Đề tài tham dự cuộc thi
Sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2011 Tác động của chính sách cấm kinh doanh vàng
miếng năm 2011 đối với nền kinh tế Việt Nam
2. Chính sách cấm kinh doanh vàng miếng 39 2
III. TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH CẤM KINH DOANH VÀNG MIẾNG
41
1. Tác động đối với các doanh nghiệp kinh doanh vàng 41
2. Tác động đối với ngƣời tiêu dùng và nhà đầu tƣ 49
3. Tác động về phía Chính phủ 57
4. Đánh giá tác động của chính sách vàng miếng đối với thị trƣờng 64
CHƢƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM BÌNH ỔN THỊ TRƢỜNG VÀNG
TRONG NƢỚC 67
I. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH CẤM KINH DOANH VÀNG
MIẾNG TRÊN THỊ TRƢỜNG TỰ DO 67
II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM BÌNH ỔN THỊ TRƢỜNG VÀNG TRONG
NƢỚC 74
1. Nhóm các giải pháp liên quan trực tiếp đến bình ổn thị trƣờng vàng 76
2. Nhóm các giải pháp gián tiếp bình ổn thị trƣờng vàng 81
KẾT LUẬN 86
3
Nhu cầu sử dụng vàng thế giới 2010
13
4
Tác động của hạn ngạch
17
5
Tác động của thuế nhập khẩu
19
6
Biến động giá vàng thế giới 2005-2010
22
7
Biến động cầu vàng thế giới 2005-2010
23
8
Biến động cung vàng thế giới 2007-2010
25
9
Lƣợng bán ra của NHTW Châu Âu theo hiệp định CBGA
26
10
Lƣợng vàng bán ra của IMF
26
11
Biến động giá vàng trong nƣớc 2008
29
12
Biến động giá vàng 2009
31
23
Tỉ lệ về loại hình vàng đƣợc giao dịch
50
24
Tỉ lệ chuyển hƣớng mua vàng
51
25
Tỉ lệ về các kênh đầu tƣ đƣợc lựa chọn
52
26
Đánh giá của ngƣời mua về chính sách
53
27
Diễn biến giá vàng thế giới từ 7/2010 đến 7/2011
72
4
LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài:
Năm 2010, nền kinh tế thế giới đi vào giai đoạn phục hồi sau khủng hoảng.
Trong đó các nƣớc đang phát triển tiếp tục là nhóm nƣớc có mức tăng trƣởng cao nhất
chính sách cấm kinh doanh vàng miếng năm 2011 đối với nền kinh tế Việt Nam” là
một đề tài khá độc đáo.
3. Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích tác động của chính sách cấm kinh doanh vàng miếng đến nền kinh tế Việt
Nam.
- Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nhằm bình ổn thị trƣờng vàng.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục tiêu đặt ra, bản nghiên cứu chủ yếu sử dụng các phƣơng pháp thống
kê, mô tả, phân tích định tính, các phƣơng pháp suy luận logic và diễn giải, tổng hợp,
so sánh.
Ngoài ra, bản nghiên cứu cũng lấy các quan điểm, chính sách phát triển của Đáng và
Nhà nƣớc với mục đích làm rõ nội dung về lý luận và thực tiễn.
5. Đối tƣợng nghiên cứu và Phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là chính sách cấm kinh doanh vàng miếng của Việt
Nam thông qua việc phân tích thực trạng tác động của chính sách đến nền kinh tế nói
chung cũng nhƣ các nhóm đối tƣợng cụ thể nhƣ doanh nghiệp, cá nhân,…
Đề tài tập trung vào việc phân tích tác động của chính sách cấm kinh doanh vàng
miếng của Chính phủ năm 2011 đối với nền kinh tế Việt Nam, đồng thời cung cấp cái 6
nhìn tổng quan về thị trƣờng vàng và những biến động kinh tế tác động đến thị trƣờng
này từ 2005-2010.
6. Kết quả nghiên cứu dự kiến
- Thấy đƣợc các tác động tích cực và tiêu cực của chính sách kinh doanh vàng miếng
7 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THỊ TRƢỜNG VÀNG I/ TỔNG QUAN VỀ VÀNG VÀ THỊ TRƢỜNG VÀNG
1. Một số khái niệm
a. Vàng
Vàng là một nguyên tố hoá học (kí hiệu Au) và có số nguyên tử 79 trong bảng tuần
hoàn. Vàng là kim loại mềm, dễ uốn, dễ dát mỏng, màu vàng, chiếu sáng, và không
phản ứng với hầu hết các hoá chất.
Vàng đã đƣợc biết tới và sử dụng bởi các nghệ nhân từ thời Chalcolithic. Trong suốt
thời kỳ lịch sử, vàng đƣợc coi là kim loại đáng thèm muốn nhất trong các kim loại quý,
và giá trị của nó đã đƣợc sử dụng làm bản vị cho nhiều tiền tệ (đƣợc gọi là bản vị
vàng). Vàng đƣợc sử dụng nhƣ một biểu tƣợng cho sự thanh khiết, giá trị, sự vƣơng
giả, và đặc biệt các vai trò phối hợp cả ba đặc tính đó. Trong nhiều xã hội, vàng đƣợc
xem là một chất thần kỳ có khả năng che chở con ngƣời tránh đƣợc bệnh tật và tà ma.
Thậm chí vào thời xƣa, những tƣợng thần và các ngôi đền cũng đƣợc trang trí bằng
vàng.
b. Vàng miếng
Vàng miếng là một phƣơng thức thuận tiện trong việc cất trữ và giao dịch. Vàng miếng
đƣợc sản xuất với nhiều kích cỡ khác nhau, phù hợp với từng đối tƣợng sử dụng nó.
Các nhà đầu tƣ cá nhân mua vàng miếng với kích thƣớc nhỏ, nhờ đó họ có thể dễ dàng
cầm nắm chúng. Chính phủ cất trữ vàng miếng với kích cỡ lớn hơn. Chúng ta có thể dễ
dàng xác định giá trị của mỗi miếng vàng nhờ vào thông tin về trọng lƣợng cũng nhƣ
độ thuần khiết đƣợc viết trên chúng.
bản vị vàng theo đó tổng giá trị tiền đƣợc phát hành đƣợc đại diện bởi một lƣợng vàng
dự trữ. 9
Tuy nhiên, do số lƣợng vàng dự trữ cũng nhƣ việc sản xuất, khai thác vàng là hữu hạn,
thêm vào đó, nền kinh tế thế giới đang ngày càng phát triển, dẫn đến các tỉ lệ trao đổi
tiền tệ cố định với vàng rơi vào tình trạng không thể duy trì đƣợc. Sau chiến tranh Thế
giới thứ II, bản vị vàng và tính chuyển đổi trực tiếp của các đồng tiền sang vàng đã bị
các chính phủ trên thế giới huỷ bỏ và đƣợc thay thế bằng tiền giấy.
Đầu tƣ
Nhiều ngƣời sở hữu vàng và giữ chúng dƣới hình thức các thỏi nén hay thanh nhƣ một
công cụ để chống lại lạm phát hay những đợt khủng hoảng kinh tế. Tuy nhiên, một số
nhà kinh tế không tin việc giữ vàng là một công cụ chống lạm phát hay mất giá tiền tệ.
Vì chỉ nhằm mục đích đầu tƣ kiếm lời hoặc cất trữ nên các thỏi vàng hiện đại không
yêu cầu các tính chất cơ khí tốt. Chúng thƣờng là vàng nguyên chất 24k.
Nữ trang
Nhờ vào tính mềm, hiếm có và thẩm mỹ cao nên vàng đƣợc coi là một trong số những
kim loại quý và đƣợc chế tác thành nữ trang nhiều nhất. Đồ trang sức đƣợc làm bằng
vàng gồm : nhẫn, bông tai, vòng cổ, vòng đeo tay, dây chuyền, thậm chí vàng đƣợc sử
dụng để trang trí trên bút máy, bật lửa, ly tách và nhiều đồ dùng khác.
Y tế
Vàng đƣợc chỉ định làm thuốc trị cho nhiều loại bệnh nhƣ ung thƣ hay viêm khớp. Nó
cũng đƣợc sử dụng rộng rãi trong ngành nha. Các hợp kim vàng đƣợc sử dụng trong
việc phục hồi nha khoa, đặc biệt là răng, nhƣ thân răng và cầu răng vĩnh viễn. Tính dễ
uốn của các hợp kim vàng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tạo bề mặt kết nối răng. So
rủi ro hơn so với một số kênh đầu tƣ khác nhƣ thị trƣờng chứng khoán. 11
Hiện nay khối lƣợng giao dịch trên thị trƣờng vàng khá lớn và có rất nhiều nhà đầu tƣ
tham gia. Các nhà đầu tƣ bao gồm nhiều thành phần và mọi lứa tuổi. Đây là sân chơi
hấp dẫn cho tất cả mọi ngƣời.
Thị trƣờng vàng là kênh dẫn vốn có hiệu quả, tạo môi trƣờng sinh lợi cho các
chủ thể.Trong thị trƣờng vàng, các nhà đầu tƣ có thể linh động hơn trong các vấn đề
giao dịch cũng nhƣ thu hồi vốn nhanh vì các giao dich ở đây đƣợc thực hiên trong một
thời gian ngắn. Chỉ cần một máy tính nối mạng internet và 1 cú nhấp chuột, nhà đầu tƣ
có thể mua bán ngay lập tức tùy ý. Họ cũng có thể thiết lập chế độ tự động cho sàn giao
dịch kết thúc lệnh giao dịch khi đã đạt đƣợc lợi nhuận mong muốn(định mức lãi) hoặc
đóng khi thị trƣờng dịch chuyển ngƣợc chiều mong muốn (chốt lỗ). Đây cũng là thị
trƣờng có thể kinh doanh 2 chiều. Tại thị trƣờng này khi giá lên cao chúng ta có thể
bán ra trƣớc (hình thức bán khống, trên tỉ giá) để khi giá xuống thấp mua trả, khoản
chênh lệch đó chính là khoản lợi nhuận.
Thị trƣờng vàng là nơi đầu tƣ an toàn khi có lạm phát tăng cao cũng nhƣ khi xã
hội tồn tại nhiều bất ổn nhƣ thiên tai, chiến tranh. Khi lạm phát tăng đồng nghĩa với giá
cả hàng hóa dịch vụ tăng nhanh, đồng tiền bị mất giá, và lúc này các nhà đầu tƣ có xu
hƣớng lựa chọn thị trƣờng vàng để đầu tƣ. Nó tạo điều kiện để sử dụng vốn có hiệu quả
hơn đối với cả ngƣời có tiền đầu tƣ và ngƣời vay tiền để đầu tƣ
4. Cung cầu trên thị trƣờng vàng
a. Chủ thể tham gia vào thị trƣờng
Thị trƣờng vàng luôn là một trong số những kênh đầu tƣ hấp dẫn nhất, do đó các đối
tƣợng tham gia trên thị trƣờng này cũng rất phong phú, đa dạng. Có thể phân chia
thành 3 nhóm chính nhƣ sau:
Nhà đầu tƣ
chế tác trở thành vàng thỏi, vàng miếng hay vàng trang sức. Vì vậy, vàng đƣợc huy
động một cách rất linh hoạt. 13
Cung vàng trên thế giới chủ yếu xuất phát từ 3 nguồn chính: khai thác mới, tái chế
vàng và lƣợng vàng bán ra từ các ngân hàng trung ƣơng.
59%
6%
35%
Khai thác mới (2209t)
Lượng vàng bán ra từ
NHTW (234t)
Tái chế vàng (1323t)
Biểu đồ 1: Cung vàng thế giới 2010
Nguồn: World Gold Council
● Khai thác mới
Vàng đƣợc khai thác tại các mỏ vàng trên tất cả các châu lục, ngoại trừ Nam Cực – nơi
việc khai thác vàng bị coi là trái phép. Hiện nay có hàng trăm mỏ vàng với trữ lƣợng
khác nhau đã và đang đƣợc khai thác trên khắp thế giới.
Ngày nay, tổng lƣợng vàng khai thác hàng năm đang ở mức khá ổn định. Trong vài
năm trở lại đây, lƣợng vàng khai thác đƣợc trung bình mỗi năm là 2.497 tấn. Trong
tổng lƣợng cung vàng, vàng do khai thác mới chiếm tỷ trọng cao nhất - 59%. Điều này
cho thấy vai trò quan trọng của khai thác vàng trong việc sản xuất vàng, đáp ứng nhu
cầu của con ngƣời.
● Tái chế vàng
15
Nguồn: World Gold Council
Qua đồ thị thứ 2, trong năm 2010, lƣợng vàng khai thác đƣợc sử dụng nhiều nhất trong
việc chế tác đồ trang sức (50.0%). Đứng vị trí thứ 2 và thứ 3 là đầu tƣ tƣ nhân (18,7%)
và sở hữu của Chính phủ (17,2%). Mặc dù không chiếm lƣợng vàng nhiều nhất nhƣng
chính hai nhân tố này lại góp phần tạo nên thị trƣờng vàng.
Cầu trên thị trƣờng vàng
Nhu cầu về vàng có ở khắp mọi nơi trên thế giới. Đông Á và Trung Đông chiếm
khoảng 70% lƣợng cầu về vàng. Ấn Độ, Trung Quốc, Hong Kong, Mỹ, Thổ Nhĩ Kỳ và
các tiểu vƣơng quốc Ả Rập cũng có nhu cầu không nhỏ, khoảng 55% tổng nhu cầu của
thế giới. Điều kiện kinh tế xã hội và văn hóa khác nhau khiến nhu cầu về vàng của mỗi
quốc gia không giống nhau. Tuy nhiên, cầu về vàng có thể tập trung vào 3 nhóm chính:
đồ trang sức, hoạt động đầu tƣ và công nghiệp. 16
31%
11%
57%
Hoạt động đầu tư (1182t)
Công nghiệp (433t)
Đồ trang sức (2151t)
Biểu đồ 3: Nhu cầu sử dụng vàng thế giới 2010
Nguồn: World Gold Council
Nguồn cung vàng trong tự nhiên có giới hạn, trong khi đó nhu cầu sử dụng vàng trong
đời sống, công nghiệp, hay trở thành một kênh đầu tƣ trong nền kinh tế ngày càng tăng.
Đó chính là lý do dẫn đến những biến động của giá vàng nói riêng và của thị trƣờng
vàng nói chung.
5. Một số thị trƣờng vàng phát triển trên thế giới
Hai trong số những trung tâm giao dịch vàng quan trọng và lớn nhất trên thế giới là thị
trƣờng vàng London và New York.
Thị trƣờng vàng London ( London Bullion Market ) là một trong những thị trƣờng
vàng lâu đời nhất trên thế giới và là thị trƣờng lớn nhất trong giao dịch vàng vật chất. 18
Các thành viên của Hiệp hội thị trƣờng vàng London ( London Bullion Market
Association – LBMA ) thực hiện giao dịch vàng và bạc trên thị trƣờng dƣới sự giám sát
của ngân hàng Anh. Hầu hết các thành viên đều là những ngân hàng quốc tế lớn,
thƣơng gia và những nhà chế tạo vàng. Một ngày hai lần 5 thành viên của London Gold
Pool gặp nhau lúc 10h30 sáng và 3h chiều để cùng nhau xác định mức giá cho thị
trƣờng. Phƣơng pháp xác định giá này đƣợc gọi là Gold Fixing. 5 thành viên của
LBMA là các nhà giao dịch vàng lớn nhất thời bấy giờ. Hiện nay, giá vàng đƣợc ấn
định bằng đồng đô la Mỹ (USD), Bảng Anh (GBP) và đồng Euro (EUR). Cho đến nay,
London vẫn là trung tâm lớn nhất thế giới xét về khía cạnh giao dịch OTC, xếp sau đó
là thị trƣờng New York. Zurich và Tokyo. Mặc dù các thị trƣờng giao dịch vàng vật
chất có mặt khắp nơi trên thế giới, nhƣng hầu hết các giao dịch buôn bán đều đƣợc
thanh toán qua London.
Sau thị trƣờng vàng London, thị trƣờng đứng thứ hai thế giới là thị trƣờng vàng New
York. Sàn giao dịch vàng New York mở cửa giao dịch vào năm 1872. Ban đầu, đây chỉ
là sàn giao dịch bơ và phomat New York (NYMEX). Nó đƣợc thành lập bởi một nhóm
nhà buôn. Dần dần các hàng hóa giao dịch ở đây đƣợc mở rộng ra, sàn giao dịch này
lƣợng (hoặc giá trị) nhập khẩu. Tuy nhiên, hạn ngạch cũng mang lại một số tác động
khác.
Thứ nhất, chính phủ không có thu nhập từ hạn ngạch. Khi Chính phủ dùng hạn ngạch
để hạn chế nhập khẩu thay cho thuế quan, thì lƣợng tiền thuế lẽ ra Chính phủ thu đƣợc
sẽ rơi vào bất kì doanh nghiệp nào đƣợc cấp giấy phép nhập khẩu theo hạn ngạch.
Ngoài ra những doanh nghiệp đƣợc cấp hạn ngạch hoàn toàn có khả năng mua bán giấy
phép nhập khẩu trên thị trƣờng nhằm thu đƣợc lợi nhuận.
Thứ hai, hạn ngạch có thể biến một doanh nghiệp trong nƣớc trở thành nhà độc quyền.
Những doanh nghiệp đƣợc cấp hạn ngạch có thể nhập khẩu vàng rồi bán lại với giá cao
hơn thị trƣờng trong nƣớc nhằm thu đƣợc lợi nhuận siêu ngạch. Khoản lợi nhuận thu
đƣợc này gọi là tiền thuê hạn ngạch. Trong một số trƣờng hợp, việc chuyển giao tiền
thuê hạn ngạch ra nƣớc ngoài làm chi phí của một hạn ngạch thực tế sẽ cao hơn loại 20
thuế quan tƣơng ứng. Do đó, để giành lại một phần tiền thuê hạn ngạch, Nhà nƣớc có
thể áp dụng đấu giá giấy phép nhập khẩu theo hạn ngạch, hoặc quy định hạn ngạch kết
hợp với sử dụng thuế quan.
Thứ ba, do hạn ngạch làm tăng giá trong nƣớc, nên ngƣời tiêu dùng sẽ mất đi một phần
thặng dƣ tiêu dùng. Biểu đồ 4: Tác động của hạn ngạch
Nguồn: Giáo trình Chính sách thương mại quốc tế
4. Đánh thuế đối với vàng nguyên liệu:
Đây là loại thuế đánh vào hoạt động khai thác vàng nguyên liệu, theo đó, tùy hàm
lƣợng vàng cũng nhƣ dạng chế biến mà Chính phủ sẽ áp mức thuế suất khác nhau. Đây
là chính sách tƣơng đối hiệu quả nhằm bình ổn thị trƣờng vàng trong nƣớc đồng thời
mang lại nguồn thu cho ngân sách nhà nƣớc. Tuy nhiên, chính sách này chỉ có tác động 23
lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp khai thác vàng chứ không ảnh hƣởng mấy đến
các doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Ngoài các chính sách kể trên, để quản lý thị trƣờng vàng trong nƣớc, Nhà nƣớc có thể
tùy vào tình hình thị trƣờng cũng nhƣ đặc điểm của quốc gia tại mỗi thời điểm khác
nhau mà áp dụng một số chính sách ngắn hạn nhƣ dẹp bỏ hoặc khuyến khích sàn giao
dịch vàng, cấm kinh doanh vàng miếng, vàng lá, vàng thỏi và một số chính sách khác.
Ngoài các chính sách kể trên, để quản lý thị trƣờng vàng trong nƣớc, Nhà nƣớc có thể
tùy vào tình hình thị trƣờng cũng nhƣ đặc điểm của quốc gia tại mỗi thời điểm khác
nhau mà áp dụng một số chính sách ngắn hạn nhƣ dẹp bỏ hoặc khuyến khích sàn giao
dịch vàng, cấm kinh doanh vàng miếng, vàng lá, vàng thỏi và một số chính sách khác.
12/31/2007
695.39
12/31/2008
871.96
12/31/2009
972.35
12/31/2010
1224.52