luận văn đa dạng trong các gói bảo hiểm duy trì và đảm bảo an tòan cho kinh doanh - Pdf 12

Luận văn: Đa dạng trong các gói bảo hiểm duy trì
và đảm bảo an tòan cho kinh doanh


1

Phần mở đầu
Trong những năm qua, thực hiện đường lối phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh
tế nước ta đã có sự biến đổi sâu sắc và mạnh mẽ. Cùng với sự đi lên của nền kinh tế
Việt Nam, hoạt động kinh doanh bảo hiểm cũng phát triển hết sức sôi động. Thị
trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay đã xuất hiện nhiều nghiệp vụ bảo hiểm mới
nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tham gia bảo hiểm. Trong số những

1.1. Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
1.1.1. Sự ra đời của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
Bảo hiểm là một hoạt động tài chính, có tính chất chuyên ngành mà thông qua các
hoạt động này các cá nhân và tổ chức kinh tế xã hội cùng tham gia đóng góp một
khoản tiền nhất định để tạo lập nên quĩ bảo hiểm và khoản đóng góp đó gọi là phí
bảo hiểm. Khi không may gặp phải những rủi ro, tổn thất ngoài mong đợi của các
thành viên đóng góp thì lúc đó quĩ bảo hiểm sẽ phát huy tác dụng của nó là giúp đỡ
các thành viên này nhanh chóng ổn định sản xuất và đời sống, tiếp tục công việc

3

kinh doanh một cách bình thường. Ngày nay, hoạt động bảo hiểm chủ yếu được
thực hiện thông qua hoạt động kinh doanh bảo hiểm của các tổ chức bảo hiểm.
Nhìn lại sự ra đời và phát triển của bảo hiểm, chúng ta thấy bảo hiểm có nguồn gốc
từ rất xa xưa trong lịch sử nền văn minh nhân loại. Tuy vậy, khi mới ra đời thì các
nghiệp vụ bảo hiểm không phong phú, đa dạng như ngày nay. Xã hội ngày càng
phát triển, hoạt động kinh doanh ngày càng hoàn thiện đã dần dần làm nảy sinh
nhiều nhu cầu bảo hiểm mới. Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là một trong các
nghiệp vụ bảo hiểm mới đó. So với bảo hiểm hàng hải hay bảo hiểm hoả hoạn, bảo
hiểm gián đoạn kinh doanh ra đời muộn hơn rất nhiều. Vào những năm đầu của thế
kỷ XX, mặc dù bị sự thúc ép của chính phủ và yêu cầu của các nhà sản xuất nhưng
các công ty bảo hiểm ở Anh vẫn chưa tiến hành bất cứ loại hình bảo hiểm "tổn thất
hậu quả" nào. Sự chậm trễ đó là do tính phức tạp trong việc phân tích các chi phí tài
chính, xác định phạm vi bảo hiểm trong điều kiện nền kinh tế chính trị chưa ổn
định. Sau đó, với sự ra đời của hai nguyên tắc Herry Booth & Commercial Union
(năm 1923) và Polikoff Ltd vs North British and Mercantile (năm 1936) mới thật sự
đặt nền móng cho bảo hiểm gián đoạn kinh doanh hình thành và phát triển.
Khi mới triển khai, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh được biết đến dưới tên gọi "bảo
hiểm mất lợi nhuận" hay "tổn thất hậu quả" do mục đích của nó là bồi thường cho
người được bảo hiểm đối với trường hợp bị mất lợi nhuận và các chi phí phụ để tiếp


kinh doanh) do Muniche và Vinare đồng tổ chức. Từ đó đến nay, hàng năm các
công ty bảo hiểm đều liên kết với nhau tổ chức hội thảo đề cập tới vấn đề này. Điều
này khẳng định vai trò quan trọng của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh trong việc
đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh cho mọi thành phần kinh tế, tạo tâm lý ổn
định cho các nhà đầu tư,
Tóm lại, nếu ta coi bảo hiểm thiệt hại vật chất là điều kiện cần thì bảo hiểm gián
đoạn kinh doanh sẽ là điều kiện đủ trong một đơn bảo hiểm hỗn hợp.
1.1.2. Vai trò kinh tế xã hội của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
1.1.2.1. Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là "lá chắn kinh tế" của các doanh
nghiệp, góp phần giảm thiểu những hậu quả ảnh hưởng của các rủi ro đến hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi
doanh nghiệp đôi khi xảy ra những rủi ro bất ngờ mà không ai lường trước được.
Các rủi ro đã và đang gây nên những tổn thất, thiệt hại về tài sản, về tính mạng của
con người, làm gián đoạn quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật
được ứng dụng trong sản xuất kinh doanh, từ đó làm cho qui mô của hoạt động sản
xuất kinh doanh ngày càng mở rộng. Do vậy, giá trị tài sản của doanh nghiệp ngày
càng lớn. Nếu chẳng may rủi ro thiệt hại xảy ra thì hậu quả thường rất nặng nề và
ảnh hưởng lâu dài không chỉ tới bản thân chính doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng
đến cả các doanh nghiệp, cá nhân thường xuyên có quan hệ với doanh nghiệp. Sự ra
đời của các công ty bảo hiểm đã giúp các đơn vị sản xuất kinh doanh ổn định tình

6

hình sản xuất, đảm bảo công việc kinh doanh được tiến hành bình thường. Thông
qua việc bồi thường một cách kịp thời, chính xác, trung thực đã giúp cho các doanh
nghiệp nhanh chóng khắc phục được hậu quả thiệt hại. Bên cạnh đó, với sự chuyển
đổi của cơ chế quản lý, Nhà nước đ• chủ động giao vốn cho các doanh nghiệp, chủ

nhiều yếu tố rủi ro mang tính ngẫu nhiên xảy ra bất cứ lúc nào và không loại trừ bất
cứ ai. Các công ty bảo hiểm là các doanh nghiệp kinh doanh hoạt động trên cơ sở
xử lý, chuyển giao, phân tán rủi ro, vì vậy để hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn,
cần thiết các doanh nghiệp bảo hiểm phải tìm cách giảm thiểu xác suất xảy ra rủi ro.
Một trong số các biện pháp mà các doanh nghiệp bảo hiểm đang áp dụng rất hiệu
quả đó là biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất nhằm bảo vệ đối tượng bảo hiểm.
Hàng năm, các công ty bảo hiểm thường trích ra một khoản theo tỉ lệ nhất định trên
cơ sở nguồn phí thu được để thực hiện các biện pháp phòng tránh cần thiết có hiệu
quả nhất. Phí thu được từ các đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tất yếu sẽ có phần
đóng góp trong đó. Vì vậy, có thể nói bảo hiểm gián đoạn kinh doanh góp phần đề
phòng, hạn chế tổn thất, mang lại sự an toàn cho các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh nói riêng và cho toàn xã hội nói chung.

8

1.1.2.3. Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh góp phần tăng thu cho ngân sách Nhà
nước, thúc đẩy kinh tế phát triển
Cũng như nhiều nghiệp vụ bảo hiểm khác nói riêng và những loại hình kinh doanh
dịch vụ khác nói chung, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh góp phần tăng thu cho ngân
sách Nhà nước, đặc biệt tăng nguồn thu từ ngoại tệ cho Nhà nước. Một phần nguồn
phí thu được từ nghiệp vụ bảo hiểm này hàng năm được đóng góp vào ngân sách
Nhà nước để sử dụng vào các mục đích chính trị, xã hội. Ngoài ra, một phần phí thu
được tạm thời nhàn rỗi từ các hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đã tạo ra
lượng vốn lớn để phát triển nền kinh tế thông qua việc đầu tư.
Tất cả những gì đã nêu trên là minh chứng rõ ràng và đầy đủ cho sự cần thiết của
việc tham gia bảo hiểm gián đoạn kinh doanh.
1.2. Những nội dung cơ bản của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
1.2.1. Đặc điểm của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh "bảo hiểm cho các tổn thất mất giảm thu nhập thực
tế và tiềm năng cũng như các phụ phí phát sinh từ hậu quả của tổn thất vật chất"

gián đoạn kinh doanh là đối tượng vô hình.

10

Trong biểu đồ trên, người ta đã giả định một doanh thu tĩnh song trong thực tế, rất
nhiều ngành nghề biến động theo mùa và tất nhiên cần phải xem xét yếu tố này khi
giải quyết bất kỳ khiếu nại nào. Vì vậy, trong đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
thường nêu rõ công thức sẽ được sử dụng khi giải quyết bồi thường tổn thất.
- Đặc điểm về giai đoạn bồi thường:
Một đặc trưng cơ bản của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là người được bảo hiểm
được chọn một "giai đoạn bồi thường". Đó là giai đoạn mà theo tính toán của người
được bảo hiểm sẽ đủ để người đó khôi phục lại kinh doanh, hoàn toàn khôi phục lại
khả năng hoạt động và doanh thu kể cả khi đã xảy ra vụ hoả hoạn nghiêm trọng
nhất. Người được bảo hiểm sẽ chọn "giai đoạn bồi thường" tối đa, có thể là 12
tháng, 18 tháng, , và "giai đoạn bồi thường" sẽ được đưa vào hợp đồng bảo hiểm.
"Giai đoạn bồi thường" tối đa phụ thuộc vào các yếu tố sau:
"+Thời gian để sửa chữa, xây dựng lại tài sản bị thiệt hại. Thời gian này được tính
bao gồm cả thời gian thiết kế, lên kế hoạch và cả thời gian xin các loại giấy phép.
+ Thời gian thay thế máy móc, nguyên vật liệu. Việc đánh giá chính xác khoảng
thời gian này là rất quan trọng và phụ thuộc vào loại máy móc, nguyên vật liệu. Nếu
như doanh nghiệp sử dụng các máy móc, nguyên vật liệu phải nhập khẩu hoặc loại
đặc biệt thì việc ổn định tình hình kinh doanh trong một thời gian ngắn là hết sức
khó khăn.
+ Thời gian cần thiết để khôi phục năng suất và tính hiệu quả kinh doanh trở về
bình thường như trước khi xảy ra tổn thất, bao gồm cả thời gian để giành lại những
khách hàng đã mất." [5, 6].

11

- Đặc điểm về tổn thất vật chất:

Điều kiện rõ ràng
a) Điều kiện ngầm định
Trong thực tế, có những điều kiện ngầm định không được thể hiện bằng văn bản
nhưng hai bên phải luôn tuân thủ trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng.
- Quyền lợi được bảo hiểm: Trong luật bảo hiểm Anh và nhiều nước, trong đó có
Việt Nam có qui định về quyền lợi được bảo hiểm. Theo đó, để có đủ năng lực pháp
lý tham gia vào hợp đồng bảo hiểm thì người tham gia bảo hiểm phải là người có
quyền lợi khi đối tượng bảo hiểm đó bị thiệt hại. Điều đó có nghĩa là đối tượng bảo
hiểm, đặc biệt là tài sản phải thuộc quyền sử dụng hay quản lý hợp pháp của các cơ
quan doanh nghiệp, các cá nhân và tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế trong xã
hội và họ chính là người tham gia bảo hiểm.
- Tín nhiệm tuyệt đối: Điều kiện "tín nhiệm tuyệt đối" được áp dụng trong quan hệ
bảo hiểm giữa người bảo hiểm đối với người tham gia bảo hiểm. Điều đó có nghĩa
là người tham gia bảo hiểm phải có trách nhiệm kê khai trung thực, đầy đủ và chính
xác giá trị tài sản hoặc là tình trạng sức khoẻ, trong phạm vi kiến thức và sự hiểu
biết của họ khi người bảo hiểm yêu cầu. Những thông tin này là cơ sở để người bảo

13

hiểm có chấp nhận bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm hay không. Người tham gia
bảo hiểm không được thực hiện bất cứ hành vi man trá hay gian dối nào trong thời
gian hiệu lực cuả hợp đồng nhằm trục lợi. Việc tuân thủ đúng nguyên tắc này đóng
vai trò quan trọng trong việc giao dịch bảo hiểm.
-Bồi thường: Khi có sự cố rủi ro thuộc trách nhiệm bảo hiểm gây thiệt hại cho
người được bảo hiểm, người được bảo hiểm sẽ được bồi thường theo đúng qui định
của hợp đồng. Hiện nay có ba hình thức bồi thường được sử dụng:
+ Thanh toán bằng tiền mặt. Đây chính là hình thức phổ biến nhất. Công ty bảo
hiểm xác định giá trị tổn thất thực tế bằng tiền và thực hiện bồi thường cho khách
hàng.
+ Sửa chữa đối với loại tài sản bị tổn thất còn khả năng sửa chữa.

câu hỏi đó đều có giá trị đối với công ty bảo hiểm.
Đơn yêu cầu bảo hiểm chính là cơ sở của hợp đồng bảo hiểm và là một phần không
thể thiếu trong hợp đồng bảo hiểm.
* Đơn bảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm:
Sau khi đơn yêu cầu bảo hiểm được trình bày hợp lý và công ty bảo hiểm chấp nhận
đơn đó, công ty bảo hiểm sẽ cấp cho người được bảo hiểm đơn bảo hiểm kèm theo
giấy chứng nhận bảo hiểm. Đơn bảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm là bằng

15

chứng về việc xác lập hợp đồng, trong đó bao gồm mọi chi tiết về việc bảo hiểm.
Trong đơn bảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm phải đề cập được các nội dung
sau:
Tên, địa chỉ doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm hoặc
người thụ hưởng.
Đối tượng bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản được bảo hiểm đối với bảo hiểm tài sản
Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm
Thời hạn bảo hiểm
Mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm
Thời hạn, phương thức trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường
Các qui định giải quyết tranh chấp
Ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng
Ngoài ra còn có thể có những nội dung khác do các bên thoả thuận.
1.2.2.2. Hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
Hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh giống như bất kỳ một hợp đồng bảo hiểm
nào đều mang đầy đủ các nội dung cũng như đặc điểm của một hợp đồng bảo hiểm
như đ• đề cập ở phần lý luận trên. Tuy nhiên, do tính đặc thù của loại nghiệp vụ bảo
hiểm này nên nó cũng có những đặc điểm riêng so với các loại hợp đồng bảo hiểm
khác. Trong phần lý luận sau, do phạm vi nghiên cứu của đề tài này như đ• đề cập ở

xuất không được bảo hiểm]" [5, appendix A].
1.2.2.2.2. Đối tượng bảo hiểm
Như đã đề cập trong phần đặc điểm của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh, đối tượng
bảo hiểm trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là đối tượng vô hình. Khác với các
loại nghiệp vụ bảo hiểm thiệt hại vật chất có đối tượng bảo hiểm là hữu hình, đối
tượng bảo hiểm trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh do đặc tính trừu tượng như
vậy đã gây rất nhiều khó khăn cho các nhà bảo hiểm. Đây cũng chính là lý do khiến
cho một nghiệp vụ bảo hiểm rất quan trọng như bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đã
ra đời quá muộn so với các nghiệp vụ khác. Theo đơn bảo hiểm qui chuẩn của Anh
quốc mà ngày nay rất nhiều quốc gia trên thế giới cũng đang sử dụng thì đối tượng
bảo hiểm của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là "tổn thất mang tính hậu quả do việc
ngừng trệ hay gián đoạn" [5, 6].
1.2.2.2.3. Số tiền bảo hiểm
Khác với số tiền bảo hiểm trong các nghiệp vụ bảo hiểm thiệt hại vật chất được xác
định dựa trên giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm của bảo hiểm gián đọan kinh doanh
được xác định dựa trên giá trị lợi nhuận gộp hàng năm của doanh nghiệp tham gia
bảo hiểm. Số tiền bảo hiểm trong loại hình nghiệp vụ này do người được bảo hiểm
xác định, được tính từ số liệu kế toán của người được bảo hiểm và phải thể hiện
được giá trị lợi nhuận gộp ước tính trong tương lai của doanh nghiệp được bảo
hiểm. Để xác định giá trị đó, số liệu kế toán của năm gần nhất sẽ được sử dụng. Tuy

18

nhiên, thường thì người ta sử dụng số liệu kế toán của hai hoặc ba năm liên tiếp
nhằm tránh những biến động bất thường có thể ảnh hưởng tới tính chính xác của số
liệu. "Khi thời hạn bồi thường là 12 tháng hoặc thấp hơn, số tiền bảo hiểm phải là
giá trị hàng năm của lợi nhuận gộp. Nếu thời hạn bồi thường vượt quá 12 tháng số
tiền bảo hiểm phải là lợi nhuận gộp cho thời hạn bồi thường được chọn" [5, 7]. Ví
dụ nếu thời hạn bồi thường là 3 năm thì số tiền bảo hiểm là 3 lần giá trị lợi nhuận
gộp hàng năm.

nhận bởi công ty bảo hiểm hay người đại diện cho công ty bảo hiểm" [2, 1].
1.2.2.2.5. Điều khoản loại trừ
"Đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh không bảo hiểm cho các tổn thất do hậu quả
của:
- Thiệt hại do thiết kế sai, khuyết tật của nguyên vật liệu hay do tay nghề kém;
do những khuyết tật ẩn tì; do sự thoái hoá dần giá trị hoặc do sự biến dạng, hao mòn
tự nhiên; do việc ngừng cung cấp điện, nước, khí đốt hay các nguồn nguyên liệu
khác hay do sự hư hỏng của hệ thống thải rác; do ăn mòn, gỉ; do sự thay đổi độ ẩm

20

hay khô của thời tiết; do nấm mốc mục nát; do hao hụt bay hơi, do hư hại do tác
động của ánh sáng, sâu bọ côn trùng; do các hành động lừa dối không trung thực.
- Thiệt hại do những mất mát không giải thích được, những thiếu hụt do lỗi kế
toán, lỗi kiểm kê, quản lý hành chính.
- Thiệt hại do đổ vỡ, rạn nứt hay áp suất quá tải của nồi hơi, bình đun bằng
hơi, bình hay đường ống dò gỉ; do hư hỏng trục trặc máy móc thiết bị về đo điện
hay cơ khí; vỡ, tràn nước, tháo nước hay dò gỉ.
- Thiệt hại do sự xói mòn của sông biển; sụt lở đất, lún đất.
- Thiệt hại do tài sản bị biến mất, thiếu hụt khi kiểm kê trong quá trình vận
chuyển ngoài khu vực được đề cập hoặc không rõ nguyên nhân.
- Thiệt hại do thông tin bị tẩy xoá, mất mát, bóp méo trên hệ thống máy tính
hoặc các chương trình phần mềm lưu trữ số liệu khác.
- Thiệt hại đối với kính lắp cố định, kính và các đồ dễ vỡ khác, các máy điện
toán, các thiết bị xử lý dữ liệu, máy móc thiết bị đang lắp đặt, di chuyển, tài sản
đang trong quá trình kiểm tra, lắp đặt, sửa chữa, xây dựng, xe cơ giới đang lưu hành
trên đường.
- Thiệt hại do bất kỳ hành động cố ý hay sự cẩu thả cố tình của người được
bảo hiểm hay bất kỳ ai đại diện cho họ.
- Thiệt hại do hậu quả dù trực tiếp hay gián tiếp của chiến tranh, xâm lược, các

thường. Thời hạn bồi thường càng cao có nghĩa là trách nhiệm bồi thường của nhà
bảo hiểm càng lớn, vì thế phí bảo hiểm cũng tăng tương ứng. Ví dụ, theo biểu phí
Bảo Việt Hà Nội hiện đang triển khai thì nếu thời hạn bồi thường là 3 tháng thì tỉ lệ
phí bảo hiểm là 50% tỉ lệ phí bảo hiểm của bảo hiểm hoả hoạn, nếu 6 tháng là 75%,
nếu 12 tháng là 100%. Tuy nhiên, thời hạn bồi thường tăng đến một mức nhất định
thì phí bảo hiểm có xu hướng giảm dần do cơ sở tính phí sẽ thay đổi.
1.2.2.2.6. Thời hạn và phương thức bồi thường
Bồi thường là nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm. Trong bảo hiểm gián đoạn kinh
doanh, rất khó xác định số tiền bồi thường mặc dù đã có công thức xác định cách
giải quyết tổn thất được ghi trong nội dung đơn bảo hiểm. Kế toán của người được
bảo hiểm thường tham gia xác định mức lãi kinh doanh của doanh nghiệp sẽ thu
được nếu như vụ hoả hoạn hay một hiểm hoạ nào đó không xảy ra.
Vấn đề bồi thường trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh khác với bồi thường trong
thiệt hại vật chất. Nếu như mục đích của bảo hiểm bồi thường trong các đơn bảo
hiểm thiệt hại vật chất là đưa người bảo hiểm trở về vị trí giống như trước khi xảy
ra tổn thất , thì đối với bảo hiểm gián đoạn kinh doanh lại không hoàn toàn như vậy.
Chúng ta hãy xem xét một ví dụ ngắn. Một nhà sản xuất hàng phục vụ lễ Giáng
Sinh.Và hiện giờ hàng đang trong nhà kho chờ ngày đem bán. Một vụ cháy xảy ra ở
nhà kho, phá huỷ hầu hết số hàng hoá phục vụ cho Giáng Sinh. Như vậy ta sẽ thấy
ngay có một số nhân tố khiến hầu như không thể đưa người được bảo hiểm trở về vị
trí tài chính giống như trước khi xảy ra tổn thất như nhà sản xuất đã bỏ lỡ thị

23

trường, mất khách hàng Vì vậy, đối với các đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh,
bồi thường có thể được coi là một nỗ lực đưa người bảo hiểm trở về vị trí tài chính
mà lẽ ra người đó sẽ phải có nếu như tổn thất không xảy ra.
Để xác định số tiền thiệt hại lợi nhuận gộp, công thức sau thường được sử dụng:
Tỉ lệ lợi nhuận gộp = lợi nhuận được đảm bảo
Tổng giá trị các tài khoản thu nhập liên

2.1.1. Giới thiệu chung về Công ty bảo hiểm Hà Nội
Công ty bảo hiểm Hà Nội (gọi tắt là Bảo Việt Hà Nội) được thành lập từ năm 1980
theo quyết định số 1125/QĐ-TCCB ngày 17/11/1980 của Bộ Tài chính, và trực
thuộc Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam. Nhiệm vụ chủ yếu của Bảo Việt Hà Nội là
tổ chức hoạt động kinh doanh bảo hiểm thương mại trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Trải qua 21 năm hoạt động liên tục, công ty Bảo Việt Hà Nội đã không ngừng lớn
mạnh cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Từ lúc đầu thành lập chỉ có 10 cán bộ với một
phòng nhỏ làm trụ sở, đến nay Bảo Việt Hà Nội đã trở thành một đơn vị kinh tế
mạnh với đội ngũ hàng trăm cán bộ bảo hiểm, có trụ sở chính khang trang, thành lập
các văn phòng trực thuộc tại tất cả các quận, huyện trên địa bàn thành phố cùng
mạng lưới cộng tác viên, đại lý phủ kín các địa bàn dân cư của thành phố, sẵn sàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status