Giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam trước các cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong quá trình hội nhập - Pdf 12


TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH
TỀ*
NGOẠI
THƯƠNG
CHUYÊN
NGÀNH
KINH TE
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
LCIỘN
TỐT NGHIỆP
TÊN ĐÊ TÀI:
GIẢI
PHÁP PHÁT TRIỂN
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM
VIỆT
NAM TRƯỚC CÁC CAM KẾT VỀ
DỊCH
vụ BẢO HIỂM
TRONG
QUÁ
TRÌNH
HỘI

Chương
1:
Khái quát
chung
về
thị
trường
Bảo
Hiểm
Việt
Nam 3
ì.
Lịch
sử hình thành và phát
triển
3
l.LỊch
sử hình thành và phát
triển
thị
trường
bảo
hiểm
Việt
Nam 3
2.Các
lĩnh
vực bảo
hiểm
hiện

tương
hố li
2.3. Tái
bảo hiểm 12
2.3.1.
Khái niệm 12
2.3.2.
Bán
chất,
nhiệm vụ 12
2.4.
Môi
giới
bảo hiểm 13
2.4.1.
Khái
niệm
13
2.4.2.
Đặc điểm của môi
giới
bảo hiểm 13
n. Các cam
kết
về
dịch
vụ bảo
hiểm

Việt

Đánh
giá
nhỏng
tác
động
của
cam
kết
trên
đối với
sự
phát triển
thị
trường
bảo
hiểm Việt
Nam 16
2.
Các cam
kết
về
dịch
vụ bảo
hiểm
trong
bản chào WTO 20
2.1.
Lộ
trình thực hiện
20

trường
bảo
hiểm
Việt
Nam
trong
giai
đoạn
hiện
nay 24
Ì.
Tinh
hình phát
triển
chung
của thị
trường
24
2.
Thực
trạng thị
trường
bảo
hiểm
Việt
Nam xét trên
tặng
lĩnh
vực
bảo

lợi
bảo hiểm 39
1.2.
Von nhỏ 41
2.
Nhân
lực:
điểm
yếu
của
doanh
nghiệp
bảo
hiểm
Việt
Nam 42
3. Môi
trường
cạnh
tranh
gay
gắt
hơn 44
4.
Các quy
định
của
pháp
luật
vẫn

cảnh
hội
nhập
48
Ì.
Dự
báo xu
hướng
phát
triển
trong
thời
gian
tới
48
1.1. Thị
trường
bảo hiểm
Việt
Nam
tăng trưởng
ổn
định, vững chắc
48
1.2.
Xi!
hướng
giao thoa giữa
ngân hàng và bảo hiểm
(Bancassurance)A9

lớn
56
3.1.
Việt
Nam
buộc phải
mở
cửa thị
trưởng
56
3.2.
Sự
tin
tưởng
của
các
nhà đẩu

nước ngoài
57
Chương
3:
Giải
pháp phát
triển
thị
trường
bảo
hiểm
Việt

phía nhà
nước
63
1.1.
Hoàn
thiện
các qui
định
pháp
lý đối với
hoụt
động
kinh
doanh bảo
hiểm
63
1.2.
Đào
lụo
nhân
sự
chất lượng
cao
phục vụ ngành bảo hiểm
68
1.3.
Nâng cao kim
ngụch
hàng hoa
xuất

71
7.6.
Tăng
cường
vai trò
quản

của
Nhà
nước
72
2.
Giải
pháp
về
phía
doanh
nghiệp
bảo
hiểm
74
2.1.
Nâng cao
hiệu
quả
hoụt
động
75
2.2.
Nâng cao

Kết
luận
! .! 83
Tài
liệu
tham
khảo
85
Phụ
lục:
Chiên
lược
phát
triển
của
Bảo
hiểm
nhân
thọ
Trung
quốc
qua
các
thời
kỳ
của
quá trình
tự
do hoa thương mại
87

vụ
5
GDP
Tổng
sản
phẩm
quốc
dân
6
KTQT
Kinh
tế
quốc
tế
7
TNDS
Trách nhiêm dân sư
8
NN
Nước
ngoài
9
USD
Đô
la
Mỹ
10
VÁT
Thuế giá
trị

triển
và các nước đang phát
triển.
Dịch vụ
tài
chinh cũng

một
trong
những
lĩnh
vực thu hút được nhiêu
sự chú ý nhất
trong
đàm phán WTO. Hầu hết các quừc gia thành viên của
WTO, chiếm 95% các
giao dịch

dịch
vụ
tài chính trên
thế
giới,
đã tham gia
kỷ
kết
Hiệp
định
về
dịch

do sức ép từ đàm phán gia nhập WTO,
mà cồn từ
chính
nhu cầu phát
triển
kinh
tế
của đất
nước.
Một
thị trường
bảo
hiểm vận hành
từt
đóng một
vai trò hết
sức quan
trọng
đừi
với
sự phát
triển
của nền kinh
tế.
về mặt
lý thuyết,
bảo hiểm hỗ
trợ
phát
triển

ích
cho
thị trưởng nội địa
như
cải thiện dịch vụ, tăng
thêm
giá trị gia
tăng
trên
dịch vụ cho khách hàng, tăng
tiết
kiệm toàn dân, chuyển giao công nghệ và
các kỹ năng quản
lý,
bổ sưng
vừn,
tăng cường năng lực
tài chính,
nâng cao
chất lượng
nhà nước.
Do đó, để chuẩn bị cho
giai
đoạn mới của quá
trình tự
do hoa khi Việt
Nam
trở
thành thành
viên

kết của hiệp đinh Thương
mại
Việt
Nam- Hoa Kỳ
trên lĩnh vực
bảo
hiểm

theo
đó
các công ty
Bảo
hiếm
Hoa Kỳ
được phép thành lập công ty
bào hiểm 100% vốn nước
ngoài tại Việt
Nam. Điều đó cũng
đặt
ra những
thách thọc không nhỏ cho các doanh nghiệp bảo hiếm Việt
Nam.
Nhận
thọc
rõ tầm quan
trọng đó,

với lòng
yêu
thích

Nam
trước
áp
lực của hội
nhập
kinh té quốc tế
Chương
HI: Giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm Việt
Nam
trước
các
cam
kết vế dịch vụ
bảo
hiểm trong
quá
trình hội
nhập
Do
những
hạn chế
về kiến thọc thực tế cũng
như
nguồn tài liệu,
bài
khoa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót.
Em
rất
mong
sẽ nhận được

THỊ
TRƯỜNG
BẢO HIỂM
VIỆT
NAM
ì.
LỊCH SỬ
HÌNH THÀNH

PHÁT TRIỂN
1.
Lịch
sử
hình thành

phát
triển
thị
trường
bảo
hiểm
Việt
Nam
Cho
tới
nay
không

tài
liệu

bảo
hiểm
Anh, Pháp, Thúy
sĩ,
Hoa
Kỳ đã
bắt
đụu để ý đến
Đông Dương.
Năm
1926, chi
nhánh công
ty
bảo
hiểm
đụu
tiên
xuất
hiện
tại Việt
Nam
là của công
ty
Franco-Asietique,
Pháp.
Đến
năm 1929 mới có
công
ty
Việt

Pháp
đặt
ra.
Sau khi miền
Bắc
nước
ta
được hoàn toàn
giải
phóng
vào năm
1954,
thì
thời
gian
đụu
hoạt
động
bảo
hiểm

miền
Bắc hụu như
chưa
có.
Cho
tới
ngày
17/12/1964,
Hội đổng Chính

khởi
đụu cho
chặng
đường
phát
triển
của ngành
cũng
như
của
thị
trường
bảo
hiểm
Việt
Nam.
Khi
mới
được thành
lập,
nghiệp
vụ bảo
hiểm
chủ yếu của
Bảo
Việt
là bảo
hiểm
hàng
hải

đã
bắt
đụu
phát
triển.
Năm
1972,
Sài Gòn có
khoáng
54
công
ty
bào
hiểm
trong

ngoài nước
kinh
doanh
trên
các
lĩnh
vực
như bảo
hiểm
nhân
thọ,
bảo
hiểm
hoa

của Thành
phố Hổ Chí
Minh.
Đến năm 1989,
3
Công
ty
Bảo
hiểm
Việt
Nam đã bước một bước
ngoặt quan
trọng
trong
quá
trình phát
triển
của mình,
trở
thành
tống
công
ty
Bảo
hiểm
Việt
Nam (Bảo
Việt).
Cũng từ
giai

cải
tiến
thay
đổi
về hệ
thống,
tổ chức,
con
người

dữch
vụ bảo
hiểm
mới được đưa ra và được
coi

những
bước đón đầu cẩn
thiết
khi thữ
trường bảo
hiểm
Việt
Nam
bắt
đầu bước vào
giai
đoạn
cạnh
tranh

mới cho
thữ
trường bảo
hiểm
Việt
Nam:
Giai
đoạn
tự
do hoa
dữch
vụ Bảo
hiểm.
Tháng
11/1994, chi
nhánh Bảo
Việt tại
Thành Phố Hồ Chí
Minh
tách ra thành
lập
công
ty
bảo
hiểm
Thành
phố
Hổ Chí
Minh, gọi
tắt

cổ
phần
bảo
hiểm
Petrolimex
và năm sau là Công
ty
bảo
hiểm
Dầu khí và Công
ty
liên
doanh
bảo
hiểm
Quốc
tế
Việt
Nam đã phá vỡ
thế
độc
quyền
của Bào
Việt.
Năm 1995 có
thể
được
coi

năm

mạnh
mẽ, cùng
với
đó,
người
dân có nhu cầu
bảo hiếm
đã có sự
lựa chọn doanh
nghiệp
phục
vụ cho mình, dẫu ban đầu chỉ
là sự
lựa chọn
về sản phẩm và mức
phí.
Ngay
trong
năm
1995, doanh thu
phí
bảo hiểm
đã tăng trên
30%'.
Mặc dù mức tăng trưởng chậm hơn so
với
trước
đó
(những
nám 1992, 1994, 1994 mức tăng trưởng bình quân 55%/năm)

liến
trình
hội
nhập
KTQT-
trang
lo
4
tính
cạnh
tranh
thì
đó là mức tăng trưởng tương
đối cao.
Bén
cạnh đó,
vói sự
ra
đời
của Công
ty
Tái bảo
hiểm
Quốc
gia,
phí bảo
hiếm
giữ
lại


nghiầp
vụ
bảo
hiểm
đã
từng
bước được đa
dạng
hoa và được
quan
tâm
triển
khai
đối
với
cả 3 nhóm
nghiầp
vụ bảo
hiểm
theo
phân
loại
phổ
biến
của quốc
tế
mà nền
kinh tế
có nhu cầu đó
là:

ty
bảo
hiếm,
môi
giới
bảo
hiểm
nước ngoài mở văn phòng
đại
diần tại
Viầt
Nam,
trong
đó:
2
Anh 4 Công
ty
Nhật Bản 7 Công
ty
Pháp
4 Công
ty
Hàn Quốc 2 Công
ty
Đức
1
Công
ty
Hồng Kông
1

pháp
luật Viầt
Nam, các văn
phòng
đại
diần
Công
ty
đã có
nhiều
đóng góp tích cực cho
viầc
phát
triển
thị
trường
bảo
hiểm
Viầt
Nam: đã
giới
thiầu
nhiều
dịch
vụ cho Công
ty
bảo
hiểm
trong
nước,

kinh
nghiầm quản
lý bảo
hiểm;
là đầu mối
cung
cấp các
thông
tin
về
thị
trường bảo
hiểm
Viầt
Nam cho
quốc
tế
và tình hình
thị
trường
bảo hiểm quốc
tế
cho
Viầt
Nam;
tạo
môi trường đầu tư
thuận
lợi
góp

được
những
chuyển
biến
sâu sắc mà các
thời
kỳ
trước không có được.
Tuy vậy, trong
năm 1995
thị
phần
cùa Bảo
Việt
vẫn
chiếm
vị trí
hàng đầu
với
82%,
tiếp
theo
là Bào
Minh
chiếm
16%, còn
lại
2% là của PJICO và Bảo
Long,


thọ
đẩu
tiên,
đánh dấu
sự ra đời
của một nhánh mới
trong
ngành
kinh
doanh
bảo
hiểm
- nhánh bảo
hiểm
Nhàn
thọ.
Đây là một bước
tiến
lớn thể
hiện
nỗ
lực
của Chính phủ
Việt
Nam
trong việc
đa
dạng
hoa các sản phẩm trên
thị

hiểm
nhân
thọ
chỉ
chiếm
10%
tấng
phí bảo
hiếm
trên cả
thị
trường vào năm
1998,
thì đến năm
2004,
tỷ
trọng
này đã là
62.94%.
Trong
giai
đoạn
tới,
thị
trường bảo
hiểm
nhân
thọ
sẽ vẫn là nhân tố
chủ

trình
hội
nhập
quốc
tế.
Bên
cạnh
việc
cho phép các công
ty
bảo
hiểm
cố
phần
được phép thành
lập

hoạt
động.
Chính phủ
Việt
Nam đã
cho
phép các công ty bảo
hiểm
nước ngoài
tham
gia
vào
thị

nhau
song
đều có
nhu
cầu hợp
tác, trao đấi kinh
nghiệm
để cùng phát
triển.
Mặt khác
cạnh
tranh
trên
thị
trường ngày càng
trở
nên gay
gắt,

thế,
cần có một
tấ
chức
đứng ra
1
Nguồn: Viên Khoa học Tài
chính
(2005),
Báo cáo kết quá nghiên cứu đánh giá tác động của
việc

khách hàng. Hơn
thế nữa,
các
doanh
nghiệp
bảo
hiểm
Việt
Nam
cũng
cần có
một tiếng
nói
chung
để
đại diện
và bảo vệ
quyền

lợi
ích hợp pháp của mình
trong
quá trình
hoạt
động
kinh
doanh,
đặc
biệt


đã đánh dấu sự trưởng thành
trong
tiến
trình phát
triển
bền
vững
của ngành bảo
hiểm
cũng
như
của thị
trường bảo
hiểm
Việt
Nam.
Hệ
thống
pháp
luật
về bảo
hiểm
cho
tới
năm 2000 chưa đáp ứng
những
yêu cầu
hội
nhập
quốc

thảo
Luật
kinh
doanh
bảo
hiểm,
ngày 09/12/2000 Quốc
hội
nước Cộng hòa
XHCN
Việt
Nam đã thông qua
Luật
kinh
doanh
bảo
hiểm,

hiệu lực từ
ngày
01/04/2001
bao gồm 9 chương
129
điều.
Luật
này được xây
dựng
trên cơ sở
tổng
kết

doanh
Bảo
hiểm
lại
thêm một
lựn
nữa
khẳng
định
chắc
chắn
hơn nữa xu hướng mở cửa
thị
trường bảo
hiểm
Việt
Nam, xoa
bỏ thế
độc
quyền
nhà nước đã
tồn
tại
trong
gần 30 năm.
Nhận
thức

vai
trò

tháng 8/2003 Thủ tướng Chính phủ đã phê
duyệt quyết
định số 175/2003/QD-
TTG, về phê
duyệt
"Chiến
lược phát
triển
thị
trường bảo
hiểm
Việt
Nam đến
năm
2010".
Theo
chiến
lược này,
tổng
doanh
thu
của phí bảo
hiểm
tăng bình
quân
khoảng
24%/ năm;
trong
đó phí bảo
hiểm

loại
hình và qui mô,
hoạt
động
trong
các lĩnh
vực bảo hiểm nhàn thọ, bảo hiểm phi nhân thọ, tái bảo hiểm và môi
giới
bảo
hiểm.
Ngoài ra còn có sự góp mặt của hơn 30 văn phòng đại diện của cấc tổ
chức
bảo hiểm nước ngoài.
2. Các lĩnh vực bảo hiểm hiện có trẽn thị trường bảo hiểm Việt Nam
Bảo hiểm là một
phạm
trù kinh tế. Nó bao gầm các quá trình phân phối
lại
nhằm
đáp ứng nhu cầu đảm bảo của xã hội. Đặc trưng của nó là việc thành
lặp
mang
tính
chất
tập thể một quỹ dự trữ tài chính thông qua sự vận
dụng
các
quy luật
thống
kê và nguyên tắc cân đối

kê (bao gầm
thống
kẽ mức độ tổn thất và mức độ
trung
bình của các tổn thất,
thống
kê cấc đơn vị
rủi
ro) và nguyên tắc cân đối (có
nghĩa
là tổng số phí thu được phải
bằng
tổng
số
tiền
chi trả bổi thường).
Thứ hai, tính riêng rẽ của việc phân phối quỹ dự trữ, có
nghĩa
là chỉ phân
phối quỹ cho
những
thành viên khi có rủi ro bất ngờ gây thiệt hại
thuộc
phạm
vi
bảo hiểm xảy ra. Những rủi ro bất ngờ này về tổng thể phải dự đoán được và
hay xảy ra.
Do có đặc thù trên nên bảo hiểm có sự đóng góp
nhất
định vào việc đảm

Bảo
hiểm
nhân
thọ,
bảo
hiểm phi
nhân
thọ,
môi
giới
bảo
hiểm, tái
bảo
hiếm.
2.1.
Bảo
kiêm nhân
thọ
2.1.1. Khái niệm
Theo
điều
3
luật
kinh
doanh
Bào
hiểm
số 24/2000/QH10 ngày
22/2/2000
thì

Bảo
hiểm
sinh
kỳ,
-
Bảo
hiểm tử
kỳ,
-
Bảo
hiểm
hỗn hợp,
-
Bảo
hiểm
trả
tiền
độnh
kỳ.
-
Các
nghiệp
vụ bảo
hiểm
khác
do
Chính
phủ
qui
độnh

người
mua
bảo hiếm

một
người
-
Đơn bảo
hiếm
nhân
thọ
căn cứ vào
sinh
mạng
của
người
khác:
Trong
trường
hợp này,
đơn
được
ký căn cứ vào
sinh
mạng
của
người
khác,
tuy
nhiên

hiểm

thế
được

kết bởi hai người
được
bảo
hiểm

thường được

kết
bởi
một
đôi vợ
chổng
căn cứ vào
cuộc
sống
của
họ.
về mặt lý
thuyết,

thể

nhiều sinh
mạng
được

hợp
chết
đầu
tiên
thanh
toán
dựa
trên
cái
chết
đầu
tiên của
một
trong
hai người
được
bảo
hiểm.
Đơn bảo
hiểm
9
tử kỳ đối với trường hợp chết đầu tiên và hợp đồng thu
nhập
gia đình được sử
dụng
cho mục đích bảo vệ gia đình, và đơn này thường được sử
dụng
liên
quan
tới

nhạm
mục đích bảo vệ
người
phụ
thuộc
của họ khỏi nỗi bất
hạnh
do họ chết sòm
hoặc
bị thương tật,
hoặc
nhạm
mục đích đẩu tư để đáp ứng các nhu cẩu tài chính
trong
tương lai.
Các
loại
đơn bảo hiểm nhân thọ cơ bẳn chủ yếu rơi vào ba
loại
khác biệt sau:
- Đơn bảo hiểm nhân thọ tử kỳ: Được ký kết chí để bảo hiểm cho khả năng
xảy ra
trong
thời
gian
đã quy định cụ thể
trong
hợp đồng. Nếu cái chết không
xảy ra
trong

thanh
toán khi người được bảo hiểm chết. Do đơn bảo hiểm
này là hợp đồng dài hạn nên có yếu tố đầu tư, và đến một lúc nào đó hợp đổng
chắc
chắn
sẽ được
thanh
toán (không giống như bảo hiểm tử kỳ). Loại đơn bảo
hiểm này có giá trị hoàn lãi, thường là hai
hoặc
ba năm sau khi đã đóng phí
bảo hiểm.
- Đơn bảo hiểm hỗn hợp: Đây rõ ràng là hợp đổng đầu tư. Loại bảo hiểm này
được thiết kế để trả một số
tiền
tại một thời điểm cố định
trong
tương lai
hoặc
tại
thời điểm chết sớm hơn. Do vậy
loại
bảo hiếm này bảo hàm yếu tố bào vệ.
10
Loại
đơn bảo hiểm nhân thọ này
cũng
có giá trị hoàn lại như bảo hiểm trường
sinh.
2.2. Bảo hiểm phi nhân thọ

- Bảo hiểm
chấy,
nổ
- Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự cừa chừ tàu
- Bảo hiểm trách nhiệm
chung
- Bảo hiểm tín
dụng
và rừi ro tài chính
- Bảo hiểm thiệt hại kinh
doanh
- Bảo hiểm nông
nghiệp
- Các
nghiệp
vụ bảo hiểm phi nhân thọ khác do chính phừ qui
định.
2.2.2. Bảo hiểm tương hỗ
Tổ
chức
bảo hiểm tương hỗ là một đặc trưng cừa nghành
dịch
vụ bảo
hiếm
trong
xu thế kinh tế hiện đại. Xuất phát từ chính
thực
tế khi các nhà
cung
cấp

chức
bảo hiểm tương hỗ để hỗ trợ
nhau
trong
trường hợp phát
sinh
rủi ro là một vấn để hết sức thiết
thực.
Tuy chưa xuất
hiện
một tổ
chức
bảo hiểm tương hỗ nào ở
Việt
Nam, nhưng với sự ra đời của
các văn bản pháp luật ( Nghị định 18/2005/NĐ-CP qui định về việc thành lụp,
tổ
chức

hoụt
động của tổ
chức
bảo hiểm tương hỗ, Thông tư
52/2005/TT-
BTC hướng dẫn việc thành lập tổ
chức
bảo hiểm tương hỗ
trong
lĩnh vực nông
nghiệp, lâm

đó
doanh
nghiệp
bảo hiểm
nhận
một khoản phí bảo
hiểm của
doanh
nghiệp
bảo hiểm khác để cam kết bồi thường cho các trách
nhiệm đã
nhận
bảo hiểm.
2.3.2. Bân chất, nhiệm vụ
Đối
với
những
nền kinh tế đang
trong
giai đoụn mở cửa hội
nhập
với nền
kinh tế thế
giới
như
Việt
Nam, tái bảo hiểm là một lĩnh vực đặc biệt của hệ
thống
bảo hiểm nhà nước và đổng thời
cũng

trong
hợp đồng bảo hiểm.
12
- Khả năng thường xuyên xảy ra tổn thất (Nếu không có điều kiện này thì
không phát
sinh
nhu cầu bảo hiểm).
Nhiệm vụ chủ yếu của tái bảo hiểm là phán
chia
cấc rủi ro đã được bảo
hiểm của công ty bảo hiểm gốc cho một tập thể
những
cóng ty tái bảo hiểm và
thông qua đó sẽ tận
dụng
được một cách tối ưu các quy luật
thống
kê. Với
nhiệm vụ trên, tái bảo hiểm ổn định kinh
doanh
cho các công ty bảo hiểm gốc
và tựo điều kiện để
những
công ty này có thể
nhận
bảo hiểm cho
những
rủi ro
vượt quá khả năng tài chính của mình.
2.4. Mòi giới bảo hiểm

người
trung
gian
môi giới vì lợi ích
của người yêu cầu bảo hiểm,
nhằm
mục đích
thực
hiện việc ký kết hợp đổng
giữa người yêu cầu bảo hiểm và nhà bảo hiểm, sau đó được hưởng hoa
hổng
theo
quy định của pháp luật.
Theo
điều 90, Luật kinh
doanh
bảo hiểm
Việt
Nam, quy định nội
dung
hoựt
động của môi giới bảo hiểm gồm:
-
Cung
cấp thông tin về
loựi
hình bảo hiểm, điểu khoán, phí bảo hiểm,
doanh
nghiệp
bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm;

hiểm,
là một tổ
chức
cung
cấp
dắch
vụ tư vấn cho người yêu cầu bảo hiểm vè
các mặt đề phòng, hạn chế tổn thất
hoặc
đánh giá rủi ro, sắp xếp phương án
bảo hiểm, làm thủ tục
tham
gia bảo hiểm,
thay
mặt người
tham
gia bảo hiểm
hay người hưởng quyền lợi bảo hiểm để
tiến
hành đòi bổi thường khi xảy ra
rủi
ro.
li. CÁC CAM KẾT VỀ DỊCH vụ BẢO HIỂM MÀ VIỆT NAM THAM
GIA TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP
Trong
quá tự do hoa thương mại
dắch
vụ bảo hiểm, BTA và bản chào của
Việt
Nam gia

các cam kết của
Việt
Nam chỉ có thể ở mức độ cao hơn chứ không thể ở mức độ
thấp
hơn
những

Việt
Nam đã cam kết
trong
khuôn khổ BTA. Thêm vào đó, cho đến thòi điểm
hiện
nay, bẳn chào của
Việt
Nam
trong
lĩnh vực bảo hiểm
trong
khuôn khổ
GATS
cũng
tương đổng với
những

Việt
Nam đã cam kết
trong
BTA.
Trong
khuôn khổ bài luận văn này sẽ chỉ tập

trong
khuôn khổ GATS, Chính phủ
Việt
Nam đã cho phép nhà đầu tư nước ngoài được thành lập
doanh
nghiệp
bảo
hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài ở
Việt
Nam. về đối xử
quốc
gia, tuy còn
14
một
số hạn chế
đối với
doanh
nghiệp
nước ngoài nhưng chủ yếu là
đối với
bảo
hiểm
phi
nhân
thọ.
Do
đó, tác động của
việc
tự do hoa đã có
thể

kết
ngày
13/7/2000

chính
thức

hiệu
lực từ
tháng
12/2001
quy định rõ lộ trình
thực
hiện
các cam
kết
của
Việt
Nam
trong
lĩnh
vực bảo
hiểm.
Giói hạn vê
tiếp
cận
thị
trường:
Theo
Hiệp

Kỳ. Sau
6 năm (
sau
năm
2007),
cho
phép thành lập các
doanh
nghiệp
100% vốn đầu

của
Hoa Kỳ
kinh
doanh
các
loại
bảo
hiểm
bắt
buộc.
Đôi với bảo hiểm nhân thọ và các
lĩnh
vực bảo hiểm không bắt buộc
khác,
sau
3
năm kể từ
khi
Hiệp

Kỳ
không được
kinh
doanh
dịch
vụ
đại

bảo
hiểm
và thành
lập chi
nhánh công
ty
bảo
hiểm
nước ngoài
tại Việt
Nam.
Các công ty bảo
hiểm

vốn
Hoa Kỳ
phải
tái bảo
hiểm
bắt
buộc
với

Không hạn chế
với hiện diện
thương mại
trừ
bảo
hiểm
bắt
buộc
còn
về
sự hiện diện thể
nhân, chúng
ta
chưa cam
kết.
15
1.2.
Đánh
giá
những
tác
động của cam
kết
trên
đối với
sự
phát triển
thị
trường
bảo

hoạt
động ở
Việt
Nam. Cam
kết
trên của Chính phủ
Việt
Nam đã cho
phép các công
ty
bảo
hiểm
ở nước ngoài
tham gia
vào một
mảng
thị
trường
bào
hiểm
Việt
Nam. Cam
kết
mở cấa
thị
trường bảo
hiếm
vận
tải
quốc tế

nước ngoài (do
hàng hoa chủ yếu được
nhập
vào
Việt
Nam
theo
giá
CIF,
xuất
khẩu
từ
Việt
Nam
theo
giá FOB). Tuy
nhiên,
việc
cho phép các
doanh
nghiệp
có vốn đầu
tu
nước
ngoài ở
Việt
Nam mua bảo
hiểm
của các công
ty

quốc
gia khi
được
tự
do
lựa
chọn
nhà
cung
cấp
bảo hiểm,
rất

thể
sẽ
lựa chọn
sấ
dụng
dịch
vụ của các công
ty
bảo
hiểm

nước
ngoài
theo
công ty mẹ.
Hiện
nay khách hàng chủ yếu của các

Việt
Nam
sang
các công
ty
bảo
hiểm
ở nước
ngoài,
các
doanh
nghiệp
bảo hiểm phi
nhân
thọ
có vốn nước ngoài ở
Việt
Nam sẽ bị ảnh hưởng
lớn.
Trong
lĩnh
vực bảo
hiểm
nhân
thọ,
hầu
hết
các
doanh
nghiệp

tương
lai.
Vì vậy cam
kết
này sẽ ảnh
hường
đến
thị
phần
phân
chia trong
lĩnh
vực bảo
hiếm
nhân
thọ.
Sau
giai
đoạn
2006-2010, thị phần
của các
doanh
nghiệp
bảo
hiểm
nhân
thọ lớn
của
Việt
Nam như Bảo

DNBH
nhân
thọ
giai
đoạn
2000-2010
Tên doanh nghiệp
2000 2001
2002 2003 2004 2005 2006
2007 2008 2009 2010
[.Bào
Việt
71,58
66.08
59,41
55,49
53,69
54,07
51,30
48,66
45,66
42,24
39,19
2.Prudential
19,36
24,27
31,28
35,06
35,28
32,80

giải
pháp phát
triển thị
trường báo hiểm phù hợp
với tiến
trình
hội
nhập
KTQT-
trang
112
Song
song
với việc
giảm
doanh
thu
phí bảo
hiểm
của các doanh
nghiệp
bảo
hiểm
hiện
đang
hoạt
động ở
Việt
Nam là
việc

tiết
kiệm
được
chi
phí bảo
hiểm
do cùng
tham
gia
bảo
hiểm
với
công ty mẹ hoặc các
công ty khác
trong
cùng
tập
đoàn. Tuy nhiên,
việc
sử dụng dịch vụ mua ở
nước ngoài
cũng
không hoàn toàn đơn
giản,
đặc
biệt

đẹi với rủi
ro
lớn,

phí
nhiều
hơn
khi
cử
chuyên
gia
sang
Việt
Nam để đánh giá xác định mức độ
rủi ro.
Việc
mở cửa
thị
trường này sẽ
tạo
thêm cơ
hội
phát
triển
cho cấc doanh
nghiệp
môi
giới
bảo
hiểm,
đặc
biệt
các công ty môi
giới

Thị trường bảo
hiểm
cho các doanh
nghiệp

vẹn
nước ngoài và vận
tải
quẹc
tế
được mở cửa
theo
phương
thức
cung
cấp
qua
biên
giới
sẽ
tạo
điều
kiện
cho các doanh
nghiệp
môi
giới
bảo
hiểm
ở nước

nước do
mạng
lưới
quan
hệ vói
các
doanh
nghiệp
bảo hiểm ờ nước ngoài,
kiến
thức
cũng
như kinh nghiệm về
bảo hiếm ở nước ngoài còn hết sức hạn chế, nếu không nói là hoàn toàn chưa
có.
Về
hiện diện thương mại, các hạn chế hiện giờ về đối xử
quốc
gia sẽ bị
xoa bủ, có
nghĩa
là các
giới
hạn về lĩnh vực
hoạt
động, đối tượng
phục
vụ của
các
doanh

đồng và môi trường.
Trong
tương lai gần, việc xoa bủ các rào cản pháp lý này của Chính Phủ
Việt
Nam sẽ chưa gáy ảnh hưởng lớn tới
doanh
nghiệp
bảo hiểm
trong
nước,
do
trong
hầu hết các lĩnh vực bảo hiểm này, việc giành được hợp đồng phụ
thuộc
rất nhiều vào
quan
hệ giữa công ty bảo hiểm và chủ dự án. Các
doanh
nghiệp
bảo hiểm có vốn nước ngoải, mới
tham
gia vào thị trường chưa thể có
được
mạng
lưới
quan
hệ tốt với các chủ dự án như các
doanh
nghiệp
bảo hiểm

năm sau khi
Việt
Nam gia
nhập
Tổ
chức
thương mại thế
giới
theo
bẳn chào
của
Việt
Nam
trong
khuôn khổ GATS. Qui định bắt
buộc
tái bảo hiểm cho
Vinare,
một mặt sẽ tạo
doanh
thu cho
Vinare,
giảm thiếu việc
chuyển
phí bảo
hiểm ra nước ngoài thông qua các hợp đồng tái bảo hiểm cho các công ty tái
18
bảo hiểm

nước ngoài, góp

phải
được tăng cường về cả khả năng tài chính
lẫn
kỹ nàng chuyên môn và
kinh
nghiệm quản
lý. Nếu không đủ khả năng
giị
lại
phí bảo
hiểm
của các
hợp
đồng này mà
phải
tái bảo
hiểm
lại
cho các công
ty

nước
ngoài,
thì
cuối
cùng phí bảo
hiểm
của các hợp đồng vẫn không được
giị
lại

chức
lại
trong
năm
2004
đế có khả năng huy động vốn
tốt
hơn, cơ chế
tổ
chức quản

linh
hoạt
hơn. Trong
nhịng năm gần đày
tỉ lệ
phí
nhận
tái bảo
hiểm bắt buộc
trên
tổng
phí đã
bắt
đầu
giảm,
nhường chỗ cho phí
nhận tái
bào
hiểm

trong
đó đề cập đến khá chi
tiết
việc
mở cửa thị trường
dịch
vụ tài chính nói
chung
và thị trường bảo hiểm nói riêng
theo
lộ trình.
Theo
công bố của Bộ Tài chính thì hầu hết các
dịch
vụ tài chính đều cam
kết
mở cửa rộng rãi, các
doanh
nghiệp
nước ngoài có thể
tham
gia thị trường
Việt
Nam với hình
thức
đầu tu 100% vốn nước ngoài
trong
thời
gian
tối đa là

dưới
dựng
liên
doanh
với một công ty bảo hiểm
Việt
Nam. Sau khi
Việt
Nam
gia
nhập
WTO, các công ty bảo hiểm nước ngoài sẽ được thành lập chi nhánh
100% vốn nước ngoài, và 5 năm sau khi
Việt
Nam gia
nhập
WTO, các công ty
này sẽ được phép
cung
cấp
dịch
vụ bảo hiểm phi nhân thọ, nhưng không cho
phép thành lập chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ.
Việc
hựn chế các cóng ty bảo hiểm ở nước ngoài không được phép
cung
cấp một số
loựi
bảo hiểm bắt
buộc

Việt
Nam sẽ cho phép các công ty bảo hiểm nước ngoài hưởng chế độ đãi
ngộ
quốc
gia một cách đầy đủ. Hơn nữa,
Việt
Nam sẽ
thực
thi cam kết của
mình về chi nhánh của các công ty bảo hiểm nước ngoài
theo
cách phù hợp
20

Trích đoạn tăng trưởng với tốc độ nhanh Đến hết năm 2005, tổng doanh thu phí bảo hiếm trên thị trường đã đạt xấp xỉ Ì tỷ USD, tương đương 2,03% GDP. ViệtNam được nhặn định là một trong những nước hay bị thiên tại nhất trên thế giới với 7 0 % dân số có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi thiên tai, đ ặc biệt là động môi giới bảo hiểm để lĩnh vực này có những đóng góp tích cực hơn nữa vào sự phát triển của thị trưẫng bảo hiểm Việt Nam và tạo môi trưẫng pháp lý Chi phối số lượng hợp đổng bảo hiểm ngởn hạn trả phí một lần Phát triển bảo hiếm tai nạn và bảo hiểm y tế hàng năm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status