
không có tiền ăn học nên đã phải chờ đến khi hết bữa ăn, mới sang nhà hàng xóm mượn nồi cơm mong vét
được chút cháy ăn đỡ đói lòng để tiếp tục dùi mài kinh sử. Đó là câu chuyện về ông Trạng Nồi nổi tiếng được
truyền tụng trong dân gian. Thời hiện đại, ta gặp bao tấm gương về ý chí và nghị lực vượt lên khó khăn trong
học tập và cuộc sống. Hiệp sĩ công nghệ thông tin Nguyễn Công Hùng, thầy giáo Nguyễn Ngọc Kí và ngời
sáng tấm gương khắc phục hoàn cảnh để học tập, tiếp thu tri thức tiên tiến của thời đại chính là Chủ tịch Hồ Chí
Minh.
- Bên cạnh những tấm gương biết đối mặt và vượt lên những "chùm rễ đắng cay" để vươn lên chiếm lĩnh
đỉnh cao tri thức, xây dựng một cuộc sống hạnh phúc cho bản thân và có ý nghĩa cho cộng đồng thì còn biết bao
kẻ lười biếng, thụ động, không hề quan tâm tới việc học tập. Biết bao bạn trẻ đang phí phạm thời gian quý giá

“Mẹ ra cái lẽ ở đời
Sữa nuôi phần xác,hát nuôi phần hồn”
(Nguyễn Duy)
Mẹ ta chẳng quản một nắng hai sương, tần tảo như “Con cò lặn lội bờ sông”, chịu bao gian nan vất vả
chăm sóc ta khi trái gió trở trời và dành dụm chắt chiu nuôi ta khôn lớn, cho ta ăn học nên người. Nghĩ về mẹ,
lúc ở xa,
Nguyễn Duy viết:
“Nhìn về quê mẹ xa xăm
Lòng ta vạt ướt mẹ nằm đêm mưa”
Đọc những câu thơ như thế, tôi cứ thấy cay cay nơi sống mũi. Gia cảnh đói nghèo, vách đất, tranh thưa,
đêm mưa nhà dột, mẹ dành tất cả chỗ ướt cho mình và dành chỗ khô cho con. Ôi! Thật cảm động đến rơi nước
mắt.
Còn cha ta, cũng như mẹ, cho ta tình thương yêu và dạy ta điều hay, điều phải, uốn nắn cho ta, khơi dậy
trong ta những ước mơ, khát vọng cao đẹp để ta bước thẳng hai chân kiêu hãnh làm người. Đúng là công ơn cha
mẹ, tổ tiên bao la như núi rừng, mênh mông như biển cả.
2.Công ơn của các bậc tiền bối, liệt sĩ
Còn công lao của các bậc tiền bối, liệt sĩ thì sao? Ở nước ta, con đường đến với bến bờ độc lập, tự do của
dân tộc không phải là con đường rợp bóng mát hạnh phúc và niềm vui, mà là con đường đầy gian khổ hi sinh:
“Đâu phải đường xanh, đường qua máu chảy
Năm mươi năm, máu đỏ thành hoa
Cuộc sinh nở nào mà đau đớn vậy
Rất tự hào mà xót tận trong da”
(Tố Hữu)
Đúng là phải bao máu thấm trong lòng đất, mới “ánh hồng lên sắc tự hào”. Để có được lá cờ đỏ sao vàng
tuy bay suốt từ Bắc chí Nam trong ngày hội 19- 8- 1945; để có được lá cờ đỏ chiến thắng kiêu hãnh bay trên
nóc hầm Đờ Cát ở Điện Biên và để có được ngày 30- 4 lịch sử, thành phố Hồ Chí Minh “ngập tràn nắng đẹp” và
“lộng lẫy cờ hoa”, đã có biết bao chiến sĩ cách mạng, chiến sĩ bộ đội, những người cộng sản đã phải đổ máu, rơi
đầu trong các nhà tù, trên các máy chém, ngoài bãi bắn, trên các trận địa nóng bỏng đạn bom. Đúng là “Mỗi
thây rơi là một nhịp cầu; cho ta bước tới cõi đời cao rộng”. Công ơn của tổ tiên, của các liệt sĩ thật là lớn lao, ân
nghĩa của các bậc tiền bối thật là vô hạn.

dễ dàng, có thể logic và sáng tạo, để đạt tới kết quả cao. Có nhà khoa học đã viết : “Một con ngựa đi chậm
nhưng lại đúng đường thì sẽ tới đích, nếu con ngựa đi nhanh nhưng sai đường thì càng đi càng xa đích”. Hành
mà không đi đôi với học thường có kết quả thấp hoặc thất bại. Học không hành thì chỉ nắm lý thuyết suông,
không thể nắm bắt ý nghĩa sâu sắc của nó với thực tiễn.
2. Lợi ích của việc “ Học đi đôi với hành”
Học đi đôi với hành là rất cần thiết và quan trọng với tất cả mọi người. Song, thực tế nước ta, nguyên lý
này đang bị coi nhẹ. Đó là một trong những nguyên nhân làm cho chất lượng giáo dục, đào tạo ở nước ta chưa
cao, chưa đạt tới sự kỳ vọng của xã hội.
Nguyên nhân khách quan là nước ta còn nghèo, chưa mua sắm được nhiều dụng cụ học tập và phòng thí
nghiệm cho các môn học. Nguyên nhân chủ quan là chúng ta chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa to lớn của nguyên
lý học đi đôi với hành để có biện pháp khắc phục.
3. Xác định mục đích học tập đúng đắn là điều kiện thực hiện học đi đôi với hành.
Để thực hiện nguyên lý học đi đôi với hành, mỗi người phải xác định cho mình mục đích học tập đúng
đắn.
UNESCO (Tổ chức Văn hóa Khoa học Giáo dục thuộc Liên hợp quốc) đã đề xướng “ Học để biết, học để
làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”. Học trở thành nhu cầu tự thân và chúng ta sẽ tìm mọi
cách, mọi biện pháp, mọi cơ hội để vận dụng vào cuộc sống.
Với động cơ, mục đích học tập đúng đắn, chúng ta mới có thể say mê học tập, nghiêm túc, chăm chỉ để
tiếp thu đầy đủ nội dung, làm bài tập để củng cố, mở rộng bài học. Trên cơ sở nắm chắc bài học, chúng ta sẽ có
điều kiện vận dụng vào thực tiễn. Trồng một cây, chúng ta cũng phải biết cách đào hố nông sâu như thế nào, lấy
loại đất nào và phân bón gì cho vào hố, cho cây trồng vào hố và dặm đất thật chặt xung quanh rễ cây ra sao,
tưới nước nhiều ít sao cho phù hợp với từng loại cây. Học đi đôi với hành sẽ soi sáng cho ta nhiều điều cụ thể
và sinh động.
Học không chỉ ở trường lớp mà cả tự học, học bạn, học người thân, học đồng môn, đồng nghiệp. Hành
không chỉ ở trong phòng thí nghiệm mà phải vận dụng vào cuộc sống hàng ngày, trong ăn ở, đi lại, giao tiếp và
làm việc. Có nhiều cơ hội trong cuộc sống mà ta có thể vận dụng , để hành, những điều học được.
4. Liên hệ bản thân
“ Học đi đôi với hành” vừa là nguyên lý giáo dục vừa là phương pháp học tập hiệu quả. Bản thân em sẽ cố
gắng vận dụng thường xuyên “Học đi đôi với hành” , “Học tập suốt đời” và suốt đời thực hiện “Học đi đôi với
hành”

1. Giải thích nội dung bài thơ
- Việc khó là việc khi làm đòi hỏi nhiều công sức, tâm trí và nghị lực mới làm được. Tuy nhiên sự quyết
định của thành bại không phải là ở bản thân công việc dễ hay "khó" , mà là ở chính tinh thần con người. Việc gì
cũng có thể làm được miễn là có sự kiên trì, ý chí quyết tâm, nghĩa là "bền lòng".
- Khi đã "bền lòng", "quyết chí" , thì dù công việc khó đến mấy cũng có thể hoàn thành, để làm nên "sự
nghiệp lớn".
Bác đã dùng thủ pháp cường điệu và hình ảnh tượng trưng "đào núi và lấp biển" để chỉ những công việc
lớn lao dường như nằm ngoài sức lực và khả năng của con người. Nhưng dù là công việc "đào núi" và "lấp
biển" khó khăn lớn lao đến đâu đi nữa, nếu con người "quyết chí" , bền bỉ dồn mọi sức lực, trí tuệ quyết làm
bằng được, bất chấp mọi khó khăn chủ quan và khách quan "thắng không kiêu, bại không nản" thì cũng hoàn
thành, cũng "ắt làm nên".
2. Chứng minh bằng dẫn chứng thực tế
- Lịch sử nhân loại và đất nước ta đã có biết bao câu chuyện, bao tấm gương nêu cao sức mạnh phi thường
của lòng kiên trì, nghị lực và lòng quyết tâm của con người trong cuộc sống. Từ câu chuyện Ngu Công dời núi
đến câu chuyện "Mài sắt nên kim".
- Thế hệ cha anh đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách giữ vững nền độc lập, tự chủ cho đất nước: tấm
gương anh hùng Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, Trần Bình Trọng đến Võ Thị Sáu, Mạc Thị Bưởi, Lý Tự
Trọng, Nguyễn Văn Trỗi trong sự nghiệp cứu nước vẻ vang. Bác Hồ không chỉ răn dạy thanh niên về sự bền
lòng, vững chí mà Người còn là một tấm gương sáng ngời về sự "kiên trì" "nhẫn nại" và "quyết chí" .
- Trong sự nghiệp xây dựng đất nước, cuộc sống hoà bình hôm nay, noi theo tấm gương Bác Hồ, nối tiếp
các đàn anh lớp trước, hàng ngày hàng giờ, thế hệ mới của chúng ta đã xuất hiện biết bao tấm gương đẹp về
lòng kiên trì, chí lớn đã làm nên "sự nghiệp lớn". Đó là bác sĩ Nguyễn Tài Thu, người đã đưa nền y học châm
cứu Việt Nam thành một thương hiệu nổi tiếng trên thế giới. Đó còn là vận động viên wushu Thuý Hiền, vận
động viên nhảy cao Bùi Thị Nhung, vận động viên cử tạ Hoàng Anh Tuấn đã giành được Huy Chương Vàng thể
thao Segame để cho lá cờ đỏ sao vàng của Tổ quốc Việt Nam kiêu hãnh tung bay trên đấu trường Đông Nam
Á. Và đây là tấm gương "kiên trì", "quyết chí", "bền lòng" , vượt qua số phận hiểm nghèo của mình để làm nên
sự nghiệp phi thường như là "đào núi" và "lấp biển" vậy. Đấy là anh Bạch Đình Vinh được chương trình ti vi
"Người đương thời" hết lời ca ngợi: vì một tai nạn giao thông, anh Vinh bị bại liệt toàn thân, bị chấn thương
nặng nội tạng, khuôn mặt bị biến dạng và mất luôn cả tiếng nói. Thế nhưng với một ý chí, nghị lực phi thường,
anh đã không gục ngã, mà đứng lên viết tiếp trang cổ tích của cuộc đời mình: sinh viên ba trường Đại học: Giao

Tự học là cần thiết cho mọi người vì kiến thức mà loài người tích lũy lại là rộng lớn, mênh mông, vô tận.
Học ở nhà chỉ cung cấp một phần, tuy rất cơ bản và quan trọng nhưng không đủ. Thời gian học ở trường tuy khá
dài nhưng có giới hạn. Thời gian tự học là không có giới hạn, kéo dài trong suốt cả cuộc đời chúng ta. Tri thức
mà tự học đưa lại giúp chúng ta hoàn thiện kỹ năng sống và lao động sản xuất, nhờ đó, cuộc sống của ta có
nhiều thuận lợi, làm việc cho năng suất lao động cao, công tác tiến tới, thành công trong sự nghiệp.

2. Lợi ích của việc tự học.
Tự học đưa lại lợi ích to lớn và thành công cho người ham học, ham tự học và có phương pháp tự học phù
hợp.
Theo hoàn cảnh cụ thể, mỗi người có thể sắp xếp thời gian, lên kế hoạch tự học. Có thể học ngoại ngữ trên
truyền hình, học chuyên môn qua mạng internet, đọc sách nâng cao, chuyên sâu. Nhiều bạn học sinh ở nông
thông, vùng sâu, vùng xa, nhờ có tự học ( Không có điều kiện tham gia luyện thị, ôn thi ở trường lớp) mà thi tốt
nghiệp phổ thông, thi vào đại học đạt điểm cao, nhiều bạn đạt thủ khoa. Khi đi làm, chúng ta sẽ có rất ít thời
gian và điều kiện để đi học tập trung theo trường lớp mà chủ yếu là tự học. Ngày nay, một bác sĩ, kỹ sư, thầy
gióa mà hàng ngày không
đọc được vài chục trang sách bao chuyên môn thì sẽ đối mặt với nguy cơ tụt hậu. Khi đó, không chỉ cơ
hội thăng tiến trong nghề nghiệp sẽ kém đi mà công việc sẽ lúng túng, khó khăn, kết quả sẽ không cao.
Tự học có nhiều lợi ích như vậy, nên chúng ta phải luôn luôn có ý thức tự học. Tùy theo hoàn cảnh, trình
độ mà chúng ta lựa chọn tri thức và phương pháp tiếp nhận phù hợp, tạo hứng thú trong học tập, rèn luyện khả
năng khám phá và tư duy sáng tạo. Nhờ thấy kết quả và lợi ích mà tự học mang lại, chúng ta sẽ thấy hứng thú
và đam mê tự học.
3. Tự học như thế nào cho tốt?
Xã hội càng phát triển, càng hiện đại thì công cụ, phương tiện cho tự học ngày càng nhiều. Đặc biệt, điện
thoại di động và mạng internet càng phổ biến thì chúng ta có điều kiện để tự học và tiếp cận với trình độ chuyên
môn, chuyên sâu của thế giới. Tự học nhờ đó có thể đưa lại cho người học trình độ chuyên môn cao. Tự học
nhờ có nhiều công cụ hiện đại mà cho ta nhiều hứng thú, đam mê.
Con người trong xã hội hiện đại ngày nay là phải học tập suốt đời và suốt đời phải tự học.
Ý thức được sự cần thiết và ích lợi của tự học, bản thân em sẽ luôn cố gắng để tự học, khắc phục mọi hoàn
cảnh dù khó khăn đến đâu cũng phải học và tự học.
4. Bác Hồ là tấm gương sáng về tự học.

3. Làm thế nào để có lối sống giản dị ?
Lối sống giản dị là nét đẹp trong đạo đức, tác phong, thực chất con người nhưng không phải tự nhiên mà
có được. Con người phải thường trực ý thức và rèn luyện, biểu hiện trong cuộc sống hàng ngày thì mới tạo lập
được lối sống giản dị.
Xuất phát từ nhận thức biết quý trọng lao động, quý trọng những gì mà lao động cần cù mà có được, lối
sống giản dị có cơ sở hình thành trong phẩm chất mỗi người.
Lối sống giản dị đòi hỏi phải biểu hiện một cách chân thành, tự nhiên trong cách ăn, mặc, ở, đi lại và giao
tiếp hằng ngày. Chúng ta phải có ý thức rèn luyện để có lối sống tiết kiệm.
4. Học tập lối sống giản dị của Bác Hồ
Bác Hồ là tấm gương sáng về lối sống giản dị. Người dân Việt Nam không ai quên được hình ảnh quen
thuộc của Bác trong bộ quần áo bộ đội sờn màu, đôi dép cao su đi nhiều đến mòn vẹt, ăn uống đơn gian “ Cháo
bẹ rau măng vẫn sẵn sàng “. Không chỉ ở chiến khu Việt Bắc, khi về thủ đô Hà Nội , Bác ở trong ngôi nhà sàn
giản đị với những bữa cơm thanh đạm, dép lốp, quạt lá cọ. Cả cuộc đời Bác Hồ là một bài học lớn cho chúng ta
về đức tính giản dị.
5. Liên hệ bản thân : rèn luyện để có lối sống giản dị
Lối sống giản dị đưa lại cho con người và xã hội nhiều lợi ích. Xã hội có cuộc sống văn minh, ngày càng
có điều kiện nâng cao chất lượng sống của con người. Bản thân có lối sống giản dị sẽ dễ hòa nhập cộng đồng
bởi vẻ đẹp không khoa trương nhưng thu hút lòng người trong phong cách sống.
Lối sống giản dị ngược lại với lối sống xa hoa, đua đòi, lãng phí. Nhiều bạn trẻ được sinh ra trong gia đình
giàu có, được gia đình nuông chiều mà quen với lối sống đua đòi, lãng phí, ném tiền qua cửa sổ, lối sống ”Công
tử Bạc liêu” sẽ không nhận được sự coi trọng và giúp đỡ của mọi người, khó trở thành người thành đạt, có ích.
Lối sống giản dị có thể một phần tử bẩm sinh nhưng cơ bản là từ ý thức rèn luyện trong cuộc sống mà có
được.
Biết quý trọng những gì mình đang có và biết cảm thông chia sẻ với cuộc sống đang khó khăn của người
khác, chúng ta sẽ rèn luyện cho mình lối sống giản dị. Như vây, lối sống giản dị liên hệ chặt chẽ với ý thức tiết
kiệm, tinh thần trách nhiệm công dân và tấm lòng sẻ chia hòa đồng đối với xã hội.
Tiết kiệm thời gian, tiết kiệm của cải, tiền bạc là sự khởi nguồn của tích lũy vốn đầu tư. Vốn đầu tư dùng
để xây dựng nhà cửa, cầu đường, trường học, nhà máy là phương tiện để tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội.
Lối sống giản dị giúp con người tiết kiệm, xã hội tiết kiệm để đầu tư cho tương lai. Đó là ý nghĩa kinh tế của lối
sống giản dị. Lối sống giản dị biểu hiện tấm lòng thông cảm, sẻ chia với hàng triệu đồng bào, bao gồm cả trẻ em

để có lòng dũng cảm.
Phải vượt lên chính mình “Chiến thắng vĩ đại nhất là chiến thắng chính bản thân mình” . Khắc phục thói
xấu, ích kỷ và cá thói xấu khác, sống có lý tưởng vì dân, vì nước là những tiền đề mà mỗi người cần có để chứa
chất lòng dũng cảm.
Lòng dũng cảm ấy là phẩm chất quan trọng nhất của những người hùng trong cuộc kháng chiến chống
Pháp, chống Mỹ. Đúng như Tố Hữu đã viết : “Dân ta gan dạ anh hùng. Trẻ là đấu súng, già xông lửa đồn. Chân
toạc máu, chân đau đuổi giặc. Tay chém thù tay sắc như gươm”. Họ đã cùng toàn dân quyết tâm làm nên một
chiến công Điện Biên Phủ “Chín năm làm một Điện Biên; Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng” Những chiến sĩ
Điện Biên là những con người mang trong mình chất thép của lòng dũng cảm: “Chiến sĩ Điện Biện, chiến sĩ anh
hùng. Đầu nung lửa sắt, gan không núng, chí không mòn…Những đồng chí thân chôn làm giá súng; đầu bịt lỗ
châu mai, băng mình qua núi thép gai, ào ào như vũ bã., Những đồng chí chèn lưng cứu pháo, nát thân, nhắm
mắt còn ôm” Vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, lớp lớp thanh niên lại lên đường, mang trong mình truyền thống
Điện Biên, quyết xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, bất chấp bom đạn Hoa Kỳ tàn bạo, tiến thẳng vào Sài Gòn để
có ngày 30/4 lịch sử: “Ôi buổi trưa nay tuyệt trần nắng đẹp! Bác Hồ ơi! Toàn thắng về ta. Chúng con đến xanh
ngời ánh thép.Thành phố tên người lộng lẫy cờ hoa.” Cùng với lòng yêu nước thiết tha, lòng dũng cảm của
những người chiến sĩ ấy đã giúp họ có được lẽ sống rất đẹp: sẵn sàng đổ máu mình cho cây Tổ Quốc đơm hoa
Độc lập, kết trái tự do và viết nên trang sử mới của thời đại Hồ Chí Minh đầy tự hào.
3. Bài học nhận thức hành động.
Lòng dũng cảm phải rèn luyện, thể hiện trong hành động, việc làm. Trong những tình huống khó khăn,
hiểm nghèo như gặp phải vụ hỏa hoạn, lũ quét, người bị nạn trên đường, bản thân bị mất việc, bị bệnh ung thư
không may nhiễm HIV, viêm gan virut, người ta rất cần tới lòng dũng cảm và biểu hiện bằng bản lĩnh vững
vàng, vượt qua một cách sáng suốt, tỉnh táo. Khi đó, lòng dũng cảm là “Nhất biến ứng phó với vạn biến”
Để khuyến khích mọi người tu dưỡng, rèn luyện lòng dũng cảm, nhà trường nhà nước và xã hội phải
thường xuyên biểu dương, ca ngợi, khen thưởng người có hành động, việc làm dũng cảm.
Lòng dũng cảm phải dựa trên cơ sở khoa học, hiểu biết tri thức mới thể hiện có hiệu quả, có ích nhiều cho
bản thân và xã hội. Nhiệt tình cách mạng cộng cới sự dốt nát sẽ trở thành kẻ phá hoại (Lenin). Lòng dũng cảm
mà không có tri thức sẽ phản tác dụng. Không biết bơi mà nhảy xuống biển cứu người chết đuối không chỉ hại
đến thân mà còn gây khó khăn cho người khác trong việc cứu người.
Kết luận
Lòng dũng cảm là đức tính tốt đẹp xã hội cần đề cao và mỗi người cần tu dưỡng, rèn luyện để có được.

đồng tiền cha mẹ vất vả kiếm được để nuôi mình ăn học. Khi xa gia đình, ta phải thường xuyên viết thư, gọi
điện thăm hỏi sức khỏe cha mẹ. Khi cha mẹ ốm đau, ta phải hết lòng, hết sức quan tâm, chăm sóc, chạy chữa.
Lòng yêu thiên nhiên đất nước phải thể hiện ở hành động giữ gìn vệ sinh, tiết kiệm điện nước, trồng cây
để cho môi trường sống xung quanh ta ngày càng xanh, sạch đẹp.
Lòng yêu lao động thể hiện ở hành động chăm làm, chăm học (Học tập cũng là một loại hình lao động).
Học tập suốt đời để sống tốt, lao động tốt, sức khỏe tốt, tu dưỡng phẩm chất đức hạnh tốt. Đức hạnh bắt nguồn
từ tri thức, nhận thức đúng đắn về xã hội và tự nhiên, con người và cuộc sống. Học tập là cơ sở để ta có phẩm
chất của đức hạnh và hành động phù hợp với phẩm chất của đức hạnh.
3. Đức hạnh phải được tu dưỡng rèn luyện thường xuyên trong thực tiễn.
Phẩm chất của đức hạnh, chứa đựng trong nhận thức và biểu hiện ở hành động không phải tự nhiên mà có.
Chúng ta phải tu dưỡng và rèn luyện thường xuyên, đặc biệt khi ta còn trẻ.
Hành động thể hiện phẩm chất của đức hạnh cũng không có một tiêu chuẩn cứng nhắc, cố định. Trong
chiến tranh giữ nước, hành động có thể là vứt bút nghiên theo nghiệp binh đao, nhưng cũng có thể là lao động
sản xuất tốt.
Còn khi thời bình và đang tuổi đi học, chúng ta học tập tốt, tu dưỡng tốt để trở thành người có ích cho xã
hội, có việc làm, hành động thể hiện các phẩm chất đức hạnh cao quý là người yêu nước.
Học tập, tu dưỡng, rèn luyện để có đức hạnh, cả trong nhận thức và hành động, là quá trình gian nan, vượt
nhiều khó khăn thử thách. Hôm nay ta lười học thì ngày mai ta sẽ lười lao động. Hôm nay ta ăn cắp một quả
trứng thì ngày mai ta dễ ăn trộm con bò. Cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích
trong học tập” cần được chúng ta hưởng ứng bằng hành động thiết thực, cụ thể.
Hành động của con người, nói rộng ra là thực tiễn, là “tiêu chuẩn của chân lý”, là tiêu chuẩn, thước đo
của phẩm chất “đức hạnh”, bản chất ở bên trong của con người. Khi con người biết nhìn nhận, đánh giá mình
qua hành động cụ thể, việc làm hàng ngày, qua lao động sản xuất và quan hệ ứng xử là con người “có học” có
hiểu biết và là có “phẩm chất tốt” , “đức hạnh cao”. Một trí thức, một người có văn hóa, có giáo dục không thể
tự nói với người khác rằng họ có bằng cấp, có học vị, học hàm cao nên “phẩm chất đức hạnh tốt đẹp”. Họ phải
thể hiện ở hiệu quả các công trình khoa học, cái hay trong cuốn sách mà họ viết, số người bệnh mà họ cứu chữa
được.
4. Con người phải tự nhận thức và đánh giá đức hạnh của mình.
Hành động là thể hiện, là kết tinh của đức hạnh. Con người phải luôn luôn tự đánh giá, tự nhận thức bản
thân mình qua việc làm, qua ứng xử cụ thể, qua hành động chứ không phải qua lời nói của mình. Phầm chất đức

khoảng 15%. Người nghèo nếu có quyết tâm và điều kiện, cùng với sự giúp đỡ của cộng đồng và nhà nước, có
thể thoát nghèo.
Nghèo nàn tâm hồn là sự đơn điệu, tẻ nhạt, khô cằn, vô cảm trong tình cảm và cảm xúc, không nhận thấy
vẻ đẹp của thiên nhiên, và cuộc sống, xã hội và tư duy. Người nghèo tâm hồn thường có thái độ tiêu cực ( ích
kỷ, đố kỵ, ghen ghét), thiếu tấm lòng yêu thương và rộng mở, độ lượng và không có hứng thú trong lao động
sáng tạo cũng như biết cách chia sẻ, hòa nhập cộng động.
2. Nghèo nàn về tâm hồn rất khó chữa.
“ Nghèo nàn về tâm hồn rất khó chữa” vì nó xuất phát từ nhận thức và thái độ đối với bản thân và cuộc
sống, với cộng đồng và xã hội. “Cha mẹ sinh con, trời sinh tính”, tính nết, tình cảm, quan niệm sống được hình
thành trong quá trình nhận thức, giao tiếp với môi trường xung quanh. Con người đã trưởng thành rất khó thay
đổi về tư duy, tính cách, đạo đức và quan niệm sống. Sống lâu làm con người có thêm kinh nghiệm chứ khó làm
tâm hồn biến đổi được.
Tập thơ Nhật ký trong tù của Bác Hồ cho ta thấy mặc dù phải ở cảnh tù tội, gian khổ nhưng nhờ sự giàu
có về tâm hồn mà Bác luôn luôn vui vẻ, lạc quan, yêu đời.
Thông điệp mà nhà văn Pháp Mi-sen Ê-ken Mông-ten-lơ gửi đến chúng ta là phải luôn luôn nuôi dưỡng
tâm hồn, làm cho đời sống tinh thần phong phú, giàu có, dù đời sống vật chất khó khăn.
Đời sống tinh thần khi đã nghèo nàn thì rất khó chữa, khó nhưng phải phải là không chữa được. Sống cởi
mở, chân thành, sống có lý tưởng, có mục đích đúng đắn sẽ giúp chúng ta sống có tâm hồn, khắc phục sự nghèo
nàn trong tâm hồn. “Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động”. Hãy có việc làm thể hiện sự quan tâm
chăm sóc bản thân, gia đình và cộng đồng. Hãy mở lòng với bạn bè, đồng nghiệp. Hãy thường xuyên gọi điện
thoại cho cha mẹ, anh chị em, bạn bè. Hãy tham gia tích cực các hoạt động cộng đồng như làm vệ sinh đường
phố, ủng hộ quỹ vì người nghèo, vui chơi trung thu với các em nhỏ, thăm hỏi người ốm… ta sẽ thấy “ Cuộc đời
vẫn đẹp sao”, lạc quan yêu đời, tâm hồn ngày càng phong phú, giàu có.
3. Học tập và lao động sáng tạo là điều kiện để chữa bệnh tâm hồn.
Học tập để có tri thức, lao động sáng tạo để có thu nhập và thành công trong sự nghiệp, tu dưỡng đạo đức
tác phong để không ngừng hoàn thiện bản thân là con người đã có đời sống giàu có, cả vật chất và tinh thần.
Đặc biệt chúng ta phải nuôi dưỡng tâm hồn. Tâm hồn giàu có là rất quan trọng và rất khó, khó khăn hơn làm
giàu về đời sống vật chất.
4. Sống có lý tưởng, có mục đích cao đẹp để tâm hồn giàu có.
Sống có lý tưởng, có mục đích và phấn đấu không ngừng cho đất nước, dân tộc, xây dựng cuộc sống văn

đời. Không để nó trở thành “ông chủ khó tính” chi phối cuộc đời ta.
2. Phải thường xuyên cảnh giác, đề phòng sự xâm nhập của thói xấu.
Khi nhỏ, ta có thể gặp thói lười học, ích kỷ, tham lam, không nghe lời cha mẹ. Lúc đói lòng, ta có thể ăn
trộm quả trứng, củ khoai, trái cây của nhà hàng xóm. Ra đường, ta có thể khạc nhổ, vứt rác lung tung. Ở trường
ta có khi quay cóp, nói tục, chửi thề. Lớn lên, đi làm, có lúc ta lười biếng, lãn công, nói dối, cuộc sống gặp khó
khăn, phức tạp, người ta thối chí, sinh ra uống rượu, hút thuốc, sử dụng ma túy, trộm cắp, lừa đảo…. Nếu chúng
ta không có bản lĩnh, tỉnh táo để kiềm chế, kiểm soát bản thân, sửa chữa sai lầm thì nhiều tai họa sẽ xảy ra.
“Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng”. Nặng nề hơn, nhiều người phải đi tù vì tội giết người, cướp của, phản
bội Tổ quốc.
Để có đủ bản lĩnh phòng chống sự cám dỗ, thâm nhập của thói xấu, chúng ta phải không ngừng học tập và
rèn luyện. Học tập để có hiểu biết, có tri thức, biết phân biệt cái xấu, cái tốt. Rèn luyện, tu dưỡng đạo đức tác
phong để có đức tính tốt, “miễn dịch“ với thói xấu. Học tập tốt để có công ăn việc làm tốt, đời sống cao và cống
hiến cho xã hội, cho đất nước là cách phòng chống thói xấu hiệu quả nhất.
3. Học tập tấm gương Bác Hồ về tu dưỡng bản thân.
Học tập tu dưỡng theo gương Bác Hồ vĩ đại : “Cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư”, “trong sạch, chất
phác, hăng hái, tiết kiệm” là những phẩm chất chúng ta cần rèn luyện để có thành công trong cuộc sống, tránh
được sự thâm nhập của thói xấu.
Cuộc sống bao giờ cũng phức tạp, thói xấu luôn luôn rình rập để thâm nhập và chế ngự ta. Chúng ta phải
thường xuyên cảnh giác với thói xấu, không ngừng rèn luyện để trưởng thành, trở thành người có phẩm chất
đạo đức tốt.
4. Liên hệ bản thân : chăm học, chăm làm, tu dưỡng đạo đức tốt.
Thế kỷ 21 là thế kỷ cách mạng khoa học công nghệ phát triển nhanh như vũ bão, thế kỷ của thời đại tri
thức, thế kỷ hội nhập toàn cầu. Trong khi phần lớn thanh niên học sinh vượt qua mọi khó khăn để cố gắng học
tập thì vẫn còn một bộ phận nhiễm phải thói xấu lười học, ngại khó, ngại khổ, thiếu ý chí vươn lên trong học
tập. Họ đã để cho thói xấu trở thành “ ông chủ khó tính” chi phối họ. Chúng ta phải lên án thói xấu lười biếng.
Nhiều danh nhân đã phê phán thói lười biếng: “Làm biếng ăn ngồi lở núi lở non” ( Nguyễn Trãi). “ Sự buồn
chán bước vào thế giới qua ngưỡng cửa lười biếng” ( La Bruye) "Lười biếng làm mòn trí tuệ và thân thể”
( B.Phranklin) “ Lười biếng là mẹ đẻ của thói ăn cắp và sự đói rét” ( V.Huygo).
Kết luận
Phấn đấu trong học tập và công tác, cố gắng tự hoàn thiện nhân cách bản thân mình, cảnh giác với thói

thiết, tác giả bộc lộ niềm thương nỗi nhớ của người ở lại.
“Trám bùi để rụng, măng mai để già”. “Trám”, “măng” là đặc sản của Việt Bắc, từng làm thức ăn lót lòng
thay ngô, sắn, cơm, khoai trong những ngày kháng chiến. Ngày nay, qua rồi thời kỳ đói khổ, khó khăn, nhắc
nhở những sản vật này với tấm lòng thiết tha trìu mến đối với Việt Bắc ; xem đó là kỷ niệm sâu sắc trong đời.
Để làm nổi bật tấm lòng son sắc, thuỷ chung, thủ pháp đối lập đã được nhà thơ sử dụng thành công.
“Hắt hiu lau xám Đậm đà lòng son”
Biện pháp đảo ngữ ở đây làm cho hình ảnh câu thơ càng thêm sinh động.
3. Đoạn sau là lời đáp thiết tha tình nghĩa của cán bộ cách mạng trước lúc chia tay. Đoạn thơ đã tái hiện cảnh và
người Việt Bắc bằng những chi tiết tiêu biểu nhất, đẹp đẽ nhất.
a. Tuy thiếu thốn, gian khổ nhưng cảnh và người Việt Bắc đẹp và tình nghĩa chan hòa:
Hình ảnh tượng trưng: “Chia củ sắn lùi, bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng” kết hợp với cách dùng từ cùng
nghĩa “chia, sẻ, cùng” diễn tả được mối tình cảm “chia ngọt sẻ bùi” giữa nhân dân Việt Bắc và cán bộ cách
mạng. Biết bao tình nghĩa sâu nặng trong “củ sắn”, “bát cơm”, “chăn sui”… mà người cán bộ cách mạng đã
chịu ơn Việt Bắc.
Hình ảnh chọn lọc: Người mẹ nắng cháy lưng… gợi người đọc liên tưởng đến sự tần tảo chắt chiu, cần cù lao
động của bà mẹ chiến sĩ trong kháng chiến đã đùm bọc, cưu mang chiến sĩ, cán bộ cách mạng. Đó là hình ảnh
tiêu biểu cho cái đẹp, cái ân tình trong cuộc sống kháng chiến không thể phai nhòa trong kí ức của người về
xuôi .
Đoạn thơ còn dựng lại những khung cảnh quen thuộc với những hình ảnh và âm thanh hết sức tiêu biểu cho sinh
hoạt trong kháng chiến Việt Bắc. Câu thơ đối ý mà nêu bật tinh thần lạc quan yêu đời của cán bộ, chiến sĩ cách
mạng dù cuộc sống còn rất gian khổ, khó khăn :
“Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo”
Âm thanh “tiếng mõ rừng chiều” và “chày đêm nện cối đều đều suối xa” là âm thanh đặc trưng của Việt Bắc,
phản ánh sinh hoạt yên ả, bình dị nơi núi rừng, gợi nhớ một thời đã qua.
Đặc sắc nhất là đoạn thơ hồi ức về cảnh đẹp núi rừng Việt Bắc qua bốn mùa trong năm. Một loạt từ chỉ màu
sắc, xanh, đỏ tươi, trắng, vàng… tạo một cảm giác tươi mát, vui mắt cho các bức tranh phong cảnh. Mùa xuân
với hoa mai nở trắng rừng. Mùa hạ với âm thanh “ve kêu” tạo thành một bản hợp tấu của rừng xanh. Mùa thu
với ánh trăng hòa bình êm đềm trong sáng. Giữa cây cỏ thiên nhiên, Con người Việt Bắc hiền hòa, nhân hậu lao
động cần cù: đan nón chuốt tùng sơi giang, hái măng một mình. Bức tranh thiên nhiên trở nên sinh động và có ý
nghĩa hơn.

2. Bài thơ được kết cấu theo lối đối đáp quen thuộc trong câu ca dao, dân ca. Nhưng ở đây không chỉ là lời câu
hỏi, lời đáp mà còn là sự hô ứng, đồng vọng của cùng một tâm trạng. Lời đáp không chỉ nhằm giải đáp cho
những điều đặt ra trong lời hỏi mà còn là sự mở rộng, làm phong phú thêm những ý tình được gợi ra trong lời
hỏi.
Có khi như ở đoạn cuối của bài thơ, cả lời hỏi và lời đáp đã hòa làm một để trở thành bản hợp ca đồng vọng,
ngân vang những tình cảnh chung. Nhìn sâu hơn vào kết cấu của bài thơ, chúng ta thấy đối thoại chỉ là lớp kết
cấu bên ngoài, còn ở chiều sâu bên trong chính là lời độc thoại trữ tình của chủ thể đắm mình trong hoài niệm
về quá khứ gian khổ mà tươi đẹp trong cách mạng và kháng chiến với những nghĩa tình thắm thiết. Tình nghĩa
của nhân dân với cách mạng, của người cán bộ với Việt Bắc, của miền ngược với miền xuôi, của cả dân tộc với
lãnh tụ… Vì thế hai hình tượng kẻ ở và người đi cùng với lời hỏi và lời đáp có thể được bọc lộ đầy đủ và sâu
sắc trong cách đối thoại, hô ứng. Sự thống nhất của tâm trạng trữ tình cũng được thể hiện rất rõ trong việc sử
dụng hai đại từ “mình” và “ta” trong bài thơ.
BÀI VĂN THAM KHẢO
Đề 1:
Kể về những thành tựu xuất sắc của văn học Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, có
lẽ chúng ta không thể nào không nhắc đến Việt Bắc của Tố Hữu. Đây là một bài thơ mang đậm đà màu sắc dân
tộc, tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu. Thông qua đó, thể hiện niềm nhớ thương tha thiết và tình cảm sắt son
đầm thắm của nhân dân Việt Bắc với cách mạng, với Đảng, với Bác Hồ, đồng thời cũng thể hiện tình cảm của
người cán bộ kháng chiến với thiên thiên, núi rừng và con người Việt Bắc.
Đoạn thơ gồm năm câu lục bát nhắc lại những cảnh thân thiết và tươi đẹp nhất về cảnh và người Việt Bắc trong
hồi ức của người cán bộ cách mạng miền xuôi, ở đây chính là nhà thơ.
“Ta về mình có nhớ ta Ta về ta nhớ những hoa cùng người” Đây là hai câu thơ mở đầu nhưng nó mang cảm
xúc chung cho toàn đoạn.
Ta là người ra đi cũng chính tác giả. Ở đây đoạn thơ kết cấu theo lối đối đáp thông thường trong dân ca truyền
thống. Do đó, đây chính là lời hỏi ngọt ngào của người ra đi với người ở lại, dễ liên tưởng đây là một thiếu nữ
địa phương. Và câu hỏi tu từ này là cái cớ bày tỏ tình yêu của một chàng trai miền đồng bằng với cô gái miền
cao.
“Hoa và người” thực là nỗi nhớ về thiên nhiên và con người Việt Bắc. Ở đây, thiên nhiên hòa điệu với con
người, giữa chúng ngoài mối quan hệ tương hỗ còn có mối tương sinh lẫn nhau. Việt Bắc sinh ra con người và
con người làm nồng ấm quê hương Việt Bắc.

cảm với thời tiết. Tiếng ve kêu râm ran đây đó đã báo hiệu mùa hạ, nhưng lúc này đã là cuối hạ. Cái lạnh đang
tràn ngập núi rừng, lá cây bắt đầu chuyển sang màu vàng, cả rừng phách thay áo mới, chiếc áo vàng óng ánh
dưới ánh nắng mặt trời. Cảnh thiên nhiên đẹp và rực rỡ thế lại càng lãng mạn hơn, vì trong cánh rừng bạt ngàn
ấy có thêm bóng dáng của một sơn nữ “hái măng một mình”.
Từ “hái” ở đây dường như không thể thay thế bằng một động từ nào khác: bẻ, đốn… vì chỉ có nó mới phù hợp
nét dịu dàng, uyển chuyển, mềm mại của cô gái mà thôi. Ta hãy thử tưởng tượng bức tranh mùa hạ như thế này
đẹp biết bao. Cảnh thiên nhiên tuyệt mỹ như thế lại khảm chạm thêm vào hình ảnh một người thiếu nữ nhẹ
nhàng làm việc. Quả thật bức tranh vừa đẹp vừa có thần nữ. Rõ ràng thiên nhiên và con người đã hòa quyện vào
nhau, tô điểm cho nhau.
Cuối cùng đoạn thơ kết thúc bằng hình ảnh mùa thu cũng không kém phần đẹp đẽ.
“Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”
Câu thơ đã xác định rõ, đây là mùa thu. Thiên nhiên mùa thu được miêu tả bằng ánh trăng. Việc sử dụng hình
ảnh trăng thật ra cũng không có gì độc đáo và mới mẻ. Tuy nhiên đặt vào hoàn cảnh Việt Bắc lúc bấy giờ ta
thấy được niềm mơ ước hòa bình của người cán bộ cũng như toàn dân Việt Bắc. Tất cả đều nói lên niềm tin
tưởng chiến thắng sẽ đến với cách mạng với đất nước.
Câu thơ thiếu cụ thể nên con người ở đây cũng thiếu cụ thể. Từ “ai” nhòa đi để tạo nền cho cả đoạn và cũng
nhằm trả lời cho câu hỏi đầu tiên: “Mình về có nhớ ta chăng?”. Tuy hỏi thế nhưng trong lòng họ vẫn biết rằng
con người ấy vẫn thủy chung, son sắt. Đây là lời đồng vọng trong tâm hồn của cả hai người yêu nhau cùng nhớ,
cùng thương “nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”.
Qua đây ta thấy bao trùm cả đoạn thơ là tình cảm nhớ thương tha thiết tiếp tục âm hưởng chung của nghệ thuật
ca dao. Câu thơ lục bát nhịp nhàng, uyển chuyển, ý nọ gợi ý kia cứ trào lên dào dạt trong lòng người ra đi và
người ở lại. Đặc biệt là qua cách xưng hô “mình” với “ta”. Ở đây điệp từ nhớ dùng để xoáy sâu vào cảm hứng
chủ đạo là hồi ức. Từ “rừng” lặp lại là khoảng không gian cho nỗi nhớ tồn tại. Màu sắc cũng ảnh hưởng không
ít tới bức tranh, đỏ lặng lẽ, nhưng có sức sống. Màu con dao thể hiện sự hoạt động. Màu trắng làm thanh thoát
con người và màu vàng làm cho bức tranh rực rỡ trong hoàng hôn. Rõ ràng bức tranh đã có sự hòa điệu của màu
sắc. Bên cạnh đó,nhạc đệu dịu dàng trầm bổng khiến cả đoạn thơ mang âm hưởng bâng khuâng, êm êm như một
khúc hát ru - khúc hát ru kỷ niệm. Có lẽ khúc hát ru này không của ai khác là của “ta” và cho người nhận là
“mình”. Cả “ta” và “mình” đều cùng chung nỗi nhớ, cùng chung “Tiếng hát ân tình” và ân tình sâu nặng ấy
mãi còn lưu luyến vấn vương trong những tâm hồn chung thủy.
Có thể nói đây là đoạn thơ hay và có giá trị nhất trong bài Việt Bắc. Cảnh thiên nhiên và con người trong đây

Câu thơ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…” đầy tính chất biểu cảm - biết nói gì không phải không có điều
để giải bày mà chính vì có quá nhiều điều muốn nói không biết phải nói điều gì. Ba dấu chấm lửng đặt cuối câu
là một dấu lặng trên khuôn nhạc để tình cảm ngân dài, sâu lắng…
12 câu tiếp theo kết thúc đoạn trích, là lời tâm tình của Việt Bắc:
“Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm
chấm muối, mối thù nặng vai? Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng măng mai để già Mình đi, có nhớ
những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son Mình về, có nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa”
Điệp từ “nhớ” lập đi lập lại nhiều sắc thái ý nghĩa: nhớ là nỗi nhớ, ghi nhớ, nhắc nhở. Hàng loạt những câu hỏi
tu từ bày tỏ tình cảm tha thiết đậm đà của Việt Bắc. Tình cảm lưu luyến của người đưa tiễn, gửi đi nỗi nhớ
mong, gài lại niềm thương theo cách:
“Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”
Việt Bắc nhắc người cán bộ chiến sĩ đừng quên những năm tháng gian lao vất vả, hoạt động chiến đấu trong
điều kiện trang bị tiếp tế còn thô sơ, thiếu thốn.
“Mình về có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?”
“Miếng cơm chấm muối” là chi tiết thực, phản ánh cuộc sống kháng chiến gian khổ. Và cách nói “mối thù nặng
vai” nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ chống thực dân cướp nước, đè nặng vai dân tộc ta.
Cảm xúc thương nhớ xa vắng thả vào không gian rừng núi, gợi nỗi niềm dào dạt:
“Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già”
Hình ảnh “Trám bùi để rụng, măng mai để già” gợi nỗi buồn thiếu vắng - “Trám rụng - măng già” không ai
thu hái. Nỗi ngùi nhớ bức bối như thúc vào lòng kẻ ở lại.
Tiễn người về sau chiến thắng và chính trên cái nền của sự chiến thắng đó, đã làm cho nỗi buồn nhớ trở nên
trong sáng. Việt Bắc vẫn “một dạ khăng khăng đợi thuyền”, đồng thời nhắc nhở khéo léo tấm “lòng son” của
người cán bộ chiến sĩ. Xin đừng quên thời kỳ “kháng Nhật thuở còn Việt Minh”, đừng quên cội nguồn cách
mạng, đừng quên để chăm lo giữ gìn sự nghiệp cách mạng. “Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái,
mái đình cây đa”
Tóm lại, đoạn thơ trên là nỗi lòng thương nhớ, là lời tâm tình của Việt Bắc. Đoạn thơ trên tiêu biểu sắc thái
phong cách Tố Hữu, giọng điệu thơ ngọt ngào truyền cảm, mang đậm phong vị ca dao dân gian, đề cập đến con
người và cuộc sống kháng chiến. Thông qua hình tượng Việt Bắc, tác giả ca ngợi phẩm chất cách mạng cao đẹp
của quân dân ta, khẳng định nghĩa tình thuỷ chung son sắt của người cán bộ, chiến sĩ đối với Việt Bắc.

trình trưởng thành của đất nước :
“Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn,
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”
Phải chăng, khởi thủy của đất nước là văn hóa được kết tinh từ tâm hồn và tính cách anh hùng của con
người Việt Nam. Ở đây,hình ảnh “miếng trầu” đã là một hình tượng nghệ thuật giàu tính thẩm mỹ từng xuất
hiện trong các câu chuyện cổ tích,ca dao,tục ngữ.Bởi lẽ,“miếng trầu”là hiện thân của tình yêu thương, lòng thủy
chungcủa tâm hồn dân tộc.Từ truyền thuyết dân gian đến tác phẩm thơ văn hiện đại, cây tre đã trở thành biểu
tượng cho sức mạnh tinh thần dân tộc quật cường đánh giặc cứu nước và giữ nước.
Và còn nữa, trong quá trình trưởng thành, đất nước còn gắn liền với với đời sống văn hóa tâm linh, bằng
phong tục tập quán lâu đời còn truyền lại và bằng chính cuộc sống lao động cần cù vất vả của nhân dân :
“Tóc mẹ búi sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên,
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, dần ,sàng…”.
Đọan thơ, bằng những ý thơ giàu sức liên tưởng , nhà thơ đã đưa người đọc trở về với những nét đẹp văn
hóa một thời của người phụ nữ Việt Nam bằng hình ảnh “tóc mẹ búi sau đầu”, gợi tả một nét đẹp thuần phong
mỹ tục của người Việt; và những câu ca dao xưa ca ngợi vẻ đẹp đậm tình nặng nghĩa trong cuộc sống vợ chồng
“cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”. Không những vậy, hình ảnh thơ còn thể hiện sự cảm nhận về
đất nước gắn với nền văn hóa nông nghiệp lúa nước, lấy hạt gạo làm gia bản…
* Có thể nói,đọan thơ mở đầu trả lời cho câu hỏi về cội nguồn đất nước - một câu hỏi quen thuộc, giản dị
bằng cách nói cũng rất giản dị, tự nhiên nhưng cũng rất mới lạ : nhà thơ không tạo ra khỏang cách sử thi để
chiêm ngưỡng và ca ngợi đất nước hoặc dùng những hình ảnh mĩ lệ , mang tính biểu tượng để cảm nhận và lý
giải , mà dùng cách nói rất đỗi giản dị,tự nhiên với những gì gần gũi , thân thiết , bình dị nhất.
Gịong thơ thâm trầm, trang nghiêm; cấu trúc thơ theo lối tăng cấp : Đất nước đã có; Đất Nước bắt đầu; Đất
Nước lớn lên; Đất Nước có từ… giúp cho người đọc hình dung cả quá trình sinh ra, lớn lên, trưởng thành của
đất nước trong thời gian trường kỳ của con người Việt Nam qua bao thế hệ. Đặc biệt là cách nhà thơ viết hoa
hai từ Đất Nước ( vốn là một danh từ chung) cũng đã giúp ta cảm nhận tình yêu và sự trân trọng của nhà thơ khi
nói về đất nước , quê hương của mình.
III/ Kết bài :
Tóm lại, chín câu thơ mở đầu cho đọan trích “Đất Nước” đã thật sự để lại những ấn tượng và cảm xúc sâu

Nước là nơi em tắm”.
Không những vậy , đất nước còn là nơi tình yêu lứa đôi nảy nở say đắm, thiết tha .Đó là “ nơi em đánh rơi
chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”. Đất nước còn là núi sông, rừng bể,là“hòn núi bạc”,là “nước biển khơi”.Và còn
nữa, đất nước còn không gian sinh tồn của cộng đồng qua nhiều thế hệ với “những ai đã khuất…những ai bây
giờ…”
Cùng với cách cảm nhận về đất nước ở phương diện không gian địa lý, nhà thơ còn cảm nhận đất nước ở
phương diện thời gian lịch sử .Ở phương diện này, đất nước có cả chiều sâu và bề dày được nhận thức từ
huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ, từ truyền thuyết Hùng Vương và ngày giỗ Tổ .
Đọan thơ với cấu trúc ngôn ngữ “ Đất là…, Nước là…Đất Nước là…” , nhà thơ đã định nghĩa bằng cách
tư duy “chiết tự” để giải thích, cắt nghĩa hai tiếng Đất Nước thiêng liêng bằng tinh thần luận lí chân xác.Nếu
tách ra làm những thành tố ngôn ngữ độc lập thì Đất và Nước chỉ có ý nghĩa là không gian sinh tồn về mặt vật
chất của con người cá thể.Nhưng nếu hợp thành một danh từ thì “Đất Nước” lại có ý nghĩa tinh thần thiêng
liêng, chỉ không gian sinh sống của cả một cộng đồng người như anh em một nhà.
* Tóm lại, bằng cách sử dụng sáng tạo các yếu tố ca dao, truyền thuyết dân gian nhà thơ đã lý giải một
cách sinh động , cụ thể cho câu hỏi : Đất nước là gì? Từ đó , hình ảnh đất nước hiện lên qua đọan thơ vừa
gần gũi - cụ thể, vừa thiêng liêng- khái quát trên cả bề rộng không gian địa lý mênh mông và thời gian lịch sử
đằng đẵng của dân tộc.
III/ Kết bài:
Có thể nói, đọan thơ là những định nghĩa đa dạng, phong phú về đất nước từ chiều sâu văn hóa dân tộc, xuyên
suốt chiều dài của thời gian lịch sử đến chiều rộng của không gian đất nước.
Nhà thơ cũng vận dụng rộng rãi các chất liệu văn hóa dân gian để cảm nhận và định nghĩa về đất.Từ đó , đọan
thơ giúp cho chúng ta hiểu và gắn bó hơn với đất nước, quê hương mình bằng một tình yêu và ý thức trách
nhiệm sâu sắc .
* ĐỀ 3 :
Phân tích đọan thơ sau đây trong đọan trích “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm :
“ Trong anh và em hôm nay,
………………………………
Làm nên Đất Nước muôn đời”.
Hướng dẫn làm bài


4.Không chỉ khẳng định mối quan hệ gắn bó giữa Đất nước và nhân dân, giữa tình yêu cá nhân với tình yêu
lớn của đất nước; nhà thơ còn thể hiện niềm tin mãnh liệt vào tương lai tươi sáng của đất nước :
“Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang Đất Nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng”.
Có thể nói, ba dòng thơ đã mở ra một tầng ý nghĩa mới, đó là niềm tin mãnh liệt vào tương lai tươi sáng của
đất nước.Thế hệ sau “con ta lớn lên sẽ mang Đất Nước đi xa- Đến những tháng ngày mơ mộng”.Đất nước sẽ
đẹp hơn, những tháng ngày mơ mộng ở hiện tại sẽ trở thành hiện thực ở ngày mai.
Khi đã hiểu hết ý nghĩa thiêng liêng của đất nước, nhà thơ muốn nhắn gửi với mọi người :

Trích đoạn Cuộc trò chuyện giữa Hồn Trương Ba với Đế Thích trở thành nơi tác giả gửi gắm những quan niệm về hạnh I Kết bài:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status