11/2007
=1
TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH
TẾ VÀ
KINH
DOANH
QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH
KINH TẾ
Đối
NGOẠI
KHÓA LUÂN TÓT NGHIÊP
Đề tài:
THỰC TRẠNG KINH
DOANH
VẬN
TẢI
BIÊN
CỦA HÃNG TÀU
NYK
LINE
VÀ KINH NGHIỆM
CHO
CÁC
DOANH
NGHIỆP VẬN
NÓI ĐÀU Ì
CHƯƠNG
ì:
KHÁI QUÁT
CHUNG
VÈ VẬN TẢI HÀNG HOA
BẰNG
ĐƯỜNG
BIỀN 3
ì.
Vận
tải
hàng hóa
bằng
đường
biển
3
Ì.
Khái
niệm
và quá trình phát
triển
3
1.1.
Khái
niệm
3
1.1.1,
Khái
niệm
vận
tải
đường
biến
9
2.1.
Vận
tải
đường
biến
có
vị trí
quan
trọng trong việc
vận
chuyến
hàng hoa 9
2.2.
Vận
tải
đường
biển
thúc đẩy buôn bán
quốc
tế
và là một yếu
tố
không
thế
tách
vận
chuyến
lạn
11
3.2.
Vận
tải
đường
biển
thích hợp chuyên chở hầu
hết
hàng hoa
trong
thương mại 12
3.3.
Giá thành vận
tải
biển
rất
thấp
13
3.4. Chi
phí đầu tư xây
dựng
tuyến
đường hàng
hải thấp
14
li.
Cuộc cách
Container
hoa 20
3.1.
Tăng năng
suất lao
động và
giảm
chi
phí
sản xuất
xã
hội
21
3.2.
Đẩy
mạnh
áp
dụng
kỹ
thuật
mại
trong
ngành vận
tải
21
3.3. Giải
quyết
công ăn
việc
làm cho
hàng
đầu thế
giới
23
CHƯƠNG
li.
THỰC TRẠNG KINH
DOANH
VẬN
TẢI BIÊN
CỦA HÃNG TÀU
NYK
LINE
25
ì.
Tổng
quan
về
hãng
tàu
NYK
Line
25
Ì.
Lịch
sử
hình thành
25
2.
Cơ
Vận
tải
hàng bách
hoa
29
2.3. Vận
tải
ô tô
29
2.4.
Vận
tải
hàng
rời
31
2.5.
Vận
tải
khí
hóa
lỹng,
dầu thô
32
li.
Phân
đoạn
thị
trường
33
IU.
vực
Đông
Nam Á 38
2.
Khu
vực
châu
Mỹ 39
3.
Khu
vực
châu
Âu,
châu úc
40
4.
Chiến
lược
kinh
doanh
42
4.
Ì.
Không
ngừng
mở
rộng
thị
trường
42
trong
hoạt
động
kinh
doanh
45
4.5.
Đào
tạo
nguồn
nhân
lực
46
5. Kết quả hoạt
động
kinh
doanh
trong
năm
2006
47
5.1.
Cố
phiếu của
công
ty
tăng
trường
tốt
47
liệu
tăng
cao
50
6.2.2.
Xu
thế
sáp
nhập
mua
lại
trên
toàn
cẩu
50
li.
Hoạt
động
của
công
ty
TNHH NYK
Line
Việt
Nam 50
Ì.
Vị
trí của
NYK
Line
châu
Mỹ 53
2.3.
Tuyến
châu
Âu 54
3.
Những khó khăn
của
NYK
Line
tại
thị
trường
Việt
Nam 54
CHƯƠNG
HI.
BÀI
HỌC KINH NGHIỆMVÀ MỘT SỐ
KIÊN
NGHỊ
VÀ
GIẢI PHÁP
CHO
CÁC
DOANH
NGHIỆP.VẬN
TẢI
VIỆT
triến
lâu
dài
58
2.Ì.
Nghiên cứu
thị
trường
58
2.2.
Tăng cường
hoạt
động
Marketing
59
2.3.
Đầu tư phát
triển
đội
tàu
61
2.4.
Tăng cường hợp
tác
với
các
doanh
nghiệp
khác
62
số
giải
pháp,
kiến
nghị
để phát
triển
hoạt
động
kinh
doanh
của
các
công
ty
vận
tải
Việt
Nam 67
Ì.
Thực
trạng
hoạt
động
kinh
doanh
của
các
doanh
nghiệp
lược giá
cả đi
đôi
với
chất
lượng
dịch
vụ 69
2.Ì.3.
Mở
rộng
thị
trường
tiêu
thụ
sản
phàm 70
2.1.4.
Tạo
lòng
tin
cho doanh
nghiệp xuất
nhập khẩu
đế
hỗ
tin
tưởng
dành
quyền cho
nghị
đối
với
nhà
nước
72
2.2.1.
Hỗ
trợ
vốn của
nhà
nước
72
2.2.2.
Đầu tư cơ
sờ
vật
chất kĩ
thuật
cho
ngành
vận
tải
biến
72
2.2.3.
Đào
tạo
nguồn
nhân
Là thành viên của tổ
chức
thương mại
lớn
nhát
toàn
cầu,
chúng
ta
có cơ
hội
góp
tiếng
nói
chung
vào nên
kinh
tê thê
giới.
Việc
gia
nhập
WTO
cũng
xoa bỏ các rào càn
đối
với
hàng hoa
Việt
Nam
giới.
Trong
kinh
doanh,
để giành
thắng
lợi
thì
hai
yếu
tố quan
trọng
nhất
quyết
đựnh sự thành
bại
của
sản
phẩm là giá cả và
chất
lượng.
Các nhà sản
xuất
không
ngừng
tìm
tòi,
cải
tiến
nâng cao
các
quốc
gia
khác
nhau.
Trong
các bộ
phận
cấu thành giá
cả, chi
phí vận
tải
luôn
chiếm
một
tỉ lệ
không nhỏ.
Mỗi
năm
thế
giới
tiêu
tốn khoảng
200
tỉ
đô
la
cho vận
chuyến
hàng
lâu
song
các
doanh
nghiệp
vận
tải việt
Nam vẫn chưa làm chủ
ngay
trong
chính sân nhà của mình. Mặc dù lượng hàng hoa
xuất
nhập khẩu ra
vào
Việt
Nam khá lớn nhưng
phần
lớn
lợi
nhuận
từ
kinh
doanh dựch
vụ vận
chuyển
lượng hàng này
lại
chạy
vào túi các hãng tàu nước ngoài. Trước
thực
hoạt
động của một
trong
những
hãng tàu
lớn
nhất
thế
giới
-
Nippon
Yusen
Kaisha
(NYK
LINE)
để
từ
đó giúp các
doanh
nghiệp
vận
tải
Việt
Nam
có cái nhìn sâu sắc hơn về
kinh
doanh
vận
tải
biển
vận
tải
biến
của hãng tàu NYK
LINE
Chương HI:
Kinh
nghiệm
và
kiến
nghị
một số
giải
pháp
đồi
với
các
doanh
nghiệp
vận
tải
Việt
Nam.
Kinh
doanh
vận
tải
biến
là một
lĩnh
Thị Thu Hương đã
giúp đỡ em
rất
nhiều
trong
quá trình
thực
hiện
đề
tài
này.
2
CHƯƠNG
ì:
KHÁI QUÁT
CHUNG
VÈ VẬN TẢI HÀNG HOA
BẰNG
ĐƯỜNG
BIỂN
ì. Vận tải hàng hóa bằng đường biển
1.
Khái
niệm
và quá trình phát
triển
1.1.
Khái
niệm
1.1.1.
thời
hai
tính
chất:
là một
hoạt
động sản
xuất
vật
chất
và là một
hoạt
động
kinh tế
độc
lập.
Từ đó có
thể
thấy
rằng
xét
theo
nghĩa
kinh tế,
vận
tải
phải
tạo ra
lợi
nhuận cũng
hai
điều
kiện
sau :
+ Di
chuyến
đồ
vật,
con
người
đế
phục
vụ cho sản
xuất
+ Là
hoạt
động
kinh
tế
có tính chuyên môn, độc
lập
nhất
định và có
tính chuyên
nghiệp.
Hơn
nừa, ngay từ
khi
loài
người
phục
được
khoảng
cách không
gian
và
thoa
mãn nhu cầu đi
lại
của mình. Do đó, ngành vận
tải
ra đời
là một
tất
yếu khách
quan
của
đời sống
xã
hội.
Cùng
với
sự
tiến
bộ của nhân
loại
ngành vận
tải
cũng
phát
Vận tải đường
biển
là một bộ
phận
cấu thành ngành vận tải. Đó là
việc
sử
dụng
đường
biển
để
di
chuyển
hàng hóa và con
người
nhằm
thực hiện
mục
đích
nhất
định.
Sản phẩm của ngành vận
tải
đường
biển
là
tạo ra
sự
di
chuyến
đi
biển
và sử
dụng
chúng một cách
hiệu
quả.
Trong
mua bán
ngoại
thương, vận
tải
đường
biến
đóng
vai
trò
quan
trọng
nhát.
Theo
ước tính của Liên
Hiệp
Quốc, 80%
hoạt
động thương mại toàn cọu là
bằng
đường
biển.
Chỉ tính riêng năm
tải
mang tính
chất
quân
sự: tức
là
phục
vụ
chiến tranh,
xâm lược
hoặc
tự
vệ
giữa
các
quốc
gia.
Lịch
sử đã
chứng
minh
rằng
vận
tải
biển
phục
vụ
mục đích quân sự là
tiền
đề cho vận
thi
vận
tải
mới
trở
thành một ngành
kinh tế sản xuất vật chất.
+ Vận
tải
mang
tinh
chất
khám phá, nghiên cứu
khoa
học hay thám
hiểm
: loại
hình này
chi
mang tính
chất
phát
sinh
nhưng mục đích chính của
nó vẫn là
phục
vụ cho mục đích
kinh tế.
+ Vận
tải
sản
xuất
của
ngành
vận
tái
Cũng giong như các ngành sản xuất vật chất khác, ngành vận tải cũng
bao
gồm sự
kết
hợp của ba yếu
tố
đó
là:
công cụ
lao
động,
đối
tượng
lao
động,
và sức
lao
động của con
người
đề
tạo
ra sản phẩm của chính mình là sự
di
chuyến
đoạn sản xuất khác nhau là thủ công
nghiệp,
công trường thủ
công và cơ
khí.
Đó là ngành vận
tải,
không kế
là
vận
tải
người hay vận
tài
hàng hóa
"
Tuy
nhiên,
với
những
đặc thù riêng của
minh,
ngành vận
tải
là ngành sàn
xuất vật chất
đặc
biệt
vì có
những
nét riêng như
tải
là con
người,
hàng
hoa.
Con
người
dùng phương
tiện
vận
tải
tức là các
công cụ
lao
động để tác động vào
đối
tượng
chuyên chờ
tạo ra
sự
dịch
chuyển
về
không
gian
của chúng nhịm
thoa
mãn mục đích
nhất
định của mình. Và
đối
hình dáng, tính
chất
lý hoa của chúng.
Nghĩa
là
chỉ
có sự
thay
đối
về không
gian
của
đối
tượng
chuyên
chờ.
Mặc dù
vậy,
sản phẩm này
cũng
mang
đầy đủ
thuộc
tính của hàng hoa là giá
trị
sử
dụng
và giá
trị.
phải
trà cho nó một giá
trị
nhất
định.
Vì vậy sản phẩm của ngành vận
tải
là
một
hàng hoa mà
người
ta
có
thế
mua bán
trao
đối
được.
- Sản phàm vận
tải
không
tồn
tại
độc
lập
ngoài quá trình sản xuât
ra
nó.
Sản
phẩm này không có một
dằ
trữ
được.
Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu
vận
tải
tăng
đột biến trong
xã
hội
tại
những
thời
điếm
nhất
định,
người
ta
có
thê
khắc
phục
điều
này
bằng
cách dằ
trữ
năng
lằc
chuyên chờ của công cụ
cũng
là một
phần
của ngành vận
tải
vì vậy nó
cũng
đóng
vai
trò
quan
trọng trong
nền
kinh tế.
1.2 Quá trình phát
triển
của vận tải
đường
biến
Ngay từ
thời
xa xưa, con
người
đã
biết
vận
dụng
đường
nước tằ nhiên để
thoa
vận
tải
biển
chỉ
mang
tính
giao
thương cục bộ
giữa
các vùng gần
gũi trong
một nước và khu vằc láng
giềng
có
liền
kề
chung
biển,
dần
dần được mờ
rộng
ra
các nơi xa xôi
giữa
các nước vùng ven
đại
dương,
rồi
nối
liền
thời
kỳ
tiền
tư bản chủ
nghĩa
mà
người
ta gọi
là chủ
nghĩa
6
trọng
thương
với
sự phát
triển
mạnh
mẽ của
ngoại
thương kéo
theo
nhu câu
vận
chuyển
hàng hoa tăng cao đặc
biệt
là
những
quãng
đường
triển
thành một ngành
kinh tế
độc
lập
khi
thương mại
quốc tế ra
đời.
Thương mại
quốc tế
đã
tạo
ra
nhu cầu vận chuyên
hàng hóa xuyên
quốc
gia,
xuyên
lục địa,
xuyên qua các đại dương
với
so
lượng
và
khối
lượng
lớn,
yêu cầu một năng
lực
đến
lượt
mình, vận
tải
biến
lại
tác động thúc đấy thương mại
quốc
tế
phát
triển.
Vận
tải
càng phát
triển
thì
tốc
độ và
khối
lượng
hàng hoa
trung
chuyến
càng
gia
tăng, càng tăng
lợi
thế
của thương mại
quốc
đại,
ngày nay đã mang tính
chất
chuyên
nghiệp,
tổng
hợp xét cả phương
diện
kỹ
thuật
lẫn
phương
diện kinh tế.
Vận
tải
đường
biến
đã
trờ
thành yếu
tố
quyết
định
nhất
trong
thương mại
quốc
tế,
trờ
thành
tiện
cơ bản: tàu,
thuyền,
xà
lan
7
+ Các phương
tiện
hỗ
trợ:
bến
cảng,
hệ
thống
sản
xuất
chế
tạo
tàu
thuyền,
các công cụ đi
biển,
các công cụ chờ
hàng,
phương
tiện
xếp dỡ
+ Lao động: thúy thủ, thuyền viên, hoa tiêu
Trong
lĩnh
ngành vận
tải
là do tác
động
từ kết
quả của các
cuộc
cách
mạng
này.
+ Cuộc cách
mạng
khoa
học kỹ
thuật lần thứ
nhất:
diễn ra
vào đầu thê kỷ
19.
Nó đã sáng
tạo ra
máy hơi nước và
bắt
đầu áp
dụng
vào ngành vận
tải,
mờ
ra
một kỷ nguyên mới cho vận
trong
vận
tải.
Đây có thê
coi
là
cuộc
cách
mạng
khoa
học kỹ
thuật lần thứ
ba
trong
ngành vận
tải,
diễn ra
vào đầu
những
năm
60 của thế
kỷ
20.
"Container
hoa" trong
chuyên chở hàng hoa đã
trực
tiếp
làm
thay đổi
tải
đường
biển
2.1. Vận tải
đường
biển
có vị trí
quan
trọng trong việc
vận
chuyển
hàng
hoa
Từ
những
đặc
điểm
kinh
tế kỹ
thuật
của vận tải
đường
biến:
năng lực
chuyên chở
lớn,
giá thành
rẻ,
vận
chuyển
tải
ngoối
thương còn
vận tải lối
là khâu
kết
thúc của quá trình
xuất
nhập
khấu.
Như vậy vận
tải
chính là cầu
nối giữa
nhà sản
xuất
và
người
tiêu dùng ờ
hai
hay nhiêu quôc
gia,
mở
ra
khả năng
xuất
khẩu
trong
tương
lai.
đặc
biệt
là
những
đội
tàu mà càng hố
thấp
cước phí thì sức
cốnh
tranh
càng cao vì
trong kinh
doanh
bên nào giá càng
rẻ
thì bên đó sẽ có
lợi
thế
hơn thích hợp chuyên chở
hàng hóa có
khối
lượng
lớn,
chuyên chờ cự
ly
dài và không đòi
hỏi
thời
gian
giaơ hàng gấp.
tính,
chi
phí vận
tải
thường
chiếm
10-15%
giá
FOB và 8-9% giá
CIF.
Ngày
nay, với
sự phát
triển
của vận
tải
biển,
giá cước
9
ngày càng
giảm. Điều
này đã góp
phần
làm
giảm
giá thành sản phàm, tăng
sức cạnh
tranh
của hàng hóa trên
thị
nay,
giao
lưu buôn bán
là yếu tố vô cùng
quan
trọng
chứng minh
sức
mạnh
của một
quốc
gia.
Các
quốc
gia
muốn vươn mình
ra
thế
giới,
muốn
chiếm
lĩnh thị
trường
thế
giới
và
khắng
định sức
mạnh
của mình thì chỉ có một cách là hàng hóa của nước đó
lại
nhắc
đến yếu
tố
giá
cà,
mà đế
giảm
giá
thì
việc
giảm
cước phí vận
tải
là điêu
cần
được
quan
tàm, chú ý. Vi
vậy,
vận
tải
biến
đóng
vai
trò
quan
trọng trong
chiến
lược
giữa
các
quốc
gia.
Ngoại
thương càng phát
triển thi
lượng
hàng
hóa
trao
đổi
càng
lớn,
nhu cầu vận
tải
càng
gia
tăng và ngày càng đòi hỏi
nâng cao
chất
lượng
dịch
vụ và hoàn
thiện
hệ
thống
vận
tải.
Đến
lưu buôn bán
quốc
tế.
2.3. Vận tải đường biển ảnh hưởng đến cán cân thanh toán quốc tế
Vận
tải
đảm bảo nhu cầu chuyên chở hàng hoa
xuất
nhập khẩu
của mỗi
nước.
Hàng năm, ngành công
ngiệp
vận
tải
đem
lại
một
nguồn thu
ngoại
tệ
lớn
cho các
quốc gia
phát
triển
có
đội
tàu
mạnh
trọng
vì nếu
người
xuất
khẩu
giành được
quyền
vận
tải
về mình thì sẽ ưu tiên sử
dạng
doanh
nghiệp
vận
tải
trong
nước để chuyên
chở
hàng hoa của mình,
tiết
kiệm
chi ngoại tệ,
đảm bảo cho cán cân
thanh
toán
quốc
tế
được bình ổn.
3. Tính ưu
việt
trong
ngành vận
tải
nhưng vận
tải
đường
biển
vẫn
chiếm
vị thế
quan
trọng
như
vậy.
Đó là do vận
tải
biến
có
những
lợi
thế
mà không
phải bất
kỳ hình
thức
vận
tải
nào
cũng
có
rộng
lớn
không
bị
giới
hạn về không
gian
nên
nhiều
tàu có
thể
chạy
trên cùng một
tuyến trong
cùng một
thời
gian.
Đây là
điều
mà không một phương
thức
vận
tải
nào có
được.
Ngày
nay,
cùng
với
sự phát
hiện đại
lên đến
6000
tấn
mét cầu
tầu/
năm nên khả năng thông qua
tại
các
cảng
rất lớn,
giảm
thời
gian
tàu neo đậu
tại
các
cảng
đế làm hàng từ đó tăng
thời
gian
phương
tiện
vận
tải
chạy
trên
biển,
tăng năng
lực
chuyên chờ lô hàng
nhỏ,
trên cự
ly
ngăn,
yêu cầu
thời
gian
giao
hàng
nhanh,
đặc
biệt
vận
tải
đường ô tô
rất
cơ động.
Vận
tải
ô tô thích hợp
vỗi
chuyên chờ
trực
tiếp
từ
kho đến kho trên cự
ly
gần,
đồng
Vận
tải
hàng không thích hợp
vỗi
chuyên chở hàng có
khối
lượng nhỏ,
mau
hỏng,
hàng có
gia trị cao,
hàng
thời
vụ.
Vận
tải
đường không
cũng
thích
họp vỗi
chuyên chở
giữa
các
lục
địa
vỗi
nhau
trên cự
ly dài.
Tuy nhiên một
quốc
tế trong
vận
chuyển
bằng
đường hàng không
chỉ
chiếm
1%
tổng
khối
lượng hàng hóa mặc dù giá
trị
khá cao
từ
20-30%.
Vận
tải
đường
sắt
thích họp
vỗi
chuyên chở các
loại
hàng hóa đặc
biệt
là
hàng có
khối
lượng
có
thể
vận hành cùng một lúc
ít
làm cho
khối
lượng hàng hóa chuyên chờ
được
không
nhiều.
Việc
xây
dựng
đường
sắt
cũng
không
thuận
lợi
đo sự cản
trở
của
yếu
tố địa
hình.
12
Vận
tài đường sông:
chỉ
thuận
các
loại
khí
đôt,
ga hóa
lịng.
Nếu như vận tài
ôtô,
đường không
chỉ
giới
hạn
phục
vụ cho một số
loại
hàng hoa
nhất
định thì vận
tải
đường
biển
có
thể
đáp ứng cho hầu
hết tất
cả
các
loại
hàng hoa
từ
kềnh
như các
loại
máy móc
thiết
bị,
hàng
lịng
như dầu mị, rượu Nói
chung,
vận
tải
biển
đáp ứng được mọi
nhu
cầu
trong
buôn bán
quốc
tế
và ngày càng
khẳng
định
vị thế
của mình.
3.3. Giá thành vận tải biển rất thấp
Trong
kinh
doanh,
giá cả luôn là một
chi
phí vận
tải
chiếm
một
tỉ trọng
không nhị đặc
biệt
là
trong ngoại
thương vì hàng hoa
phải di
chuyển
từ
quốc
gia
này đến
quốc
gia
khác,
quãng đường vận
tải
thường
xa.
Người
ta
ước tính
chi
phí vận
tải
tải
tàu
biển lớn,
có
thể
chuyên chờ được
khối
lượng
lớn
hàng
hoa,
cự
ly
vận
chuyến
lại
lớn
thường là
vượt
đại
dương, biên chế
thuyền
viên
ít
nên năng
suất lao
động
cao.
Ngày nay,
nhiều
kinh
doanh.
3.4. Chi phí đầu tư xây dựng tuyến đường hàng hái thấp
Nêu như đế xây dựng một tuyến đường ô tô, đường sắt con người cân
tiêu
tốn nhiều
tiền
của
cũng
như nhân
lực
để nghiên
cứu,
lập
dự án khả
thi
rồi
mới
quyết
đỏnh đầu tư
thì điều
này khác hẳn
với
vận
tải
biển.
Vì
tuyến
đường
hàng
nạo vét
luồng lạch
nên
chi
phí để
khai
thác một
tuyến
đường
biển
mới
thấp
hơn
nhiều
so
với
các
loại
hình vận
tải
khác.
li. Cuộc cách
mạng
Container
hoa
trong
vận tải
biển
1.
Sự hình thành
quãng
thời
gian
chuyên chở,
giảm
cước phí luôn là một vấn đề các nhà
kinh
doanh
vận
tải
đặc
biệt
quan
tâm chú ý.
Thời gian khai
thác của phương
tiện
vận
tải
bao gồm
hai
phần
chính:
+
Thời gian
công cụ vận
tải
chạy
trên
đường
Thời gian
tàu
chạy
trên biên
Thời gian
tàu đô ờ
cảng
Tàu chờ khách
63
37
Tàu chờ hàng
40
60
Tàu
chạy
rông
57
43
Tàu
chờ
dâu
81 19
(Nguồn:
Giáo trình Vận
tải
và
giao
nhận
hàng hoa
trong ngoại
thời
gian
tàu đỗ ở
cảng
dài sẽ ảnh
hường
rất lớn
đến
hiệu
quả
khai
thác. Vì
vậy, việc
tăng tóc độ kĩ
thuật
của công cụ vận
tải
sẽ không
đạt
được
hiệu
quả
kinh
tế
nếu
như không
giảm
được
tỉ lệ
thời
Và để có
thể
cơ
giới
hoa toàn bộ quá trình xếp dỡ thì
phải
tạo ra
những
kiện
hàng
lớn
thích hợp.
Việc
tạo ra
những
kiện
hàng
lớn
như vậy
trong
vận
tải
được
gọi
là "đơn
vị
hoa hàng
hoa".
Đơn
vị
hoa việc
xếp dỡ và sử
dụng
hợp
lí
kho
hàng,
công cụ vận
tải.
Hình
thức
đơn
giản
nhất
là
tạo
ra các đơn
vị
hàng hoa nhợ
bằng
cách
dùng các
loại
bao bì thông thường như:
kiện,
hòm,
bó
sau đó,
người
ta tạo
lợi
cho
việc
xếp
dỡ,
bảo
quản
và chuyên chở hàng
hoa.
Phương pháp
khay
hàng đã
mang
lại
nhiều
lợi
ích
kinh
tế:
giảm
lượng
lao
động
xếp
dỡ,
rút
ngắn
thời
gian
xếp
Container
cùng
với
hàng hoa xếp
trong
đó
tạo
thành một đơn vị
hàng
hoa
trong
suốt
quá
trình
chuyên
chở.
Bản
chất
của
container
là
việc
xếp
dỡ,
bảo
quản,
chuyên chở hàng hoa
trong
suốt
quá trình vận
hàng
hoa.
Có
nhiều
định
nghĩa
về
container
nhưng ngày nay các nước trên
thế
giới
đều
áp
dụng
định
nghĩa
của Uy ban
kĩ
thuật
của
tổ
chức
ISO
(International
Standards
Organization).
Theo
ISO,
container là
một
nhiều
phương
tiện
vận
tải,
hàng
hoa
không
phải
xếp
dỡ ờ
dọc
đường.
+ Có
thiết
bị
riêng để
thuận
tiện
cho
việc
xếp
dỡ và
thay đổi từ
công cụ
vận
tải
này
sang
công
vận
tải
container
Quá trình phát
triển
của hệ
thống
vận
tải
container
có
thế chia
làm 4
giai
đoạn
như
sau:
Giai đoạn Ì (đến 1955): Một số nước bắt đầu sử
dụng
container
loại
nhỏ
vào chuyên chở hàng hoa
trong
vận
tải
đường
sắt.
Trước
đại chiến thế
tiếp
tục
mở
rộng
phạm
vi
sử
dụng
container trong
chuyên chở hàng
hoa.
Sự phát
triển
nhanh
chóng của phương pháp chuyên chở này đòi
hỏi phải
có sự
phối
họp
chặt chẽ giữa
các phương
thức
vận
tải,
các cơ
quan
vận
tải
với
nhau.
hợp
với
các công ty
trong việc
chuyên chờ
container
tại
một số nước ờ Châu Âu. Đây là tố
chức
đặu tiên
nhận
thấy
ý
nghĩa
cách
mạng
của phương pháp chuyên chờ hàng hoa
bằng
container.
Trong
chiến tranh thế
giới
lần thứ 2,
Mỹ đã sử
dụng
khá
rộng
rãi
container
để
thức
vận
tải
khác như
đường
biến,
đường
ôtô.
Tuy
nhiên,
phương pháp mới chỉ được áp
dụng
trong
chuyên
chở nội địa.
Giai đoạn 2 (1955 -1966):
container
b^ửđầư
đư£rô4ử
dụng
trong
chuyên
chở
quốc
tế với
sự
xuất hiện
của
nhiều
con|&ỈỊK!f%ặHỊcrn.
của Mỹ như: SeaLand
Service,
Maillson
Navigation
Company
bắt
đầu sử
dụng
tàu
container
chuyên
dụng
vào
việc
chuyên chờ hàng hoa
giổa
các
cảng
của Mỹ và một số nước
Nam Mỹ, Châu Âu,
Nhật
Bản.
Việc
sử
dụng
container trong
chuyên chờ hàng
hoa
ngày càng phổ
biến
hiện
rát
nhiều
loại
container
có kích thước hình dành khác
nhau
trong
chuyên chở
quốc
tế.
Điều này gây
ra
nhiều
khó khăn
trong
quá trình chuyên chờ và
giảm
hiệu
quả
kinh tế
của phương pháp chuyên chờ
container
Giai đoạn 3 (1967 - 1980): đánh dấu sự phát
triển
vượt
bậc của chuyên
chờ
hàng hoa
bang
chuyên chờ
quốc
tế.
Sự
kiện thứ
2
là
tháng 12 năm 1967 thành
lập
"Công
ty
quốc
tế
về chuyên chờ
container" với
tên
gọi "Intercontainer"
có
trụ
sở chính
tại
Brucxen,
Bỉ. Công
ty
này
kinh
doanh
chuyên chờ
container
bang
chờ
container
và
thiết
bị xếp dỡ
container
tăng
nhanh
và ngày càng
hiện đại.
Ớ
nhiều
nước trên
thế
giới
đã hình thành hệ
thống
vân
tải container
bao gồm vận
tải
đường
sắt,
ôtô mặc dù trình độ kĩ
thuật
tồ
chức
quản
lý và
kinh
quốc
tế.
Các
tuyến
đường
sắt,
đường
biển
chuyên
chờ container
ờ Châu Âu và trên
thế
giới
đã hình
thành.
Đây có
thể
nói là
thời
kì phát
triến
nhanh
và
rộng
rãi của phương pháp chuyên chở
container trong
buôn bán
quốc
tế.
Đen
chiều
sâu của hệ
thống
vận
tải
container với việc
sử
dụng
container
loẩi
lớn
ờ hầu
hết
các
cảng
biến
trên
thế
giới.
Tàu chuyên
dụng
chờ
container
thế
hệ
thứ
tư
với
sức chở 6.000 TÊU đã được đưa vào
khai
cũng
xuất
hiện
một xu
hướng
mới đó là các công ty
container lớn
trên
thế
giới
liên
minh
với
nhau
thiết
lập
quan
hệ hợp tác lâu dài
hay
sáp
nhập
đê tăng khả năng
cẩnh
tranh.
Các sự
kiện
chính gồm có:
+ Năm
1981:
Cảng
Cũng
trong
năm này, Quốc
hội
Mỹ xây
dựng
Bộ
luật
vận
tài
biển.
+ Năm
1987:
Công
ty
DSR -
Senator
bắt
đầu
kinh
doanh
tuyến
chuyên
chở container
vòng
quanh
thế
giới.
+ Năm
1988: