TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA KINH TÊ VÀ KINH DOANH QUỐC TÊ
CHUYÊN NGÀNH KINH TÊ ĐỐI NGOẠI
- — - — — ***——
KHOA
LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề
tài:
TÌM HIỂU HỆ THỐNG PHÂN PHỐI TRÊN
THỊ
TRƯỜNG
NHẬT BẢN VÀ KHẢ
NĂNG THÂM
NHẬP
CỦA CÁC
DOANH
NGHIỆP
VIỆT
NAM
THỰ VIÊN
;
!."
"tú
ì
ị
;
THỐNG
PHAN
PHỐI
HANG HOA
VÀ
Dặc
DlấM
cùn
Hệ
THỐNG
PHÂN PHÔI HÀNG Hon
TRỂN
THỊ
TRƯỜNG
NHẬT
BẢN
5
ì.
Tổng
quan
về hệ thông phân phôi hàng
hoa
5
1.1.
Bản
chất
hệ thống phán
phối
háng hoa
5
chất
phân
phối
7
1.3.
Câu
trúc
hệ
thống
phân
phối
hăng hóa
7
ỈA. Các
kiểu trung gian
phàn
phối
hàng hoa
lo
1.4.1.
Các
trung
gian
bán
lẻ
lo
1.4.2.
Các
trung
gian
phối
hàng
hoa
trên
thị
trường
Nhật
Bản
17
2.1.
Giới thiệu
chung
vé
tinh hình kinh
tế
vờ
thị
trường
Nhật
Bản
17
2.2.
Đặc
điểm của hệ
thống
phân
phối
hàng hoa
trên
thị
trung
gian giữa
nhà sàn
xuất với
người
tiêu dùng
cuối
cùng
23
2.2.3.
Vai
trò
và sự
ảnh
hường
to
lớn
của
các
cõng ty thương
mại
tổng
hợp
(Sogo
shosha)
đến hệ
thống
phân
phối
24
27
2.3.1.
Ngày càng
nhiều
doanh
nghiệp
chuyển
sàn
xuất
ra nước ngoài
và
nhập
khẩu
thành phẩm ngược
trờ
lại
để bán
ở
thị
trường
nại
địa
27
2.3.2.
Xu
hướng
sáp
nhập
cùa các
trung
trường
Nhật
Bản
30
CHƯƠNG
li.
HỆ
THỐNG PHAN
PHỐI
TRÊN THỊ
TRƯỜNG NHẬT BẢN
cùn
MỘT SỐ MỘT
HANG
XUẤT KHẨU CHỦ VÍU cùn
VIỈT
NAM VÀ KHẢ
NANG
THAM NHẬP cùn cóc
DOANH
NGHIỆP
Vlộ
NAM 31
ì.
Mặt hàng
dệt
may 31
1.1.
Đặc
điểm
may
nhập
khẩu
vào
Nhật
Bàn
33
1.1.3.
Đặc
điểm
hệ
thống
phân
phối
hàng
dạt
may
nhập
khẩu
trên
thị
trưảng
Nhật
Bản 34
1.2.
Thực
trạng xuất
khẩu
và
phán
1.2.2.
Cơ
cấu
hàng
dệt
may
xuất
khẩu sang Nhật
Bản
36
1.2.3.
Tình hình thâm
nhập
vào hệ
thống
phân
phối
trên
thị
trưảng
Nhật
Bản của hàng
dệt
may
xuất
khẩu
Việt
Nam 37
1.3.
Đánh
41
1.3.4.
Thách
thức
41
li.
Mặt hàng gỗ và các
sản
phẩm
từ
gỗ
42
2.1.
Đặc
điểm
thị
trường
và hệ
thống
phán
phối
mặt hàng
gỗ
và
các
sản phẩm
từ
gỗ
trên
thị
thị
trưảng
Nhật
Bản
43
2.2.
Thực
trạng
xuất khẩu và phán phối
gỗ
và các sản phẩm
gỗ
của
Việt
Nam
trên
thị
trường
Nhật
Bản 45
2.2.2.
Cơ
cấu sản
phẩm gỗ
xuất
khẩu sang Nhật
Bản
46
2.2.3.
Tinh
trường
Nhật
Bản của doanh
nghiệp xuôi
khâu
gỗ
và các sân
phẩm gỗ của
Việt
Nam 5Ị
2.3.1.
Điểm
mạnh
51
2.3.2.
Điểm
yếu
51
2.3.3.
Cơhội
52
2.3.4.
Thách thúc
52
IU.
Mặt hàng
rau
quả
53
3.1.
phối
rau
quả
nhập
khẩu
trẽn
thị
trường
Nhật
Bản
55
3.2.
Thục
trạng xuôi
khẩu
và
phân
phôi
rau
quả của
Việt
Nam
trên
thị
trường
Nhật
Bản 60
3.2.1.
Kim
ngạch
3.3.
Đánh
giá
chung vê
tình
hình thâm nhập hệ
thông
phân phối
trên
thị
trường
Nhật
Bàn của doanh
nghiệp
xuđ
khẩu
rau
quả
Việt
Nam 64
3.3.1.
Điểm
mạnh
64
3.3.2.
Điểm
yếu
64
3.3.3.
Cơ
2.
Những hạn chè còn
tấn
tại
và
nguyên nhân
68
CHƯƠNG
HI.
MỘT SỐ
GIÃI PHÁP NÂNG
CHO KHA
NĂNG
THAM NHỊP cùn
HÁNG
XUHT KHẨU
VIỆT
NUM
VÀO Hệ THÔNG
PHAN
PHÔI THÍN THỊ
TRƯỜNG
NHỌT
BÒN.
70
ì.
Triển
vọng
phát
triển
70
1.2.
Triển
vọng và
định
hướng
xuất
khẩu một sấ mặt hàng
thế
mạnh của
Việt
Nam
trên
thị
trưởng
Nhật
Bản 71
1.2.1.
Mặt hàng
dệt
may 71
Ì .2.2.
Mạt hàng gỗ và các
sản
phẩm
từ
gỗ
72
1.2.3.
Mặt hàng
với
các
cấp
quản
lý Nhà nước
73
2.1.2.
Giải
pháp
với
các
doanh
nghiệp
có hàng
xuất
khẩu sang
thi
trường Nhát Bản
75
2.2.
Nhóm
giải
pháp dành
riêng
cho
từng loại
mặt hàng
xuất
khẩu
77
TÀI
Liễu
THAM KHẢO 94
LỜI
MỎ Đẩu
/.
Ý
nghĩa
và
tính
cấp
thiết
của đề
tài:
Nhật
Bản là nền
kinh tế lớn thứ hai
trẽn
thế
giới
sau Hoa Kỳ, đổng
thời
cũng
là
thị
trường
xuất
khẩu
đầy
tiềm
nhanh
trong
quan
hệ thương mểi
hai nước.
Tuy nhiên, so
với
tổng
kim
ngểch nhập khẩu
của
Nhật
Bản thì kim
ngểch nhập khẩu từ
Việt
Nam vẫn còn
rất
khiêm
tốn.
Mặc dù
các sản phẩm của
Việt
Nam không
ngừng
được nâng cao cà về
chất
lượng
lẫn
mẫu
mã,
hệ mật
thiết
giữa
các nhà buôn với các nhà bán lè thông qua các chính sách liên
quan
đến tài
chính hệ
thống
phân
phối
khép kín và
chặt
chẽ của
Nhật
Bản
từ
trước đến nay luôn
được
xem như rào cản khó
vượt
qua
đối với
các
doanh
nghiệp xuất
khẩu
nước ngoài.
Chính vì
vậy,
để có
lược thâm
nhập
thị
trường
phù hợp
với
quy mô
doanh
nghiệp,
đểt
hiệu
quả
cao.
Nghiên cứu hệ
thống
phân
phối
trên
thị
trường
Nhật
Bàn, đề
ra
các
giải
pháp để thâm
nhập
thị
trường khó tính này là
một
thống
phân
phối
trên
thị
trường
Nhật
Bản của một số
mặt
hàng
xuất
khẩu
chủ yếu của
Việt
Nam.
• Tim
hiểu
tình hình thâm
nhập
hệ
thống
phân
phối
hàng hoa trên
thị
trường
Nhật
Bản của một số mặt hàng
xuất
khẩu
thị
trường
Nhật
Bản.
///. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước:
Có
rất
nhiều
bài
báo,
luân văn ờ
cấp
đại
học và trên
đại
học nghiên cầu các
khía
cạnh
khác
nhau
về
thị
trường
Nhật Bản.
Riêng về hệ
thống
phân
phối
trẽn
thị
vụ
doanh
nghiệp
(www.vcci.com.vn);
và một số
tiểu
mục
trong
các
đề
tài
nghiên cầu vé
giải
pháp đẩy
mạnh
xuất
khẩu
của
Việt
Nam
sang
thị
trường
Nhật Bản.
Nhưng hầu như chưa có đề tài nào nghiên cầu chuyên sâu vé hệ
thống
phân
phối
trên
thị
nhập
cụ
thể
cho doanh
nghiệp xuất
khẩu
nước ngoài.
Vì
vậy,
có
thể
nói "Tìm
hiểu
hệ
thông
phán
phôi trên
thị
trường
Nhái Bản
và khả năng thâm nhập của các doanh
nghiệp Việt
Nam
"
là một đề tài mới mẻ
chưa được
tiếp
cận
sâu
sắc
nghiên
cầu
tình hình
thâm
nhập
thực tế
của
một số mặt hàng
xuất
khẩu
tiềm
năng của
Việt
Nam vào
thị
trường
Nhật Bản;
cơ sờ đề
xuất
giải
pháp và
cấc
giải
pháp hỗ
trợ
doanh
nghiệp
Việt
Nam thâm
nhập
phẩm
từ gỗ,
Hàng
rau
quả.
Lý do
lựa
chọn
ba nhóm hàng
trên:
Hiện
nay đây đều là
những
nhóm hàng
được
đánh giá là
trọng
tâm
xuất
khẩu
của
Việt
Nam, có kim
ngạch
xuất
khẩu
nầm
trong
nhóm 15 mặt hàng có kim
ngạch
đặc
biệt
là nhóm hàng đổ
gỗ.
Trong
tương
lai,
đây
cũng
là
những
mặt hàng được đánh
giá có
tiềm
năng
khai
thác
lợi
thế xuất
khẩu của
Việt
Nam
trên
thị
trường
Nhật
Bản.
* Không
gian:
Do đặc thù cùa ba mặt hàng
V. Phương pháp nghiên cứu:
Khóa
luận
sử dụng
các phương pháp nghiên
cứu chủ yếu sau:
• Phương pháp
logic
biện
chứng.
• Phương pháp
thu thập
tài
liệu.
• Phương pháp phân
tích
thống
kê.
VI. Bõ cục của khóa luận:
Khoa
luận ngoại
trừ
phẩn
Lời
mở
đẩu
và
phấn Kết
luận
gồm có 3 chương:
Nhật
Bản
của
một
số
mặt hàng
xuất
khẩu
chủ yếu của
Việt
Nam và khả năng thâm
nhập
của các
doanh
nghiệp
Việt
Nam.
• Chương
HI:
Một số
giải
pháp nâng cao khả năng thâm
nhập
của hàng
xuất
khẩu
Việt
Nam vào
hệ
thống
định
hướng,
hỗ
trợ
tài
liệu
và góp ý
rất
nhiều trong
quá trình nghiên cừu
đề
tài.
Em
cũng
xin
cảm ơn Khoa
Kinh
tế
và
Kinh
doanh quốc
tế
- Trường
Đại
học
Ngoại
Thương đã
tạo
mọi
điều
chưa
nhiều,
nên
khoa
luận
này không
thể
tránh
khỏi
những khiếm
khuyết.
Vì
vậy,
người
viết rất
mong
nhận
được ý
kiến
đánh
giá, nhận
xét và góp ý của các độc
giả
quan
tâm đến
lĩnh
vực
này để
khoa
luận
niệm
Có
rất
nhiều
cách nhìn
nhận
khác
nhau
của
các nhà
kinh
tế hởc
về hệ
thống
phân
phối
hàng
hoa.
Theo
nhà
kinh
tế
hởc
người
Nhật
Katsuri
Rangan,
phân
phối
hàng hoa
rằng
hệ
thống
phân
phối
hàng hoa là một nhóm các
tổ
chức
và cá nhân
thực
hiện
các
hoạt
động
làm cho sản
phẩm
hoặc
dịch
vụ
sẵn
sàng để
người
tiêu dùng
cuối
cùng
hoặc
người
sử
dụng
công
gia vào
quá
trình
đưa
hàng
hoa
từ
người
sản
xuất tới người liêu dùng cuối cùng.
[3]
1.1.2. Đặc điểm hệ thông phán phôi hàng hoa
Hệ
thống
phân
phôi
hàng hoa
là
một
chuối
các
mối quan hệ
giũa
các tổ
chức
và cá nhân có
liên
quan
trong
quá
là
một
chuữi
gồm
nhiều
mắt
xích
mà
mữi mắt
xích
như một
thành viên thì
móc
nối
giữa
những mắt
xích
ấy được
tạo
thành
bởi các
dòng
vận
động
như:
Đăm
phán, thanh toán,
xúc
tiến
dặt
làm cho
toàn bộ
sợi
dây hệ
thống
phân
phối
vận
hành được ổn
định.
Luôn có sự phán
công
lao
động
và
chuyên
môn hoa
trong
hệ
thống
phàn
phối
hàng
hoa.
Mỗi
tổ chức
kinh
doanh
nhít định đảm
nhận
được
một
phần
công
việc
với
các nhà sản
xuất
mà vì
chỉ tập
trung
vào
việc
phân
phối
nên hầ
thực hiện
công
việc
hiệu
quả hơn hẳn so
với
các nhà sản
xuất,
từ
đó
giúp làm tăng
hiệu
quà
của
dùng
cuối
cùng để
tạo
nén
lực
hút hàng hoa
ra
thị
trường.
Cơ
chế "đẩy"
là
việc
doanh
nghiệp
sử
dụng
các
biện
pháp thúc đẩy hệ
thống
phân
phối
tăng
cường
hoạt
động
tiêu
thụ,
là hệ thông phân phôi hình thành một
cách
ngẫu
nhiên
tự
phát.
Đó
là
một
mạng
lưới
rời rạc,
kết nối
một cách
lỏng lẻo
các
nhà sản
xuất,
bán
buôn,
bán
lẻ
hoạt
động độc
lập
có
hoạt
động buôn bán
trực
tiếp
kết
dọc:
là hệ thông phân
phối
hàng hoa có
chương trình
trầng
tâm và
quản
lý chuyên
nghiệp
được
thiết
kế nhằm
đạt
hiệu
quả
phân
phối
cao và ảnh
hưởng
tối
đa
tới
thị
trường.
Các thành viên
trong
hệ
thống
và
chủ
động
giải
quyết
xung
đột.
6
1.2.2.
Theo
tính
chất
phân
phối,
hệ
thống
phán
phối
hàng hoa phân thành hệ
thống
phân
phối
bán
lẻ
và hệ
thống
phân
phối
bán buôn.
* Hệ
mang
tính
chất
thương
mại.
Có
nhiều
tổ chức
- nhà sản
xuất,
nhà bán
buôn,
nhà bán
lẻ
-
thực hiện
các
chức
năng bán
lẻ,
nhưng
phặn
lớn
công
việc
bán
lẻ
là do
những
nhà bán
người
mua
về
để bán
lại
hoặc
để
kinh
doanh.
So
với
hệ thông bán
lẻ,
hệ
thống
bán
buôn có
những
đặc
điếm
khác biệt
sau:
• Thứ
nhất:
đôi
tượng
của
người
bán buôn
trong
hàng.
• Thứ
ba:
nhà bán buôn thường có phạm
vi
buôn bán
rộng
hơn và
khối
lượng
hàng hoa
giao
dịch cũng
lớn
hơn.
• Thứ
tư:
nhà bán buôn
chịu
những
quy định về pháp
luật
và
thuế
khoa
khác
với
nhà bán
lẻ.
1.3. Câu trúc hệ thõng phân phôi hàng hóa
chiều
dài của hệ
thống
phân
phối; chiều
rộng
của
hệ
thống
phân
phối
và các
loại
trung gian
ở
mỗi
cấp
độ cùa
hệ
thống
phân
phối.
7
Chiều dài của hệ thống phân phối được xác định
bởi
số cấp độ
trung gian
có
mặt
trong
-
người
tiêu dùng
tất
nhiên sẽ dài hơn hệ
thống
phân
phối
từ người
sản
xuất
đến
người
tiêu dùng.
Chiều rộng của hệ thống phân phối
biểu hiện
ờ số
lượng
trung gian
ở mỗi
cấp
độ
trung gian.
Các
loại
trung gian à mỗi cấp độ của hệ thống phân phôi.
Sơ đồ 1.1
biểu diỏn
bốn
kiểu
khấu
Người
sán
xuất/
Người
xuất
khẩu
Người
sán xuât/
Người
xuất
khấu
Người
bán buôn
Người
bán buôn
-ÌL
Người
bán
lẻ
Người
bán lé '
Người
bán
le
r 1
ĩ ì
1
Người
tiêu dùng Ị
và
dịch
vụ phân
phối theo
cách này. Do không có
trung gian trong
phân
phối
trực
tiếp
nên
người
sản
xuất phải thực hiện
tất
cả các
chức
năng của hệ
thống
phân
phối.
8
Hệ
thống
phân
phối
trực
tiếp
rất
thích hợp
người
bán
lẻ
rồi
mới
tới
người
tiêu dùng. Hệ
thống
phân
phối
này thường được hình thành
khi
người
bán
lẻ
có quy mô
lớn,
có
thể
mua
được
khối
lượng
lớn
sản phẩm từ nhà sản
xuất.
ở đây,
người
sản
thống
phân
phối
này được sử
dụng
phổ
biến
cho các
loại
hàng hoa có giá
trị
đơn vị
thấp, chi
phí
thấp,
được
người
tiêu dùng mua thường
xuyên như bánh
kẹo,
thuốc
lá,
báo và
tạp chí.
Đây
cũng
là
những
loại
hàng hoa có
để
tập
hợp hàng hoa và phôi hợp
cung
cấp sản phẩm
với
khôi lượng
lớn.
Mảt
số
doanh
nghiệp
lớn kinh
doanh
trên phạm
vi thị
trường
rảng
lớn
cũng
có
thể
sử
dụng
các
đại
lý trên các khu vực
thị
trường để đảm
nhiệm
Các hệ
thống
phân
phối
hàng hoa cho công
nghiệp
phổ
biến
Người
sản
xuất/
Người
nhập khẩu
Người
sản
xuất/
Người
nhập khẩu
Người
sán
xuất/
Người
nhập khấu
Người
sán
xuất/
Người
nhập khấu
Đại
lý
1.4.
Các kiêu
trung gian
phân phôi hàng hoa
Ì.4.1. Các trung gian bán lẻ
Các
dạng
trung gian
bán
lẻ
có
thể
phân
loại
theo
một
số
tiêu
thức
sau
đây:
•
Theo
số
lượng
dịch
vụ
cung
cấp
•
hàng
bán
lẻ
tự
do
lựa
chọn
hàng hoa có
người
bán
hàng
để
giúp
đỡ (như
cửa
hàng
hạ
giá,
cửa
hàng
tạp
hoa);
cửa
hàng
bán
lẻ phục vụ hạn
f/iế(như
cửa
hàng bách
hoa,
kinh
doanh
một
loại
mặt hàng
bán;
Cửa hàng bán
nhiều
loại
mặt
hàng như bách hoa
tổng hợp,
siêu
thị
c.
Theo
tinh chất
phục vụ
thương
mại có các dạng
sau:
Bán
lẻ
qua đơn
đặt
hàng qua bưu
điện
hay
điện
thoại;
lẻ thuộc
cùng một
chủ
sứ
hữu,
bán
những
mặt hàng tương
tự
như
nhau
và
việc
mua bán có
sự
điều
hành
tập trung.
Hợp
lác
xã bán
lè:
gồm một số các nhà bán
lẻ
độc
lập
liên
kết
lại
và thành
Các
đại
lý
độc
quyền kinh tiêu:
là
những
liên
kết theo
hợp đổng
giữa
bên chủ
quyền
(nhà
sản
xuất,
nhà bán buôn hay
tổ
chức dịch
vụ)
và bên
nhận
quyền
(các nhà
bán
lẻ)
muốn
mua
quyền
sứ hữu
bán buôn có
thể
phân thành bốn nhóm
lớn:
• Các
doanh
nghiệp
bán buôn hàng hoa
thực
sự
• Các nhà môi
giới
và
đại
lý
• Các
chi
nhánh và
đại
diện
bán
của
nhà
sản
xuất
• Các nhà bán buôn chuyên
doanh
a.
Các
doanh nghiệp
li
phương pháp
kinh
doanh
mà họ
mang
các tên khác
nhau
như: công
ty
bán buôn,
những người
phân
phối
buôn, nhà
cung ứng.
Các nhà bán buôn có
thể
phân thành
hai
dạng
lớn:
Bán buôn
dịch
vụ đầy đủ và bán buôn
dịch
vụ
hạn chế.
Nhà bán buôn
dịch
Nhà bán buôn
dịch
vụ
hạn c/íếdành
cho những người cung
ứng và khách hàng
của
mình
ít
dịch vụ
hơn
(ví dụ
như không
cung cấp dịch
vụ
vận chuyển đến
tận
nhà )
b.
Các nhà môi
giới
và
đại
lý
Các nhà mõi
giới
và
đại
lý khác
với
phần
trăm
trên
doanh số
bán.
Các nhà môi
giới:
Chức năng cơ
bản
cùa các nhà mói
giới
là
đưa
người
mua
đến
với
người
bán và giúp họ
thoa thuận với
nhau.
Tiền
công của nhà môi
giới
có
thể
đưởc
nhận
từ
một
diện
cho
người
mua và
người
bán trên cơ sở lâu
dài,
họ
cũng
thực hiện nhiều
chức
năng phân
phối
hơn,
có trách
nhiệm
và
quyền
lởi
hơn so
với
các nhà môi
giới.
c.
Các
chì
nhánh
và
đại
diện
bao gồm: bộ
phận
và văn phòng
tiêu
thụ;
vãn phòng
thu
mua.
ả.
Những nhà bán buôn
chuyên
doanh
Trong
một
số
ngành
kinh tế
có
những
tổ
chức
bán buôn chuyên
doanh
riêng
như:
các nhà bán buôn nông
sản,
những
cơ
sở
thống
phân
phối
hàng hoa chính là
việc
doanh
nghiệp
đưa
ra
các
quyết
định về phân
phối
hàng
hoa
và
việc
lựa
chọn
hình
thức
tổ chức
liên
kết
trong
hệ
thống
phân
phối.
Các
như xác định
thị
trường mục
tiêu;
các
quyết
định
về
sản phẩm; các
quyết
định về giá
cả;
việc
tổ chức
phân
loại
sửp xếp hàng
hoa;
vận
tải,
lun
kho hàng
hoa;
các
quyết
định xúc
tiến
hỗn
hợp;
quyết
phối
liên
kết
dọc
hợp
đồng,
hình
thức
phân
phối
liên
kết
dọc được
quản
lý.
1.5.2. Các quyết định phân phối hàng hoa
ứ.
Các
quyết định
phân
phối
của các
doanh nghiệp
bán
lẻ
*
Quyết định
vê
thị
trường
định
quan
trọng nhất
đối với
doanh
nghiệp
bán
lè, bởi lẽ
nếu không
lựa
chọn
thị
trường mục tiêu và không xác
định
tính
chất
đặc
điểm
của nó
thi
doanh
nghiệp
không
thể
thông qua được
những
quyết
định
tiếp
theo
phẩm:
chủng
loại
hàng hoa họ bán, các
dịch
vụ khách hàng và bầu không khí cùa
cửa
hàng.
Chủng
loại
hàng hoa mà
doanh
nghiệp
bán
lẻ
bán
phải
phù hợp
với
ý đổ mua
sửm của
thị
trường mục tiêu.
Thực
tế
đây là yếu tố có tính
chất quyết
định
trong
13
doanh
nghiệp
bán
lẻ
còn
phải quyết
định về hỗn hợp
dịch
vụ dành cho
khách hàng như
giao
nhốn
tốn
nhà, bán
chịu,
bảo
hành,
sửa
chữa
Bầu
không khí cửa hàng là yếu
tố thứ
ba dùng để
cạnh
tranh
của nhà bán
lẻ.
Mỗi
cửa hàng đều có cách trưng bày hàng hoa riêng để hấp dẫn khách hàng,
tạo
giá bán
phải
giảm
được
chi
phí mua
vào.
Nhà bán
lẻ
còn
phải
biết
cách định giá khác
nhau
cho
những
nhóm hàng hoa khác
nhau
và
biết
cách
điều chỉnh
giá thích hợp
khi thị
trường
thay đổi.
*
Quyết định
về xúc
tiến
truyền thanh, truyền
hình. Ngoài
ra,
các nhà bán
lẻ
cũng
phải
chú
trọng
đào
tạo
nhân viên bán hàng về mọi mặt. Các hình
thức
khuyến
mãi cần được cân
nhắc
đưa ra vào
những
thời
điểm
phù hợp để đạt được
hiệu
quả cao
nhất,
có
thể khuyến
mãi
bằng
nhiều
cách như quà
lớn
đến
lợi
nhuốn
của nhà bán
lẻ.
Bời
vốy,
nhà bán
lẻ phải
rất
cẩn
thốn khi
lựa
chọn
địa
điểm.
Các nhà bán
lẻ
nhỏ có
thể
bằng
lòng
với
địa
điểm
sẩn có nhưng
nhà bán
lẻ lớn
thường
khách hàng,
theo
nhu cầu
phục
vụ
hoặc
theo
các tiêu
chuẩn
khác.
Trên
thị
trường mục
tiêu,
họ có
thể
chọn
ra
những
khách hàng
quan
trọng
nhất,
phục
vụ ưu tiên
hơn,
xây
dựng
mợi
quan
thân
doanh
nghiệp
đó. Tuy nhiên, để đảm bảo
hiệu
quả
kinh
doanh,
nhà bán buôn
cần
lưu ý về sợ
lượng
hàng dự
trữ
trong
kho để có
thể
giao
hàng kịp
thời.
Bên
cạnh
đó,
các
doanh
nghiệp
cũng
phải
tự nghiên cứu và xác định
những dịch
với nhiều
phương pháp định giá khác như
định
giá
kết
hợp
với
chiết
khấu
hoa
hồng.
* Quyết định vế xúc
tiến
hỗn hợp
Đa sợ các
doanh
nghiệp
bán buôn không
quan
tàm
nhiều
đến
hoạt
động xúc
tiến.
Họ thường
thực hiện
các chương trình
quảng
cáo hạn chế và các phương pháp
động hoa.
c.
Lựa chọn các hình thức
liên
kết
trong
hệ thống phân phối
* Hình
thức
phân phôi
liên
kết
dọc tập đoàn
Liên
kết
dọc
tập
đoàn là sự
kết
hợp các
giai
đoạn
sản
xuất
và phân
phợi
về
cùng một chủ sở
hữu.
Theo
Trong
các hệ
thống
phân
phối
tập
đoàn, sự hợp tác và
giải
quyết
xung
đột được
thực hiện
qua
mệnh
lệnh
hành chính và
quan
hệ
trong
nội
bộ
doanh
nghiệp.
* Hình thức phân phối
liên
kết
dọc hợp đồng
Theo
hình
thức
trường
thế
giới
hiện
nay,
hình
thức
phân
phối
liên
kết
dọc hợp đổng là phổ
biến nhất,
ước đạt
khoảng
42%
tổng
doanh
số bán
lứ.
Doanh
nghiệp
có
thể lựa chọn
một
trong
ba hình
thức
phân
phối
động mua, các chương trình
trưng bày hàng hoa và nỗ
lực
quản
lý hàng
tổn kho
VỚI hình
thức
tổ chức
một nhà
bán buôn
phục
vụ một số
lượng
lớn
các nhà bán
lứ
độc
lập,
hình
thức
phân
phối
này
có
thể đạt
được
hiệu
quả
kinh
lập
ra
một
tổ chức
thực
hiện
chức
năng bán buôn.
Theo
hình
thức
phân
phối
này, thành viên bán
lứ
không
phải
là
từng
nhà bán
lứ
nhỏ mà là một
tập
hợp các nhà bán
lứ
nằm
trong
một
tổ chức
hợp
và
người nhận
đặc quyền (đại
lý đặc
quyền).
Người
chủ
quyền
sở hữu hàng
hoa, dịch vụ,
nhãn
hiệu,
uy tín,
hình
ảnh,
kinh
nghiệm
kinh
doanh
Họ ký hợp đổng
với những người nhận
quyền,
cho phép
những người
này được đặc
quyền
sử
dụng những thứ
mà
người
được dùng tên và nhãn
hiệu
sản phẩm của
người
chủ
quyền
trong kinh
doanh
trên một khu vục
thị
trường.
Có ba
loại
hình
thức
phân
phối
đặc
quyển
kinh
tiêu phữ
biến
nhất
là: hình
thức
đặc
quyền
kinh
tiêu của
người
thức
phân phối
liên
kết
dọc được quản lý
Hình
thức
phân
phối
liên
kết
dọc được
quản
lý
tạo
ra sự liên
kết giữa
các
thành viên
trong
hệ
thống
nhờ khả năng
chi phối
của một thành viên
trong
hệ
thống
phân
phối tới
mạnh
lãnh đạo yêu cầu.
li. KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG PHÂN PHỐI HÀNG HOA TRÊN THỊ
TRƯỜNG
NHẬT
BẢN
2.1. Giới thiệu chung về tình hình kinh tế và thị trường Nhật Bản
Sự hình thành và phát
triển
của hệ
thống
phân
phối
hàng hoa trên
thị
trường
Nhật
Bản không chỉ gắn
liền
với lịch
sử phát
triển
của nền
kinh tế
mà còn
chịu
ảnh
hưởng
rất lớn từ
nền văn hoa
trường
Nhật
Bản sẽ giúp chúng
ta
tiếp
cận và nắm
bắt
những
đặc
điểm
của hệ
thống
phân
phối
hàng hoa trên
thị
trường này một cách
dễ
dàng hơn.
Mặc dù không được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên, nhưng nhờ vào
những
chính sách phát
triển
đúng đắn, sự đầu tư về
khoa
học kỹ
thuật
và hơn
hết
là
thời
kì hậu
"kinh tế
bạng'
bồng
ỵịí
17
khủng
hoảng
tài
chính,
tiền
tệ
châu Á
những
năm
cuối thế kỉ 20,
Chính phủ
Nhật
Bản
đã
hết
sức nỗ
lực trong
việc
thực hiện
sáu chương trình
cải
cách
lớn
từng
bước phát
triển
trong
những
năm địu của
thế kỉ 21.
Năm 2003
tốc
độ tăng
trưởng
kinh tế của
Nhật
Bản
đạt 2,7%,
năm 2004 là 1,45%, năm 2005 là 2,5% và
năm 2006
là
2,7%
với
GDP
xấp xỉ
4.500
tỷ
USD.
[29]
Về
hoạt
động
ngoại
điển hình là nông
nghiệp
và một số ngành
công
nghiệp
nhẹ như
dệt
may, lương
thực thực
phẩm
lại
tương
đối thấp,
không đủ
đáp ứng nhu
cịu
tiêu dùng
trong
nước do
vậy
nên
phải
nhập
khẩu
một lượng
lớn
để
bù đắp (nông
nghiệp
Nhật
là một nguyên nhân góp
phịn
làm cho nền
kinh
tế
Nhật
Bản phụ
thuộc
rất
nhiều
vào
nhập
khẩu
từ
bên
ngoài.
Ví dụ như trên
lĩnh
vực năng
lượng,
Nhật
Bản
là
nước tiêu
thụ
năng lượng
nhiều chỉ
sau Mỹ nhưng
hơn 90% năng lượng
của
đồ điện
tử,
cơ khí đặc
biệt
là
những
ngành công
nghiệp
sử
dụng
nhiều lao
động và năng lượng như công
nghiệp
dệt
may,
chế biến thực
phẩm có xu hướng
chuyển
sản xuất ra
nước
ngoài,
nơi có
giá nhân
công,
nguyên
vật
liệu
và năng lượng
rẻ
hơn gấp
Bản nói riêng
cũng
có
nhiều biến đổi
đáng
kể.
Trong
một
cuộc
hội thảo
được
tổ
chức
tại
Tokyo
vào
cuối
năm 2006
xoay
quanh
thị
trường
Nhật
Bàn và
những
gợi
ý để bán hàng thành cõng
sang
Nhật,
các chuyên
kinh
tế,
nước
Nhật
đã
trải
qua
những
năm 90 đầy khó khăn
với
áp
lực
lạm phát
dai
dẳng.
Nhiều
ngưịi
gọi
đó là
"Hội
chứng
thập
niên bị
mất".
Đồng Yên bị mất giá so
với thịi
gian
trước,
ngưịi
Nhật
thịt
80 yên". Sau đó,
Yoshinoya
đã
trở
thành thương
hiệu
fastfood
thành công
nhất
tại
Nhật
Bản nhị chào bán
thịt
bò
Sukiyaki
và cơm
với
giá
rẻ.
Ngày
nay,
các cửa hàng đồng giá 100 yên ngày càng
xuất
hiện
nhiều
hơn trên
khắp
mọi
miền
Bản
mà hàng hoa
nhập
khẩu
giá rẻ
từ
các nước châu Á, đặc
biệt
là
Trung
Quốc và
các nước
trong
khối
ASEAN
có thêm
nhiều
cơ
hội
hơn
trong
việc
thâm
nhập
váp
thị
trưịng
Nhật
Bản.
Một
tuổi.
Dự báo đến năm
2050,
nhóm
tuổi
này sẽ
vượt
quá 35% dân số
[17].
Những công dân
lớn tuổi
này sẽ
tạo ra
một
thị
trưịng mới vì họ có
nhiều
thịi
gian,
có
những
khoản
tiền
hợp lý và
rất
quan
tâm đến sức
khoe.
Họ cần
những
loại
thực
phẩm và
thức
uống
bổ dưỡng cho sức
khoe
như mật ong
trà,
rong
biển
Giống
như các
thị
trưịng khác,
Nhật
Bàn
cũng
có
những
thịi
gian
hàng hoa
được
tiêu
thụ
đặc
biệt
mạnh
hơn so
ví dụ như:
tặng
quà
tốt
nghiệp
vào tháng 3,
tặng
quà nhân dịp năm học mới và vào
cơ
quan
mới đấu tháng 4, tháng 9 là mùa
cưới
và tháng 12 có Lễ Giáng
sinh
và đầu
19
năm
mới.
Dịp hè là quà
tặng giữa
năm và
cuối
năm để bày
tỏ
lòng
biết
ơn.
Mặt khác
nhân viên công
ty cũng
Nhật
Bản nhưng các sản phẩm cao cấp của
Nhật
và châu Âu vẫn
rất
được ưa
chuộng.
Các sản phẩm đến
từ những
nước châu Á thường được ưa thích
ở
kiểu
dáng mới
lạ,
đặc
biệt
là hàng
thủ
công. Do mức
sống
cao nên
người
tiêu dùng
Nhật
Bản không đòi
hỏi
tất
cả các sản phẩm
nhất
thiết
cho phù hợp
với thị hiếu
của
người
tiêu dùng.
Người
tiêu dùng
Nhật
Bản luôn
rất
khó tính và đòi
hỏi
cao ờ hàng
hoa.
Đôi
khi
chỉ cẩn một
vết
xước
nhỏ,
bao bì xô
lệch,
mẩu chỉ
cắt
thừa
trên
áo cũng
có
thể
làm cho toàn lô
vậy,
các nhà
phàn
phôi,
bán buôn
cũng
như bán
lẻ
cũng
luôn chú ý đến các
dịch
vụ hậu mãi mà
nhà sàn
xuất
có
thể cung
cấp cho sản phẩm. Ngoài
ra,
người Nhật
Bản còn
rất
nhạy
cảm
với
những
sự
thay
đổi
trong
xu
hôn đều ở nhà làm công
việc
nội
trợ.
Do đó, họ có
nhiều
thời
gian
cho
việc
mua sắm và thường thích đi chợ hàng ngày hơn là mua một
lụn
vào dịp
cuối tuụn
như
phương Tây, đặc
biệt
là
với
mặt hàng
thực
phẩm vì đa số
người Nhật
ưa thích đồ tươi
sống.
Bời vậy,
ờ
Nhật
có
rất nhiều
tạo ra
một nét đặc trưng
trong
hệ
thống
phân
phối
của
Nhật
là có
rất
nhiều
cửa hàng bán
lẻ với
quy mô nhỏ của
gia
đình.
20