MỤC LỤC
CÁC TỪ VIẾT TẮT
DV Dịch vụ
DN Doanh nghiệp
KT – XH Kinh tế - xã hội
ĐV Đơn vị
KH, CN Khoa học, công nghệ
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Tình hình du lịch Việt Nam từ 2010 – 2012
Bảng 2: Số lượng khách quốc tế đến Việt Nam phân theo mục đích
Bảng 3: Tình hình xuất khẩu lao động qua các năm từ 2007- 2012
Bảng 4: Lượng khách và hàng hóa vận chuyển bằng đường biển giai đoạn 2009 –
2013
Bảng 5: Lượng khách và hàng hóa vận chuyển bằng đường hàng không trên toàn
Việt Nam giai đoạn 2009-2012
Bảng 6: Tình hình dịch vụ tài chính Việt Nam năm 2009 – 2012
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Thể hiện khối lượng hàng hóa luân chuyển theo khu vực của Việt Nam
giai đoạn 2009-2012
Biểu đồ 2: Khối lượng hàng hóa luân chuyển của Việt Nam giai đoạn
2009 - 2012
MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn hiện nay, xu thế chung của sự phát triển kinh tế là tập trung phát
triển mạnh về lĩnh vực dịch vụ (DV). Một đất nước được đánh giá là phát triển thì ngành
dịch vụ đóng góp vào tổng GDP nhiều hơn so với ngành nông nghiệp và ngành công
nghiệp. Do đó, Việt Nam muốn trở thành một nước phát triển thì cũng không ngoại lệ
với xu thế phát triển đó. Nhưng nước chúng ta là nước có điểm xuất phát thấp, nên để có
thể đạt được những thành công trong ngành dịch vụ thì cũng cần phải biết tận dụng
những lợi thế so sánh của mình để phát triển kinh tế đồng thời đẩy nhanh quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước. Phát triển ngành dịch vụ là sự phát
triển diễn ra trên nhiều lĩnh vực, nhưng để có vốn tích lũy xây dựng cơ sở vật chất thì
không gắn liền với sản phẩm vật chất. Chẳng hạn, khi thuê phòng ở khách sạn, ghi tên
tiền gửi vào ngân hàng, đi du lịch bằng máy bay, đi khám bệnh, đưa ô tô đi sửa chữa,
xem trận đấu của các vận động viên chuyên nghiệp, xin ý kiến tư vấn của luật sư,…
trong tất cả các trường hợp này ta đều nhận được một dịch vụ.
Theo C.Mác, dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà nền kinh tế
hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một số lượng lớn lưu thông trôi chảy, thông suốt, liên
tục để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người thì dịch vụ phát triển. Như vậy,
bằng cách tiếp cận dưới góc độ kinh tế, C.Mác đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và sự phát
triển của DV.
Vào những năm cuối của thế kỉ XX, DV đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng
của các quốc gia và đã trở thành đối tượng nghiên cứu của kinh tế học, văn hóa học,
hành chính học, luật học, khoa học quản lý. Do vậy có những khái niệm về dịch vụ theo
nghĩa rộng, hẹp khác nhau. Đồng thời cách hiểu về nghĩa rộng, hẹp cũng khác nhau.
4
- Theo nghĩa rộng: DV là khái niệm chỉ toàn bộ các hoạt động mà kết quả của chúng
không tồn tại dưới dạng hình thái vật thể. Hoạt động dịch vụ bao trùm lên tất cả các lĩnh
vực với trình độ cao, chi phối rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội (KT – XH),
môi trường của từng quốc gia, khu vực nói riêng và toàn thế giới nói chung. DV không
chỉ bao gồm những lĩnh vực truyền thống như: vận tải, du lịch, thương mại, ngân hàng,
bưu điện, bảo hiểm, truyền thông liên lạc mà DV còn lan tỏa đến các khu vực rất mới
như: bảo vệ môi trường, dịch vụ văn hóa, dịch vụ hành chính, tư vấn pháp luật, tư vấn
tình cảm,…
- Theo nghĩa hẹp: DV là làm một công việc cho người khác hay cộng đồng, là việc
mà hiệu quả của nó đáp ứng một nhu cầu nào đó của con người, như vận chuyển, cung
cấp nước, đón tiếp, sửa chữa và bảo dưỡngcác thiết bị máy móc hay công trình,…
Như vậy, có thể định nghĩa một cách chung nhất “Dịch vụ là những hoạt động lao
động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thức
vật thể, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thỏa mãn kịp thời các nhu
cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người.”
1.1.2. Ngoại tệ
khách hàng sử dụng thuận tiện hơn khi hàng hóa họ mua và thực hiện các yêu cầu khác
chẳng hạn như vận chuyển,…do vậy, đây cũng là loại hình dịch vụ rất cần thiết đối với
mỗi DN.
- Các hình thức DV sau khi bán hàng: đây cũng được xem là vũ khí bí mật trong
cạnh tranh.
1.2.3. Phân loại theo nhóm ngành
Thứ nhất, nhóm các dịch vụ có tính chất sản xuất hay liên quan tới việc tổ chức quá
trình sản xuất như: dịch vụ vận tải hàng hóa, bưu điện, thông tin liên lạc, sửa chữa máy
móc,…
6
Thứ hai, nhóm các DV liên quan đến việc tổ chức quá trình lưu thông sản phẩm: có
thể xem toàn bộ hoạt động thương mại chính là các ngành trong kinh tế DV nghĩa rộng
nhưng trên thực tế, người ta chỉ xem các hoạt động thương nghiệp nhỏ kết hợp với việc
gia công sửa chữa nhỏ,…
Thứ ba, nhóm các DV có liên quan với việc phục vụ đời sống con người là rất rộng
như các DV giáo dục và đào tạo nghề nghiệp, văn hóa và nghệ thuật, y tế, thể thao, du
lịch và giải trí,…
Thứ tư, nhóm các DV liên quan đến sử dụng chất xám gần đây được phát triển mạnh
do việc nâng cao trình độ và sư gắn bó hữu cơ khoa học kĩ thuật với sản xuất và đời sống
như: DV tư vấn, pháp lý, xử lý thông tin,…
Thứ năm, nhóm DV thu ngoại tệ. Do vai trò đặc biệt của nhóm DV này trong việc
làm tăng tổng sản phẩm của xã hội và thu nhập quốc dân nên thường được quan tâm
phát triển với tốc độ cao. Đó là DV du lịch quốc tế, thông tin liên lạc quốc tế, vận tải
đường biển và cung ứng tàu biển quốc tế, vận tải hàng không, DV bảo hiểm, DV xuất
khẩu lao động, DV kiều hối, tín dụng thanh toán quốc tế và tài chính quốc tế…
1.3. Vị trí và vai trò của dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội
1.3.1. Vị trí của dịch vụ
Dịch vụ là một hợp phần trong cơ cấu của nền kinh tế quốc dân. Nền kinh tế quốc
dân là một khối thống nhất với hai bộ phận chủ yếu bao gồm ngành sản xuất vật chất và
các ngành DV. Với một tỷ trọng ngày càng lớn trong nền kinh tế quốc dân, DV đã, đang
- Góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam với các nước khác trên thế giới, đồng thời xây
dựng thương hiệu cho chính mình trên trường quốc tế
- DV thu ngoại tệ góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động và nâng cao
tay nghề, trình độ cho người lao động
- Góp phần thúc đẩy thị trường tài chính tiền tệ phát triển, tạo nguồn ngoại tệ dự trữ lớn
hơn cho thị trường ngoại hối Việt Nam nhằm đối phó với những biến động lớn của nền
kinh tế.
8
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG CỦA HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ
THU NGOẠI TỆ
2.1. Thực trạng của hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ
2.1.1. Hoạt động du lịch quốc tế
Về du lịch quốc tế, Việt Nam chúng ta có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc phát
triển du lịch, đó là sự hấp dẫn về vẻ đẹp sinh thái tự nhiên, nền văn hóa đa dạng và
truyền thống lịch sử lâu đời, sự phong phú về di sản văn hóa, các làng nghề và các lễ hội
truyền thống gắn với các nhóm dân tộc của cả nước… Vì thế, VN đã và đang trở thành
một trong những đia điểm thu hút khách du lịch quốc tế. VN nằm trong top 6 nước được
lựa chọn đầu tiên dể tham quan du lịch. (www.molisa.gov.vn)
Du lịch là một ngành dịch vụ có ý nghĩa kinh tế - xã hội quan trọng. Với lợi thế là
một nước sở hữu nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, Việt Nam đang ngày càng trở
thành điểm đến du lịch hấp dẫn của nhiều khách quốc tế. Trong những năm qua nguồn
thu hút ngoại tệ từ dịch vụ du lịch đã góp phần đáng kể vào quá trình phát triển của đất
nước, ngành du lịch đã đạt được nhiều bước tiến đáng ghi nhận. Tuy nhiên, tiềm năng
của ngành còn rất lớn nếu biết khai thác và phát huy tốt những thế mạnh sẵn có.
Điều này được minh chứng thông qua những thành tựu nổi bật trong vài năm vừa
qua như sau:
Bảng 1: Tình hình du lịch Việt Nam từ 2010 – 2012
Chỉ tiêu
Năm
2010 2011 2012
10
Bảng 2: Số lượng khách quốc tế đến Việt Nam phân theo mục đích
ĐVT: nghìn lượt người
Năm 2005 2009 2010 2011 Sơ bộ 2012
Tổng số 3477,5 3747,4 5049,8 6250,9 6847,7
Du lịch, giải trí 2038,5 2240,9 3110,4 3888,2 4170,9
Thương mại 495,6 742,1 1023,6 1003,0 1166,0
Thăm thân nhân 508,2 517,8 574,1 1007,3 1150,9
Các mục đích khác 435,2 246,6 341,7 352,5 359,9
Nguồn: Niên giám thống kê 2012
Khách đến đông nhất chủ yếu ở các nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ,
Đài Loan, Úc, Pháp, Thái Lan, Malaysia, Campuchia, Singapo, Anh, Đức. Lượng hành
khách quốc tế sang Việt Nam chủ yếu du lịch giải trí. Hiện nay, các địa phương như Đà
Nẵng, Bình Thuận, Khánh Hòa được đánh giá là điểm sáng của du lịch Việt Nam, bứt
phá trở thành các điểm du lịch quan trọng của khu vực Trung bộ và cả nước. Nhiều khu
du lịch, resort, khách sạn mới được khởi công hoặc hoàn thành đưa vào phục vụ du lịch
đã góp phần đáng kể vào vào việc tăng cường năng lực, điều kiện cho ngành, tạo ra được
sự bứt phá hiệu quả về mô hình tổ chức kinh doanh, trở thành điểm sáng của ngành.
2.1.2. Hoạt động xuất khẩu lao động ra nước ngoài
Hiện nay Việt Nam có khoảng 400.000 lao động và chuyên gia làm việc ở trên 40
nước và vùng lãnh thổ với hơn 30 nhóm ngành nghề các loại. Lao động xuất khẩu qua
đào tạo ngày càng tăng. Số lao động này hàng năm đã gửi về nước một lượng ngoại tệ
đáng kể, bình quân từ năm 2007 đến năm 2012, số ngoại tệ các lao động gửi về từ 1,6
đến 2 tỷ USD. Trong đó từ Hàn Quốc trên 700 triệu USD, Nhật Bản trên 300 triệu
USD. Năm 2010, Việt Nam đứng thứ 16 trong 30 quốc gia có lượng kiều hối chuyển về
nhiều nhất, là một trong 10 quốc gia có thu nhập lớn từ xuất khẩu lao động.
11
Bảng 3: Tình hình xuất khẩu lao động qua các năm từ 2007 - 2012
Năm Số lao động (người)
2007 85.020
Nguồn thu nhập cao từ hoạt động xuất khẩu lao động của người lao động đã góp
phần cải thiện đời sống gia đình và thân nhân họ, giúp nhiều gia đình trở nên khá
giả, nhiều lao động sau khi về nước đã trở thành các nhà đầu tư và chủ doanh
nghiệp, tạo việc làm cho một bộ phận lao động khác, đóng góp vào sự phát triển và
ổn định kinh tế xã hội. Nhưng sau khi về nước, nhiều người không được bố trí vào
công việc phù hợp để tận dụng vốn kỹ năng và kinh nghiệm quý giá của mình tích
lũy được khi xuất ngoại. Đây cũng là một mặt trái của hoạt động xuất khẩu lao
động
Thành tựu
Đối với một nước dân số trên 90 triệu người, với hơn trên một nửa là số người
trong độ tuổi lao động, nhưng số người thất nghiệp hàng năm lại rất cao thì xuất
khẩu lao động là một kênh giải quyết việc làm cho người lao động rất có ý nghĩa,
đồng thời đem lại nguồn thu ngoại tệ, nguồn thu nhập cho đất nước.
Hơn nữa, nó còn tạo điều kiện cho người lao động học hỏi được những kinh
nghiệm làm việc trong nền công nghiệp, nâng cao tay nghề và tác phong làm việc
cho người lao động…Những người này, với những kinh nghiệm học hỏi được cùng
với số vốn mà họ tích lũy được sau khi hoàn thành hợp đồng và trở về quê hương
đầu tư xây dựng nhà cửa, góp phần xóa đói giảm nghèo và thúc đẩy sự phát triển
kinh tế xã hội của đất nước. Vì vậy, xuất khẩu lao động là một hình thức đang được
Đảng và nhà nước rất quan tâm.
2.1.3. Dịch vụ vận tải quốc tế
Vận tải quốc tế là hoạt động chuyên chở hành khách và hàng hóa giữa các nước
bằng đường biển, đường bộ, đường hàng không…Vận tải quốc tế gắn liền với mậu dịch
13
quốc tế, với phân công lao động quốc tế và quốc tế hóa đời sống kinh tế. Trong vận tải
quốc tế quan trọng nhất là vận tải đường biển.
Từ khi nền kinh tế hàng hóa ra đời, nhất là khi trao đổi thương mại giữa Việt Nam và
các nước trên thế giới phát triển, ngành dịch vụ vận tải đã và đang từng bước góp phần
rất lớn của mình vào công cuộc phát triển kinh tế đất nước. Sự phát triển của vận tải
quốc tế của Việt Nam có tác dụng tăng nguồn thu ngoại tệ và tiết kiệm chi phí ngoại tệ
Bảng 4: Lượng khách và hàng hóa vận chuyển bằng đường biển giai đoạn
15
2009 - 2013
Năm 2009 2010 2011 2012
Hành khách
(triệu lượt người)
151,3 157,5 142,4 141,9*
Hàng hóa
(ngàn tấn)
55790,9 61593,2 63904,5 61476,1*
Nguồn: Niên giám thông kê
Số lượng hành khách đi lại bằng đường biển lớn thứ hai sau đường bộ trong các
phương tiện vận chuyển. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, số lượng hành khách đi
bằng đường biển có giảm nhẹ. Do sự phát triển của phương tiện vận chuyển khác, đặc
biệt là sự tiện nghi của phương tiện hàng không, nên số khách quốc tế chuyển sang sử
dụng loại này. Tốc độ giảm bình quân về vận chuyển hành khách là: 2,11%. Khối lượng
hàng hóa vận chuyển không ngừng tăng lên qua các năm. Đường biển có thể vận chuyển
những hàng hóa có trọng lượng rất lớn. Tốc độ tăng bình quân về vận chuyển hàng hóa
là: 3,3%.
+ Vận tải hàng không
Vận tải hàng không là một hoạt động không thể thiếu trong vận tải quốc tế . Dịch vụ
vận tải hàng không Việt Nam có lịch sử hình thành còn quá non trẻ. Cùng với chính sách
mở của nền kinh tế, ngành hàng không đã có những bước tiến vượt bậc trong những năm
qua, đặc biệt trong lĩnh vực vận tải hàng không. Nhiều chuyến bay mới trong nước và
quốc tế được thiết lập và hoạt động như: Malaysia Airlines, China Airl, Korea Airlines.
Quata Airlines, Airl France…
Nhà nước đã có pháp luật cho ngành hàng không Việt Nam ra đời năm 1991, bên
cạnh đó các luật doanh nghiệp nhà nước, luật công ty… đã góp phần tạo nên một hành
lang pháp lý cho các loại hình doanh nghiệp vận tải hàng không, các yếu tố nước ngoài
được hình thành ở Việt Nam.
tài chính
175 192 208 150
Nguồn: Niên giám thống kê 2012
Nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu dịch vụ tài chính liên tục tăng từ năm 2009 đến
năm 2011 tăng 33 triệu USD. Tuy nhiên năm 2012 lại giảm một cách nhanh chóng,
lượng ngoại tệ thu được thấp hơn cả năm 2009. Nguyên nhân là do kinh tế suy giảm,
chính sách tài chính, tiền tệ thực hiện theo hướng thắt chặt, nhưng chất lượng tín dụng bị
giảm sút, biểu hiện rõ nhất là nợ xấu, nợ quá hạn tăng. Ngoài nguyên nhân bất ổn kinh tế
tác động, thì phải kể đến nguyên nhân từ chính các Ngân hàng thương mại như cho vay
chưa thực sự gắn với năng lực quản lý và sử dụng vốn vay của doanh nghiệp…
17
- Chính sách thu hút kiều hối
Theo quy định hiện hành, người nhận kiều hối được quyền nhận bằng ngoại tệ hoặc
đồng Việt Nam, được gửi ngoại tệ vào tài khoản tiền gửi cá nhân, gửi tiết kiệm ngoại tệ và
sử dụng vào các mục đích theo quy định của pháp luật. Đồng thời, chính sách phát triển
mạng lưới nhận và chi trả ngoại tệ trên phạm vi toàn quốc đã tạo điều kiện thuận tiện cho
việc nhận kiều hối. Nhờ đó, nguồn kiều hối hàng năm chuyển về Việt Nam đã góp phần
đáng kể vào cân đối cung cầu ngoại tệ, hỗ trợ cán cân thanh toán quốc tế.
Năm 2012, Việt Nam thu hút hơn 10 tỷ USD kiều hối và lượng tiền này đã đưa Việt
Nam xếp thứ 7 trong số các nước nhận kiều hối nhiều nhất thế giới. "Lượng kiều hối này
chiếm 60-70% nguồn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam từ năm 1991 tới nay và đây là
nguồn tiền thực đóng góp rất hiệu quả vào công cuộc phát triển kinh tế, góp phần ổn
định tỷ giá và tăng lượng dự trữ ngoại tệ". Theo Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở
nước ngoài, kiều hối năm 2012 tăng hơn 10% so với năm 2011. Lượng kiều hối năm
2012 tăng, một phần còn do những cải tiến trong giao dịch khiến thời gian tiến hành
nhanh và thuận tiện hơn nhiều so với trước mang lại tiện ích tốt nhất cho khách hàng.
Đóng góp rất lớn vào nguồn kiều hối năm 2012 là hơn 4 triệu kiều bào đang sinh sống
tại nước ngoài và đặc biệt là 400.000 lao động Việt Nam đang làm việc tại Nhật Bản,
Hàn Quốc, Malaysia, Đài Loan (Trung Quốc) và khu vực Trung Đông.
Năm 2012 lượng kiều hối bán cho hệ thống ngân hàng tăng mạnh. Theo ông Nguyễn
số khu vực trên thế giới,chưa đáp ứng được xu hướng hội nhập nhanh và rộng; cơ sở hạ
tầng kĩ thuật chưa đáp ứng việc phát triển hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ. Bên cạnh đó,
tùy theo từng lĩnh vực mà hoạt động thu ngoại tệ còn hạn chế cần thay đổi cụ thể:
- Lĩnh vực du lịch: Tuy ngành du lịch đã có những bước phát triển như trên, nhưng
trên thực tế vẫn chưa thực sự bền vững. Giá dịch vụ du lịch tăng cao, chất lượng dịch vụ
thấp. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến tác động dây chuyền ảnh hưởng đến lượng
khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. Bên cạnh đó, công tác quảng bá, xúc tiến du lịch
19
chưa được chú trọng đúng mức cũng là nguyên nhân khiến lượng khách du lịch quốc tế
giảm. Ngoài ra sự phối hợp, liên kết giữa các doanh nghiệp du lịch và các ngành khác
chưa được chặt chẽ nên dịch vụ du lịch Việt Nam chưa đa dạng, giá dịch vụ du lịch càng
khá cao so với các nước trong khu vực. Cùng với đó là các vấn đề khác như: giao thông,
quy hoạch đô thị, vệ sinh an toàn thực phẩm…Chưa được giải quyết triệt để đã ảnh
hưởng rất nhiều đến chất lượng phục vụ và khả năng cạnh tranh thu hút khách du lịch.
Tóm lại, du lịch Việt Nam còn nhiều hạn chế như cơ sở hạ tầng còn kém, chất
lượng phục vụ chưa cao… Điều này dẫn đến tình trạng lượng khách du lịch quay trở lại
không nhiều.
- Lĩnh vực xuất khẩu lao động: Mặc dù xuất khẩu lao động đã được những thành
tựu đáng kể trên nhưng vấn đề này vẫn tồn tại một số hạn chế. Công tác xuất khẩu lao
động trong thời gian qua vẫn chưa ổn định, chưa tương xứng vơi tiềm năng lao động
trong nước. So với các nước trong khu vực thì số lượng lao động xuất khẩu của nươc ta
vẫn khá khiêm tốn.
Về chất lượng lao động là một điều rất được quan tâm của lao động Việt Nam, lao
động nước ta được biết đến với những bất lợi thể hiện ở “ba không”: không nghề,
không ngoại ngữ và không tác phong công nghiệp. Điều này trở thành một bất lợi lớn
cho lao động nước ta khi làm việc ở nước ngoài.
Như đã biết trình độ tay nghề của lao động Việt Nam khi xuất khẩu ra nước ngoài
rất thấp, chúng ta chủ yếu xuất khẩu những lao động phổ thông chưa qua đào tạo nghề,
không có trình độ chuyên môn kĩ thuật. Chính vì vậy mà thu nhập của người lao động
Việt Nam luôn thấp hơn lao động xuất khẩu của các nước khác.
được toàn bộ các khâu trong chuỗi cung ứng dịch vụ, do đó nguồn lợi to lớn từ loại
hình dịch vụ tổng hợp này vẫn tiếp tục chảy vào túi các doanh nghiệp nước ngoài.
2.3. Triển vọng của hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ
2.3.1. Hoạt động du lịch quốc tế
21
Việt nam hiện nay là một quốc gia có tiềm tăng và được đánh giá là 1 trong 10 nước
có triển vọng tăng trưởng ngành du lịch cao nhất thế giới giới.
Nằm ở khu vực Đông Nam Á, nơi đang diễn ra các hoạt động kinh tế sôi động nói
chung và du lịch nói riêng, Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch.
Sự đa dạng về nguồn tài nguyên cả về thiên nhiên ( bãi biển, hang động, đảo, nước
khoáng, lớp phủ thực vật, giới động vật quý hiếm, nhiều cảnh quan thiên nhiên độc đáo
điển hình…) lẫn nhân văn ( các di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, phong tục tập quán,
các làng nghề thủ công truyền thống, sự đa dạng về bản sắc văn hóa của dân tộc….), là
điều kiện, là tiềm năng để phát triển nhiều loại hình du lịch với thời gian dài ngắn khác
nhau.
Tài nguyên du lịch nước ta phân bố tương đối tập trung. Điều đó góp phần hình
thành các lãnh thổ du lịch điển hình trong toàn quốc. Mỗi lãnh thổ du lịch có một sắc
thái riêng, tạo nên các tuyến du lịch xuyên quốc gia, không lặp lại giữa vùng này với
vùng khác nên thường không làm nhàm chán khách du lịch. Mặt khác chúng lại gần các
đô thị lớn, các cửa khẩu quốc tế quan trọng tạo thuận lợi cho việc đi lại, thăm viếng, ăn
ở của khách. Nhiều vùng du lịch của Việt Nam, nếu được quy hoạch và đầu tư thích
đáng sẽ trở thành những trung tâm du lịch lớn có thể cạnh tranh với các nước tỏng khu
vực và trên thế giới. Đó là trung tâm du lịch Hà Nội và phụ câng ( Hà Tây, Ninh Bình,
Phú Thọ, Hòa Bình…), vùng biển Hạ Long – Cát Bà – Đồ Sơn ( Quảng Ninh- Hải
phòng), vùng Đại Lãnh, Văn Phong, Nha Trang ( khánh hòa), Đảo Phú Quốc ( Kiên
Giang), Huế - Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh và đồng bằng song Cửu Long…
Nước ta có nguồn nhân lực dồi dào, lao động có kĩ thuật, thông minh, bước đầu đã
tiếp cận và làm quen với các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch quốc tế. Việc phát
triển du lịch trong tương lai sẽ tạo nhiều việc làm cho đất nước.
Với những tiềm năng và triển vọng phát triển như vậy, ngành du lịch việt nam trong
biển, đánh bắt và chế biến hải sản mà chúng ta có khả năng đáp ứng. Ví dụ: Nền kinh tế
rất phát triển của Nhật Bản hàng năm cần một lượng lớn lao động mà dân số với tỉ lệ
người quá tuổi lao động lên đến 30% không đáp ứng đủ. Vì vậy, hiện nay Nhật Bản vẫn
23
cần một lượng lớn lao động mà Việt Nam hoàn toàn có khả năng đáp ứng, giúp giải
quyết tình trạng thiếu việc làm trong nước.
2.3.3. Dịch vụ vận tải quốc tế
Tuy chỉ mới xuất hiện tại Việt Nam từ khi nền kinh tế hàng hóa ra đời, nhất là khi
trao đổi thương mại giữa Việt Nam và các nước trên thế giới phát triển, nhưng
ngành logistics mà trong đó vận tải là khẩu qua trọng nhất đã và đang từng bước góp
phần rất lớn của mình vào công cuộc phát triển kinh tế đất nước. Theo Bộ Công
Thương, dịch vụ logistic ở Việt Nam chiếm từ 15 - 20% GDP (khoảng 12 tỷ USD) -
một khoản tiền rất lớn và gắn với toàn bộ khâu lưu thông, phân phối của nền kinh tế.
Nếu chỉ tính riêng khâu quan trọng nhất của logistic là vận tải, chiếm từ 40 - 60% chi
phí thì cũng đã là một thị trường dịch vụ khổng lồ. Điều này cho thấy, dịch vụ vận tải
quốc tế có ý nghĩa quan trọng và việc giảm chi phí này sẽ góp phần tạo lợi thế cạnh
tranh cho hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp trong nước.
Tiềm năng phát triển dịch vụ vận tải quốc tế còn to lớn hơn nữa khi kim ngạch
thương mại Việt Nam được xem là có mức tăng nhanh nhất trong khu vực với tốc độ
gần 18 - 20%/năm và kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 114 tỷ USD.
Theo lộ trình cam kết WTO về mở cửa thị trường, Việt Nam sẽ dần mở rộng cửa để
các doanh nghiệp quốc tế tham gia vào hoạt động dịch vụ vận tải cùng với dịch vụ xếp
dỡ container, dịch vụ thông quan, dịch vụ kho bãi, các dịch vụ thực hiện thay cho chủ
hàng… Đến năm 2015, Việt Nam sẽ nâng gấp đôi năng lực xếp dỡ hàng hóa so với hiện
tại (khoảng 250 triệu tấn/năm) (theo quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển cảng
biển Việt Nam ngày 24/12/2009).
Những động thái tích cực này đang mở ra một bức tranh tươi sáng, tràn đầy hy vọng
cho ngành logistics nước nhà trong thời gian tới. Đồng thời cho ta niềm tin về một tương
lai không xa, Việt Nam sẽ trở thành quốc gia hàng đầu về phát triển vận tải quốc tế qua
đó sẽ góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.