Bài Giảng Bệnh Ngoại Khoa Thú Y - Pdf 12

TIẾT 1:
ĐỀ PHÒNG NHIỄM TRÙNG KHI PHẪU THUẬT
Trong phẫu thuật ngoại khoa nhiễm trùng vết mổ là một trong những nguyên
nhân quan trọng nhất dẫn đến phẫu thuật thất bại. Ðể tránh nhiễm trùng vết mổ,
trong quá trình chuẩn bị phẫu thuật, tiến hành phẫu thuật và chăm sóc, hộ lý sau phẫu
thuật, chúng ta phải làm tốt các công việc sau đây:
I. Chuẩn bị địa điểm phẫu thuật
1. Phòng mổ
- Nếu phẫu thuật trong phòng thì trước khi phẫu thuật bật hệ thống đèn tử
ngoại và duy trì trong 30 phút để tiêu diệt vi khuẩn trong phòng.
2. Bãi mổ
- Nếu không có phòng mổ thì tối thiểu chúng ta cũng phải có được một khu
vực bằng phẳng, sạch sẽ, đủ rộng để tiến hành phẫu thuật gọi là bãi mổ.
- Bãi mổ cần đáp ứng các yêu cầu sau:
+ Tuyệt đối không được sử dụng những nơi nghi nhiễm vi khuẩn có nha bào
làm nơi phẫu thuật như nền chuồng trại trước đây đã có vật nuôi chết, nơi xử lý các
ổ nhiễm trùng hay mổ khám xác chết, nơi chôn xác hay chất thải của các vật nuôi
đã chết vì các bệnh nhiệt thán, uốn ván, ung khí thán…
+ Chọn nơi tương đối bằng phẳng và có diện tích đủ rộng để thực hiện phẫu
thuật như một khoảng sân, một đám đất trống, một bãi cỏ…
+ Bãi mổ phải có đầy đủ ánh sáng, tránh được nắng, mưa, gió.
+ Trước khi phẫu thuật cần dọn sạch gạch, đá, cành cây, dây thép, đinh gai
hay các vật cứng khác để tránh gây sát thương cho người và vật nuôi.
+ Để khử trùng và hạn chế cát, bụi bay lên, có thể phun lên mặt nền bằng
một số dung dịch sát trùng như formalin 4%, cloramin T 0,5%, thuốc tím 0,1%
II. Chuẩn bị động vật phẫu thuật
1
1. Kiểm tra chung
- Trước tiên kiểm tra hoạt động của các hệ tuần hoàn, hô hấp đây là hai hệ
nhất thiết phải kiểm tra trước khi phẫu thuật. Ngoài ra có thể kiểm tra các chức
năng của gan, thận… Xác định được các quá trình bệnh lý trong cơ thể giúp ta đề

- Thụt rửa âm đạo bằng dung dịch acid lactic 1%, rivanol 0,1%, cresol 2%,
thuốc tím 0,1%, còn da xung quanh vùng âm hộ thì bôi cồn iod 3%.
- Thụt rửa trực tràng bằng dung dịch thuốc tím 0,1%, cresol 2%, da xung
quanh hậu môn bôi cồn iod 3%.
III. Tiệt trùng dụng cụ và nguyên liệu dùng trong phẫu thuật
1. Phương pháp luộc
- Dùng nồi chuyên dụng hoặc gia dụng, đảm bảo sạch sẽ, vô trùng.
- Nước dùng để luộc tốt nhất là nước cất, nếu không phải sử dụng nước mưa,
nước lọc.
- Khi tiệt trụng phải đun sôi nước 3 phút, sau đó cho dụng cụ phẫu thuật đã
tháo từng chi tiết vào đun sôi thêm 30 phút.
- Vớt ra cho vào khay vô trùng, phủ vải gạc vô trùng lên.
Riêng dụng cụ bằng thủy tinh: tháo rời, bỏ vào nồi luộc khi nước còn lạnh.
 Phương pháp này vừa đơn giản, dễ thực hiện, rẻ tiền lại cho hiệu quả tốt.
2. Phương pháp hấp ướt thường
- Có thể dùng phương pháp hấp hơi ở áp suất thường để xử lý dụng cụ, hình
thức như đồ sôi.
- Dùng xoong nhôm hay tráng men có thành đứng và cao, có nắp đậy kín. Đổ
nước vào xoong, đạt 1/3 dung tích của nó, phía trên đặt khay đục lỗ đựng dụng cụ,
đậy vung, đun sôi nước. Hơi nước sôi đi qua dụng cụ để phía trên, hiệu quả tiệt
trùng tốt.
- Thời gian xử lý kéo dài 30’ kể từ khi nước sôi.
3
3. Phương pháp đốt bằng cồn
Cho dụng cụ vào khay, đổ cồn vào rồi đốt trong vòng 5 phút.
 Phương pháp này có ưu điểm là nhanh, tiệt trùng tốt nhưng chỉ tiến hành
được với các dụng cụ không cháy và cũng làm cho dụng cụ chóng bị hư hỏng.
4. Phương pháp hấp ướt cao áp
Dùng nồi hấp cao áp autochlave. Ưu điểm của phương pháp này là có thể
nâng nhiệt độ hấp lên trên 100

C trên những cục bông hay vải có nguồn gốc là sợi bông tự nhiên rồi châm lửa
đốt, ngọn lửa cháy bùng lên như ngọn đuốc, hơ ngọn lửa đó trên khắp bề mặt của
4
vật cần xử lý. Tương tự như phương pháp là, cần hơ qua lại một số lần tại một vị trí
nhất định mới đảm bảo khả năng tiệt trùng.
8. Phương pháp ngâm trong dung dịch sát trùng
Phương pháp này được áp dụng để xử lý các loại chỉ khâu tự tiêu (catgut).
Chỉ tự tiêu có nguồn gốc nguyên liệu là protein động vật, vì thế các phương pháp
trên không đáp ứng được. Người ta ngâm những cuộn chỉ tự tiêu trong dung dịch
formalin 4% với thời gian là 72 giờ.
IV. Tiêu độc tay người phẫu thuật
- Cắt móng tay, dũa cho bằng
- Rửa bằng nước xà phòng, tốt nhất là rửa tay dưới vòi nước chảy.
- Ngâm tay trong cồn-amoniac 5%, cồn có tác dụng diệt khuẩn, amoniac làm
trương nở các tế bào biểu bì trên da tay, làm cho thuốc sát trùng tác dụng tốt hơn.
- Sát trùng bằng cồn 70
0
, không sát trùng bằng cồn 90
0
vì cồn 90
0
làm đông vón
các phân tử protein trên lớp biểu bì tạo thành một lớp bảo vệ, chống lại không cho
cồn, thuốc sát trùng ngấm vào sâu hơn, do đó sẽ làm giảm khả năng sát trùng.
- Nếu có điều kiện thì đeo găng tay phẫu thuật.
 Sau khi đã xử lý xong, phẫu thuật viên không được đụng chạm vào bất cứ
một vật gì trước khi tiến hành phẫu thuật.

5
TIẾT 2:

tiêm phúc mạc, thụt trực tràng…
3. Căn cứ vào số lượng thuốc mê sử dụng, người ta chia ra: gây mê đơn và gây
mê hỗn hợp
- Gây mê đơn: là chỉ sử dụng một loại thuốc gây mê.
- Gây mê hỗn hợp: là sử dụng từ 2 loại thuốc mê trở lên.
IV. Yêu cầu của thuốc mê
Thuốc gây mê tốt, lý tưởng phải đạt được các yêu cầu sau đây:
- Thuốc có tác động ngay khi ở nồng độ thấp
- Liều gây mê cách xa liều trúng độc
- Giai đoạn hưng phấn ngắn hoặc không có.
- Không ảnh hưởng có hại đến hệ thống tuần hoàn, hô hấp, trao đổi chất và
các cơ quan có cấu trúc nhu mô.
- Không có tác động kích ứng đến mô bào
- Sử dụng đơn giản, dễ khống chế liều lượng
- Nhanh chóng thoát mê
- Có tính kinh tế
- Bền vững khi bảo quản và không bắt cháy.
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có loại thuốc nào thỏa mãn đầy đủ các yêu
cầu trên.
V. Những điểm cần chú ý khi gây mê
1. Trước khi gây mê
- Kiểm tra thật cẩn thận vật nuôi trước khi gây mê, không gây mê khi động
vật mắc bệnh tim mạch. Không gây mê sâu khi: vật nuôi sốt cao, rối loạn chức
năng hô hấp, gan, thận, vật nuôi quá già yếu, kiệt sức, có chửa ở giai đoạn cuối.
- Bắt vật nuôi nhịn ăn 18-24 giờ, cho uống nước đầy đủ
7
- Gây mê cho vật nuôi lớn, nhất là đối với động vật có sừng thường rất khó
khăn và nguy hiểm, vì vậy chỉ gây mê khi thật cần thiết.
- Tiên lượng phẫu thuật có kết cục không thuận lợi, có khả năng giết mổ vật
nuôi thì không nên sử dụng thuốc mê tồn dư mùi trong thịt như: cloroform, ether…

con vật 5-10 cm)
VI. Phương pháp gây mê vật nuôi
1. Gây mê cho ngựa
- Ngựa có hệ thần kinh tương đối linh hoạt, khả năng chịu đau kém, vì vậy
khi thực hiện phẫu thuật ở ngựa nên chỉ định gây mê.
- Thuốc tiền mê dùng cho ngựa là atropin sulfat 1%, liều lượng: 1-2ml/100kg
TT. Tiêm dưới da trước khi dùng thuốc mê 15-20 phút.
1.1 Gây mê bằng cloral hydrat
Cloral hydrat có thể đưa vào cơ thể bằng nhiều cách: tiêm tĩnh mạch, cho
uống, thụt trực tràng.
Liều dùng: 8-10g/100kg TT.
+ Gây mê tĩnh mạch:
- Để tránh tác dụng gây dung huyết của thuốc, phải pha thành nồng độ 10%
trong dung môi (Glucose 10%, natri clorid 0,9%, natri xitrat 5%).
 Thuốc pha xong dùng ngay, để lâu mất tác dụng, khi tiêm không được để
thuốc lọt ra ngoài tĩnh mạch.
+ Gây mê dạ dày:
Để tránh kích thích của thuốc vào niêm mạc dạ dày, pha thuốc trong nước
ngọt, hồ tinh bột thành nồng độ 5%, cho uống qua ống thông thực quản.
+ Gây mê trực tràng:
Tương tự như cho uống, phải pha thuốc trong các dung môi bảo vệ niêm mạc
trực tràng, đạt nồng độ không quá 5%. Thụt vào trực tràng sau khi đã giải thoát hết
phân, khi rút ống thông ra phải nhẹ nhàng, đồng thời kích thích cho cơ vòng hậu
môn khép kín lại.
1.2 Gây mê bằng rompun
Rompun là thuốc mê dang nước, hãng Bayer của C.H Liên bang Đức sản xuất.
9
- Rompun 5ml/100kg TT, tiêm dưới da hay tiêm bắp đạt được mức độ mê
nông, có thể phẫu thuật vật nuôi ở tư thế đứng.
- Rompun 4ml/100kg TT, tiêm dưới da hay tiêm bắp. Cloral hydrat 8g/100kg

3. Gây mê cho lợn
Thuốc tiền mê dùng cho lợn là amilazin, liều 0,5mg/1kg TT, tiêm dưới da
hoặc bắp thịt.
3.1 Gây mê bằng natri thiopental
Liều 1,5g/100kg TT, pha trong nước muối sinh lý đạt nồng độ 5%, tiêm tĩnh
mạch (không được để thuốc lọt ra ngoài). Quá trình mê kéo dài khoảng 1 giờ.
3.2 Gây mê bằng cloral hydrat
Liều 10g/100kg TT, pha thành nông độ 10% trong dung môi (glucose 10%,
natri clorid 0,9%, natri xitrat 5%), tiêm tĩnh mạch hay phúc mạc. Thời gian mê kéo
dài khoảng 1,5 giờ.
3.3 Gây mê bằng combelen
Combelen là thuốc mê dạng nước, liều dùng 5ml/100kg TT, tiêm tĩnh mạch,
con vật mê mức độ nông.
4. Gây mê cho chó, mèo
Thuốc tiền mê cho chó, mèo là atropin sulfat 0,1%, liều 1ml/10kg TT, tiêm
dưới da trước khi dùng thuốc mê 10-15 phút.
4.1 Gây mê bằng zoletil
Zoletil là thuốc mê dạng bột, của hãng Virbac sản xuất, có 3 sản phẩm, tùy
theo hàm lượng hoạt chất trong chế phẩm: zoletil 25, zoletil 50, zoletil 100. Sản
phẩm bán có dung môi kèm theo. Pha dung môi vào thuốc bột, dùng ngay, để lâu
kém tác dụng. Liều dùng trung bình (sau khi pha thuốc) của zoletil 50 là 1ml/10kg
TT, tiêm dưới da hay tiêm tĩnh mạch đều được. Với chó tiêm tĩnh mạch cho kết quả
tốt hơn, với mèo tiêm vào đâu cũng cho kết quả như nhau.
11
4.2 Gây mê bằng natri thiopental
Dùng natri thiopental, liều 15mg/1kg TT, pha thành nồng độ 5% trong nước
muối sinh lý, tiêm tĩnh mạch, thời gian mê trung bình 1 giờ.
Có thể tăng liều lên 30mg/1kg TT thời gian mê kéo dài tới 2 giờ.
4.3 Gây mê bằng rompun kết hợp với ketamin
Rompun 0,5ml/10kg TT, tiêm dưới da hay tiêm bắp.

có những biểu hiện: thở thưa dần rồi ngừng thở, tim đập thoi thóp rồi cũng ngừng hẳn, kết cục
dẫn đến cái chết của động vật.
TIẾT 3:
PHƯƠNG PHÁP GÂY TÊ CỤC BỘ
I. Khái niệm
- Gây tê cục bộ là dùng thuốc để làm mất tạm thời cảm giác đau, cảm giác
nhiệt, cảm giác xúc giác và các cảm giác khác ở tổ chức cục bộ vùng định phẫu
thuật.
- Những chất gây tê thường dùng là: Novocain, lidocain, dicain… ở nước ta
thông dụng là novocain va lidocain, trong thú y thường dùng novocain vì nó rẻ tiền
hơn. Người ta pha novocain trong nước cất hay nước muối sinh lý ở các nồng độ
khác nhau 0,125-10%, nồng độ thông dụng là 0,25-3%.
13
+ Để tăng cường tác dụng của novocain, người ta cho adrenalin 0,1%
vào dung dich novocain, với tỷ lệ 2ml adrenalin 0,1%/ 1 lít dung dịch novocain ở
nồng độ nào đó.
+ Để có thêm tác dụng tiệt trùng thêm rivanol vào dung dịch novocain
đạt nồng độ 0,1%.
+ Để kéo dài thời gian tê và giảm chảy máu trong phẫu thuật thêm
huyết thanh vào dung dịch gây tê.
+ Để kéo dài sự tê (có khi đến 2 ngày) pha thuốc tê trong dầu thực vật,
dầu cá làm chậm sự hấp thu thuốc tê  Kéo dài thời gian tê.
II. Các phương pháp gây tê
1. Phương pháp gây tê bề mặt
Sử dụng để gây tê niêm mạc, tương mạc, màng hoạt dịch…
- Để gây tê niêm mạc mắt, ta nhỏ vào niêm mạc mắt vài giọt novocain 5-10%.
- Gây tê niêm mạc miệng, mũi, hầu, cơ quan sinh dục hay các niêm mạc khác,
dùng dung dịch novocain 5-10% tẩm vào cục bông rồi thấm vào niêm mạc.
- Gây tê niêm mạc bàng quang, dùng novocain 0,25-0,5%, bơm vào trong bàng
quang sau khi đã giải thoát hết nước tiểu.

- Gây tê dẫn truyền là dùng thuốc tê tiêm vào tổ chức xung quanh dây thần
kinh chi phối vùng định phẫu thuật, làm cho dây thần kinh đó mất khả năng dẫn
truyền kích thích từ vùng phẫu thuật đến trung khu thần kinh.
- Dùng dung dịch gây tê có nồng độ cao hơn so với gây tê thấm (novocain 2-
3%) do các dây thần kinh có tổ chức liên kết thưa và lớp mỡ bao bọc.
- Liều từ 5-20 ml tùy thuộc vào độ dày của dây thần kinh và vị trí nằm nông,
sâu của nó.
- Khi tiêm cần chú ý tránh tiêm vào mạch máu vì dây thần kinh thường đi
kèm với mạch máu.
15
- Khi thực hiện gây tê dẫn truyền thường phải kết hợp với gây tê thấm hay
gây tê bề mặt, vì tại mô bào cục bộ có nhiều đầu mút của các dây thần kinh khác
nhau chi phối.
4. Phương pháp gây tê xoang ngoài màng cứng tủy sống
Xoang ngoài màng cứng là xoang ở giữa màng cứng của tuỷ sống và màng
xương bên trong của xương sống. Dùng thuốc tê tiêm vào xoang ngoài màng cứng
sẽ cắt đứt dẫn truyền kích thích của thần kinh cạnh sống đi qua xoang ấy.
Gây tê ngoài màng cứng tủy sống được xem như một loại gây tê dẫn truyền
trung tâm. Căn cứ vào vị trí tiêm thuốc tê mà người ta chia ra:
+ Gây tê thắt lưng (lumbalis): Điểm giữa đốt sống hông 1 và 2
+ Gây tê hông khum (lumba-sacralis): Điểm giữa đốt sống hông cuối và
đốt sống khum đầu tiên.
+ Gây tê đốt sống đuôi (sacralis): Điểm giữa đốt sống đuôi thứ nhất và
đốt sống đuôi thứ 2.
Phương pháp gây tê đốt sống đuôi (sacralis):
Phương pháp này được chỉ định khi phẫu thuật vùng: cơ quan sinh dục
ngoài, âm đạo, chân sau, đuôi, hậu môn, trực tràng.
- Tùy lượng thuốc tê đưa vào ít hay nhiều mà người ta chia ra: gây tê sacralis
thấp và gây tê sacralis cao.
+ Gây tê sacralis thấp: Tiêm một lượng thuốc tê không lớn lắm đạt tới

nhẹ tay ấn lên pittông.
17
Số ml novocain 2%
(để gây tê sacralis
thấp)
=
Khoảng cách từ mỏm hông
xương cánh chậu đến u ngồi
3
Số ml novocain 2%
(để gây tê sacralis
thấp)
=
Khoảng cách từ xương chẩm
đến gốc đuôi
10
Chú ý: Nhiệt độ của thuốc tiêm phải tương đương với thân nhiệt vật nuôi.

Tiết 4:
CHẢY MÁU VÀ CẦM MÁU
Máu có vai trò quan trọng, tham gia vào rất nhiều quá trình sinh lý của cơ thể:
Vai trò hô hấp: máu vận chuyển oxi từ phổi tới mô bào và khí các-bo-nic từ
mô bào tới phổi để thải ra ngoài.
Vai trò dinh dưỡng: máu vận chuyển các chất dinh dưỡng hấp thu được từ
đường tiêu hoá, cung cấp năng lượng và nguyên liệu cho tất cả các phản ứng của
mô bào.
Vai trò bài tiết: máu nhận các sản phẩm cuối cùng của trao đổi chất mô bào
như CO
2
, urê, axit uric… và đem tới phổi, da, thận… để thải ra ngoài.

- Xuất huyết tĩnh mạch: Do các tĩnh mạch bị tổn thương, máu chảy chậm, màu
sẫm, máu tuôn ra từng dòng lúc nhanh lúc chậm theo nhịp hô hấp.
- Xuất huyết mao mạch: Do các mao mạch (phân bố ở da, cơ, mô liên kết, cân
mạc, bao cơ, bao gân) bị tổn thương, máu chảy rướm đều trên bề mặt vết thương. Mao
mạch phân bố xen kẽ giữa mao mạch động mạch và mao mạch tĩnh mạch, do đó khi bị
tổn thương máu chảy ra có màu pha trộn giữa màu đỏ tươi và màu đỏ sẫm. Loại xuất
huyết này dễ cầm, nó có thể ngừng chảy nhờ cơ chế tự đông máu của cơ thể.
- Xuất huyết nhu mô: Xuất hiện khi tổn thương hoặc khi phẫu thuật ở các cơ
quan có cấu trúc nhu mô (dạ dày, ruột, tử cung…). Trong các cơ quan nội tạng mao
mạch được phân bố nhiều hơn ở da, cơ, mô liên kết, và tốc độ dòng chảy cũng lớn
hơn. Khi nó bị cắt đứt, máu chảy ra đều khắp toàn bộ vết thương hay vết mổ như
xuất huyết mao mạch, nhưng tốc độ nhanh hơn nhiều. Màu cũng là màu pha trộn
giữa màu đỏ sẫm và màu đỏ tươi. Loại xuất huyết này rất khó cầm máu.
2.2. Căn cứ vào nơi xuất huyết mà người ta chia xuất huyết ra làm hai loại.
- Xuất huyết ngoại: Máu chảy từ cơ thể tràn ra bề mặt da hay các niêm mạc, có
thể nhìn thấy được. Loại xuất huyết này dễ phát hiện và dễ xử lý.
- Xuất huyết nội: Xuất hiện khi các cơ quan nằm sâu (dưới lớp che phủ) bị tổn
thương, nhưng lớp che phủ bên ngoài cơ thể không bị tổn thương, hoặc sau phẫu
thuật mà da đã được khâu kín. Máu không chảy ra ngoài cơ thể mà tích tụ lại trong
các xoang của cơ thể, mắt thường không nhìn thấy được. Xuất huyết dạng này khó
phát hiện, khó xử lý.
- Xuất huyết kẽ mô: Là những trường hợp tổn thương mạch quản, máu thoát ra
ngoài mạch quản nhưng tích lại giữa các lớp tổ chức tạo thành các u máu.
2.3. Căn cứ vào lần xuất huyết chia xuất huyết thành 2 loại.
- Xuất huyết nguyên phát: Xuất hiện ngay sau khi mạch máu bị tổn thương.
- Xuất huyết thứ phát: Xuất hiện sau khi xuất huyết nguyên phát đã thực hiện
biện pháp cầm máu nhưng không triệt để. Nó phát triển do sự suy yếu và tuột nút
chỉ thắt mạch quản hay sự tan rã của cục máu đông.
20
3. Các phương pháp cầm máu

fort có ưu điểm hơn là không gây áp-xe nếu tiêm dưới da, tiêm bắp.
- Tiêm dưới da dung dịch Gelatin 2%, vật nuôi lớn: 100-200 ml, vật nuôi nhỏ:
10-20 ml dung dịch này vừa có tác dụng làm tăng độ nhớt của máu, do đó máu
chảy chậm hơn, tiểu cầu dễ vỡ hơn, quá trình đông máu dễ xảy ra, hơn nữa nó còn
cung cấp ion Ca
++
cũng làm tăng quá tình đông máu.
- Dùng huyết thanh ngựa bình thường, tiêm dưới da hay tĩnh mạch cho ngựa,
liều 100-150 ml/con trưởng thành.
21
- Dùng Adrenalin 0,1% tiêm bắp, tĩnh mạch hoặc thấm trên bề mặt đang chảy
máu làm co mạch máu, giúp cầm máu.
- Tiêm vitamin K trước khi phẫu thuật 1-2 ngày. Vitamin K thúc đẩy quá trình
tổng hợp prothrombin ở gan là chất tham gia vào quá trình đông máu.
Cầm máu dự phòng cục bộ:
- Đặt garo là phương pháp tốt nhất để đề phòng chảy máu cục bộ, khi phẫu thuật
ở 4 chân và đuôi. Dùng dây cao su, băng cuộn, dây vải… buộc vòng quanh cơ
quan, phía trên vùng phẫu thuật, theo hướng dòng chảy của động mạch.
- Không được thắt dây garo quá lỏng hoặc quá chặt. Về mùa hè không được thắt
garo quá 2 giờ, mùa đông không quá 1 giờ. Nếu phẫu thuật kéo dài, sau mỗi 30
phút, nới garo 30-60 giây, sau đó thắt lại.
3.2. Cầm máu trong quá trình phẫu thuật
Cầm máu trong quá trình phẫu thuật gồm các phương pháp sau:
- Phương pháp thấm ép: dùng vải gạc vô trùng, ép chặt lên thiết diện vết mổ từ
10-15 giây. Vải gạc có khả năng thấm hút máu, khi ta ép xuống tạo tiền đề cho sự
hình thành cục nghẽn, vít mạch quản bị đứt.
- Phương pháp dùng panh kẹp mạch máu: Dùng panh kẹp chặt đầu mạch quản
đứt, nhẹ nhàng xoắn 2-3 vòng theo trục dọc của nó, rồi tháo panh ra. Mạch máu to
hơn, máu chảy nhiều, ta kẹp lưu panh một thời gian (5-10 phút).
- Phương pháp xoắn vặn: Áp dụng khi thiến vật nuôi còn non. Mạch máu ở

nhanh hơn, tốt hơn.
- Hạn chế sự tác động của các yếu tố ngoại cảnh tới vết thương như khí hậu, vi
sinh vật, côn trùng….
- Giúp cho sự cầm máu của vết mổ, hoặc vết thương.
II. Dụng cụ và nguyên liệu để khâu
1. Kim khâu
- Kim thẳng: có cấu tạo hoàn toàn giống như kim khâu vá quần áo, có
nhiều kích thước khác nhau. Dùng để khâu niêm mạc.
- Kim bán cong: có hình dấu phẩy, dùng để khâu niêm mạc.
23
- Kim cong thân tròn: toàn bộ thân kim có hình trụ tròn, dùng để khâu cơ
và niêm mạc.
- Kim cong 3 cạnh: 2/3 thân kim bắt đầu từ gốc kim có hình trụ tròn,
1/3 còn lại có hình nón 3 cạnh, dùng để khâu da.
2. Kìm kẹp kim
Là dụng cụ chuyên dụng để cố định kim, nếu chỉ khâu bằng tay nhiều khi
chúng ta không đâm xuyên được qua mô bào vì nó dày, chắc hoặc trơn tay. Nếu
không có kìm cặp chuyên dụng có thể dùng các loại kìm khác để thay thế.
Khi cố định kim sao cho mặt phẳng của kim vuông góc với mặt phẳng của
kìm, tại vị trí 1/3 của mũi kìm và 1/3 của mũi kim. Đối với kim cong 3 cạnh, kẹp
tại vị trí tiếp giáp giữa đoạn 3 cạnh và đoạn tròn.
3. Chỉ khâu
Chỉ khâu được chia làm hai loại là chỉ tự tiêu (cát- gút) và chỉ không tự tiêu:
- Chỉ tự tiêu (cát-gút ):
+ Là loại chỉ được sản xuất từ nguyên liệu có nguồn gốc protein (Trước
kia được sản xuất tử ruột mèo, ngày nay còn được sản xuất từ ruột cừu, gân đuôi
chuột cống…), trong cơ thể một thời gian nó tiêu biến, dùng để khâu các mô bào
nằm ở dưới lớp da bảo vệ, sau đó không cần phải cắt chỉ.
+ Chỉ có nhiều cỡ to nhỏ khác nhau, tùy theo sự dày mỏng và sức căng của
mô bào mà lựa chọn cỡ chỉ cho phù hợp, thông thường dùng chỉ số 7/0 đến số 7.

không sẽ làm cho xoang của tổ chức hẹp lại, không đảm bảo được chức năng sinh lý
của nó.
1.4. Khâu rút túi
Dùng để cố định trực tràng, âm đạo trong trường hợp lòi dom, âm đạo lộn ra
ngoài, tử cung lộn bít tất. Sau khi cho các bộ phận này vào vị trí cũ ta dùng đường
khâu rút túi để cố định chúng lại không cho tụt ra nữa.
2. Khâu rời rạc
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status