Nhóm 3 Kinh tế Đ ầu t ư
47A
Lời Mở Đầu
Trong những năm qua sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế trên thế giới
đang thật sự khởi sắc đi cùng với nó,là:đời sống con người được cải thiển,thực
hiện nhiều chính sách phúc lợi xã hội,tốc độ tăng trưởng cao đạt được những kết
quả đáng mừng.Để có thể tạo ra được những của cải vật chất cụ thể nhất thiết
phải sử dụng vốn thông qua hoạt động đầu tư.Đầu tư vào cơ sở vật chất hạ
tầng,mua sắm các máy móc thiết bị,nhà xưởng…hay đầu tư vào nâng cao năng
suất lao động như đưa dây chuyền sản xuất mới vào sử dụng,áp dụng khoa học
kĩ thuật tiên tiến hiện đại…Để từ đây kết quả mà đầu tư mang lại sẽ là sự tăng
lên về tài sản vật chất,tài sản trí tụê,và tài sản vô hình đồng thời góp phần làm
tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội, làm kinh tế tăng trưởng,chất lượng cuộc
sống được quan tâm nhiều,hướng đến sự nghiệp phát triển,phát triển bền vững.
Nhưng bên cạnh đấy,ta còn thấy tăng trưởng,phát triển là môi trường tốt để
phát triển đầu tư.Một đất nước có sự phát triển kinh tế,có sự ổn định chính trị sẽ
tạo cơ hội cho nhiều nhà đầu tư muốn đầu tư vào.Đồng thời mối quan hệ giữa
các quốc gia sẽ được thắt chặt gần gũi hơn nữa.
Như vậy,đầu tư tác động đến tăng trưởng,phát triển và tăng trưởng,phát
triển cũng tác động đến đầu tư đây là mối quan hệ qua lại.Mối quan hệ này cứ
đan xen nhau làm cho các nhà kinh tế khi đưa ra các chính sách cũng gặp nhiều
bất cập.
Nhằm hiểu rõ hơn mối quan hệ này,sự mật thiết của nó như thế nào và việc
đưa ra các chính sách sao cho phù hợp thì đây là lí do mà nhóm 3 chúng em đã
chọn đề tài “Mối quan hệ qua lại giữa đầu tư và tăng trưởng,phát triển”.Trong
quá trình thực hiện còn có sai sót gi`,chúng em mong được thầy và các bạn góp
ý để sửa chữa giúp cho đề tài được hoàn thiện hơn
gian,khái niệm về phát triển cũng đã đi đến thống nhất.Phát triển kinh tế được
hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế.Phát triển kinh tế được
2
Nhóm 3 Kinh tế Đ ầu t ư
47A
xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất ,nó là sự kết hợp một cách
chặt chẽ quá trình hoàn thiện của 2 vấn đề về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc
gia .Mục tiêu cuối cùng của sự phát triển kinh tế trong các quốc gia không phải
là tăng trưởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà là việc xoá bỏ nghèo đói ,suy
dinh dưỡng,các dịch vụ y tế,trình độ con người…Đặt ra vấn đề tăng trưởng đi
đôi với phát triển,phát triển bền vững.
2/ Phân loại đầu tư :
Mỗi tiêu thức phân loại đầu tư sẽ đáp ứng nhu cầu quản lý và nghiên cứu
kinh tế khác nhau.Thường gặp cách phân loại sau:
2.1/Theo mối quan hệ của chủ đầu tư và đối tượng đầu tư,thì chia
thành:đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp
2.2/Căn cứ vào bản chất của đầu tư chia thành:đầu tư tài chính và đầu
tư phát triển
2.3/Căn cứ vào nước nhận và sử dụng vốn chia thành:đầu tư trong nước
và đầu tư nước ngoài
2.4/Theo cấp quản lý chia thành:đầu tư cho các dự án và đầu tư không
theo dư án
II/ Mối quan hệ qua lại giữa đầu tư,tăng trưởng và phát triển:
1/Mối quan hệ tác động đầu tư với tăng trưởng và phát triển:
Đầu tư phát triển có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của quốc gia,là
một lĩnh vực hoạt nhằm tạo ra và duy trì sự hoạt động của các cơ sở vật chất,kỹ
thuật của nền kinh tế.Bên cạnh đấy chúng ta cũng biết rằng tăng trưởng và phát
triển là mục tiêu hàng đầu của các quốc gia trong quá trình kinh tế xã hội.Vì vậy
các nhà kinh tế đã tập trung nghiên cứu các nhân tố tác động đến quá trình tăng
trưởng và phát triển của mỗi quốc gia để từ đấy vận dụng vào thực tiễn tạo ra sự
đầu người của Trung Quốc tăng gấp10 lần từ 440$(1980) đến 4475$(2002)(tính
theo giá quốc tế).GDP đầu người của Ấn Độ tăng gần 4 lần từ 670$(1980) lên
tới 2570$(2002).Một ví dụ minh họa nữa về sự tác động đến tổng cầu thể hiện
qua bảng số liệu sau:
4
Nhóm 3 Kinh tế Đ ầu t ư
47A
b/Tác động đến tổng cung(AS):Tổng cung của nền kinh tế gồm 2 nguồn
chính là cung trong nước và cung từ nước ngoài.Bộ phận chủ yếu ,cung trong
nước là một hàm của các yếu tố sản xuất:vốn ,lao động,tài nguyên,công nghệ…
thể hiện qua phương trình sau:
Q=F(K,L,T,R…)
Trong đó: K: vốn đầu tư
L: lao động
T: công nghệ
R: nguồn tài nguyên
Đầu tư sẽ làm tăng vốn sản xuất,nghĩa là có thêm các nhà máy,thiết
bị,phương tiện vận tải mới được đưa vào sản xuất,làm tăng khả năng sản xuất
của nền kinh tế dẫn đến tổng cung thay đổi.
5
Nhóm 3 Kinh tế Đ ầu t ư
47A
Theo hinh vẽ,đường cung S dịch chuyển sang S’,kéo theo sản lượng tiềm
năng từ Q1 đến Q2 và do đó giá cả sản phẩm giảm từ P1 xuống P2.Sản lượng
tăng,giá cả giảm cho phép tăng tiêu dùng.Tăng tiêu dùng,đến lượt nó,lại là nhân
tố kéo,tiếp tục kích thích sản xuất phát triển,tăng qui mô đầu tư.Sản xuất phát
triển là nguồn gốc tăng tích luỹ,phát triển kinh tế xã hội,tăng thu nhập cho người
lao động,nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.
Qua sự phân tích hai tác động trên đưa chúng ta đến một nhận xét,khi đầu tư
tác động đến tổng cầu thì giá tăng và sản lượng cũng tăng,còn khi tác động đến
đến hệ số ICOR.Mô hình này cho rằng,mức tăng trưởng của nền kinh tế phụ
thuộc trực tiếp vào mức gia tăng vốn đầu tư thuần.
*Định nghĩa:Hệ số ICOR(Incremental Capital Output Ratio-tỷ số gia tăng của
vốn so với sản lượng) là tỷ số giữa quy mô đầu tư tăng thêm với mức gia tăng
sản lượng,hay là suất đầu tư cần thiết để tạo ra một đơn vị sản lượng(GDP)tăng
thêm.
Ta có thể tính hệ số ICOR dựa trên các giả định chủ yếu sau:Một là,nền kinh tế
luôn cân bằng ở dưới sản lượng tiềm năng. Để có thể huy động được các nguồn
lực dư thừa cần phải đầu tư để mở rộng quy mô sản xuất.Hai là,công nghệ
không đổi,sự kết hợp giữa vốn và lao động được thực hiện theo một hệ số cố
định.
Hệ số ICOR (k) được xác định theo công thức:
Trong đó:
∆K mức thay đổi vốn sản xuất
(∆K = K
t
– K
t-1
)
∆Y là mức thay đổi về kết quả sản xuất
∆Y = Y
t
– Y
t-1
(ở đây t chỉ năm nghiên cứu và t - 1 chỉ năm trước năm nghiên cứu).
Công thức tính rất đơn giản nhưng thành phần cấu tạo công thức thì rất khó
xác định.Yếu tố ∆Y thì có trong số liệu niên giám,vấn đề là xác định được mức
7
Y
tăng thêm một đơn vị kết quả sản xuất cần nhiều hơn về nguồn lực sản xuất nói
chung và nhân tố vốn nói riêng và khi đó đường sản lượng thực tế gần tiệm cận
với đường sản lượng tiềm năng.Điều này ví như một học sinh trung bình phấn
đấu trở thành học sinh khá thì dễ hơn một học sinh khá phấn đấu trở thành học
sinh giỏi.Ta có thể rút ra được ưu điểm của hệ số ICOR như sau:
+Là chỉ tiêu quan trọng để đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc đảm
8
Nhóm 3 Kinh tế Đ ầu t ư
47A
bảo quy mô vốn đầu tư cần thiết để đạt một tốc độ tăng trưởng kinh tế nhất định
trong tương lai .
+Trong những trường hợp nhất định,hệ số ICOR được xem là một trong
nh ững chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư .
Bên cạnh đó cũng sẽ thấy được những nhược điểm của hệ số ICOR:
+Chỉ phản ánh ảnh hưởng của yếu tố vốn đầu tư mà chưa tính đến ảnh hưởng
của các yếu tố sản xuất khác trong việc tạo ra GDP tăng thêm.
+Bỏ qua sự tác động của các ngoại ứng như điều kiện tự nhiên,xã
hội,cơ chế chính…
+Không tính đến độ trễ thời gian của kết quả và chi phí,vấn đề tái đầu tư
*Nhân tố ảnh hưởng đến hệ số ICOR:
Thứ nhất,đầu tư tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế.Cơ cấu kinh tế
là cơ cấu tổng thể các yếu tố cấu thành kinh tế,có quan hệ chặt chẽ với
nhau,được cả về mặt chất và mặt lượng.Cơ cấu đầu tư ngành thay đổi ảnh hưởng
đến hệ số ICOR từng ngành,do đó,tác động đến hệ số ICOR chung.Kinh nghiệm
của nhiều nước trên thế giới cho thấy con đường tất yếu có thể tăng trưởng
nhanh tốc độ mong muốn từ 9-10% là tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát
triển ở khu vực công nghiệp và dịch vụ.Đối với các ngành nông,lâm,ngư nghiệp
do những hạn chế về đất đai và các khả năng sinh học,để đạt được tốc độ tăng
trưởng từ 5-6% là rất khó khăn,do đó quyết định đầu tư,chuyển dịch cơ cấu kinh
tế.Về cơ cấu lãnh thổ đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát
mạnh thi trường điện tử của Hàn Quốc.
Theo ước tính,ngân sách rót cho các dịch vụ internet(IT)trong khu
vực(không tính Nhật Bản)đã đạt 37,5 tỷ USD trong cả năm 2007,hãng nghiên
cứu Springboard Research cho biết.Với tốc độ tăng trưởng 18.6% mỗi năm,Ấn
Độ được dự báo vẫn là thị trường tăng trưởng nhanh nhất trong vòng 5 năm
tới.Tuy nhiên,với quy mô thị trường khổng lồ,Trung Quốc mới là quốc gia thu
hút dòng vốn USD lớn nhất."Nhờ sự kết hợp của các thị trường mới nổi và đã
thành danh,khu vực châu Á-Thái Bình Dương có thể dẫn đầu toàn cầu về tốc độ
tăng trưởng Dịch vụ IT",Phó Chủ tịch Phil Hassey của Springboard nhận
định."Sự chú ý và quan tâm của phương Tây không chỉ dành cho Top 4(Trung
Quốc, Ấn Độ, Úc và Hàn Quốc),mà còn hướng sang cả những quốc gia mới nổi
như Indonesia và Việt Nam",ông Hassey nói thêm.Tuy nhiên,Ấn Độ vẫn là số
một.
Ta cũng thấy được rằng đầu có tư tác động đến khoa học công nghệ và thông
qua các chỉ tiêu sau:
+ tỷ trọng vốn đầu tư đổi mới công nghệ/tổng vốn đầu tư
+ tỷ trọng chí phí mua sắm máy móc thiết bị/tổng vốn đầu tư thực hiện
+ tỷ trọng vốn đầu tư theo chiều sâu/tổng vốn đầu tư thực hiện
+ tỷ trọng vốn đầu tư theo công trình mũi nhọn,trọng điểm.
Như vậy hệ số ICOR tăng hay giảm phụ thuộc vào xu hướng nào chiếm ưu thế.
Thứ ba,do thay đổi cơ chế chính sách và phương pháp tổ chức quản lý.Cơ
chế chính sách phù hợp đầu tư có hiệu quả hơn(nghĩa là,kết quả đầu tư ở mẫu số
tăng hơn chi phí ở tử số),làm cho ICOR giảm và ngược lại.Các chỉ số ICOR ở
11
Nhóm 3 Kinh tế Đ ầu t ư
47A
mỗi nước cũng khác nhau nên sự phát triển của nền kinh tế cũng khác nhau.Ở
các nước phát triển,ICOR thường lớn,từ 6-10,do thừa vốn, thiếu lao động,vốn
được sử dụng nhiều để thay thế cho lao động do sử dụng công nghệ hiện đại có
giá cao.Ở các nước chậm phát triển,ICOR thấp từ 3-5 do thiếu vốn,thừa lao
lượng tăng trưởng là một tập hợp các đặc trưng về kết quả và hiệu quả của chính
tăng trưởng kinh tế.
Nền kinh tế thế giới đã đạt được tăng trưởng bền vững trong năm 2005
bất chấp các tác động từ việc tăng giá dầu và sẽ tiếp tục tăng trưởng bền vững
trong năm tới,theo dự báo của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF).Tăng trưởng kinh tế
toàn cầu đạt mức 5,1% trong năm 2004,con số khá cao trong vòng 30 năm
qua,và các nhà phân tích đã cho rằng tăng trưởng kinh tế thế giới hơi chậm lại
trong năm 2005.Theo IMF,kinh tế toàn cầu tăng 4,3% trong năm 2005,trong khi
WB dự kiến mức tăng trưởng là 4,1%.Năm 2005,kinh tế Mỹ đạt mức tăng
trưởng tương đối,mặc dù nước này chịu ảnh hưởng của giá dầu tăng cao và thiên
tai như các cơn bão Katrina,Rita.Trung Quốc và Ấn Độ vẫn tiếp tục tăng trưởng
mạnh mẽ,góp phần thúc đẩy nền kinh tế khu vực.Theo phân tích,nền kinh tế Mỹ
đã tăng khoảng 3,8%, 3,3% và 4,3% trong ba quý đầu năm 2005,so với mức
tăng trưởng 5,7%, 5% và 1% của Nhật Bản và 1,2%, 1,2% và 1,6% của khu vực
đồng Euro.Trung Quốc là một trong các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế
giới, 9,4% trong ba quý đầu năm nay so với cùng kỳ năm 2004.Theo đánh giá
của IMF,các nước công nghiệp hóa đảm bảo mức tăng trưởng bình quân 2,5%
trong năm 2005 so với 3,3% của năm 2004.Trong khi đó,tăng trưởng kinh tế tại
Mỹ,khu vực dùng đồng Euro và Nhật Bản sẽ ở mức lần lượt 3,5%, 1,2% và 2%,
giảm so với 4,2%, 2% và 2,7% trong năm 2004.Theo IMF,mức tăng trưởng bình
quân năm 2005 tại các nước đang phát triển là 6,4%.IMF cho rằng các nguyên
nhân khiến mức tăng trưởng chung của kinh tế thế giới chậm lại so với những
năm trước đó là do giá dầu lửa tăng cao,thiên tai nghiêm trọng xảy ra ở nhiều nơi
và việc tăng lãi suất ngân hàng.Ở khu vực châu Á,Báo cáo do tập đoàn
Citigroup(Mỹ)vừa công bố cho thấy,Indonesia là nền kinh tế “nhạy cảm” nhất với
một đợt bùng phát cúm gia cầm do nền kinh tế này dựa vào nông nghiệp và hệ
thống y tế còn bất cập.Trong số 11 nền kinh tế châu Á được xếp hạng theo “độ
13
Nhóm 3 Kinh tế Đ ầu t ư
47A
tại thời điểm t-1: K
t-1
= x . Y
t-1
14
Nhóm 3 Kinh tế Đ ầu t ư
47A
K
t
- K
t-1
= x (Y
t
- Y
t-1
)
Trong đó: :
K
t
- K
t-1
: Đầu tư ròng
K
t
-K
t-1
=I
t-1
là vốn đầu tư thực hiện trong thời kỳ t và t-1
K t* là vốn đầu tư mong muốn
λ là một hằng số ( 0<λ<1)
thì : K t* - K
t-1
= λ (K t* - K
t-1
)
có nghĩa là,sự thay đổi của vốn đầu tư thực hiện giữa hai thời kỳ chỉ bằng một
phần của chênh lệch giữa vốn đầu tư mong muốn thời kỳ t và vốn đầu tư thực hiện
thời kỳ t-1.Nếu λ =1 thì K t* = K
t-1
và lý thuyết gia tốc đầu tư sau này cũng đã đề cập đến tổng vốn đầu tư.Theo lý
thuyết gia tốc đầu tư ban đầu thì đầu tư thuần :
Δ I = I
t
–Dt = K t* - K
t-1
Theo lý thuyết gia tốc đầu tư sau này thì:
K t* - K
t-1
= λ (K t* - K
t-1
)
15
Nhóm 3 Kinh tế Đ ầu t ư
47A
do đó : Δ I = λ (K t* - K
2.2/ Lý thuyết quỹ nội bộ của đầu tư:
Theo lý thuyết này,đầu tư có quan hệ tỷ lệ thuận với lợi nhuận thực tế :
I = f( lợi nhuận thực tế)
Do đó,dự án đầu tư nào đem lại lợi nhuận cao hơn sẽ được chọn.Vì lợi nhuận
cao,thu nhập giữ lại cho đầu tư sẽ lớn và mức đầu tư sẽ cao.Trong các nguồn
vốn tài trợ cho đầu tư gồm:lợi nhuận giữ lại,tiền trích khấu hao,đi vay các loại
trong đó bao gồm việc phát hành trái phiếu và bán cổ phiếu.Chi phí cho các
khoản vay là quá lớn,không hấp dẫn,và ổn định đối với doanh nghiệp.Chính vì
vậy theo lý thuyết quĩ nội bộ của đầu tư,các doanh nghiệp thường chọn biện
pháp đầu tư từ các nguồn vốn nội bộ.Và chính sự gia tăng của lợi nhuận sẽ làm
cho mức đầu tư của doanh nghiệp lớn hơn .
Khi đứng trên giác độ nền kinh tế,khi mà GDP tăng với một khối lượng lớn.Đây
là một nguồn thu nhập cho nền kinh tế một mặt nó phục vụ cho tiêu dùng,mặt
khác nó tái sản xuất đi vào đầu tư.Khi mà GDP lớn thì phần giữ lại để đầu tư lớn
16
Nhóm 3 Kinh tế Đ ầu t ư
47A
hơn,khối lượng đầu tư tăng lên.Như vậy chính sự tăng của sản lượng đã là nền
tảng cho đầu tư tăng lên.
2.3/Tăng trưởng và phát triển tạo thuận lợi cho việc đầu tư tư nhân
trong nước và đầu tư nước ngoài:
Tăng trưởng và phát triển ngày càng duy trì một mức cao và ổn định.Nó
báo hiệu cũng như tạo ra nhưng điều kiện để xây dựng một nền kinh tế có tính
năng động và hiệu quả cao,khả năng sinh lời của đồng vốn sẽ có một tỷ lệ lớn
hơn ở nơi khác,độ rủi ro của vốn sẽ được giảm bớt.Tăng trưởng kinh tế cao tạo
điều kiện thuận lợi cho việc chi phi vốn phải gánh chịu giảm,môi trường kinh tế
được cải thiện không nhưng môi trường kinh doanh mà tinh cạnh tranh đào thải
cũng được minh bạch hơn.Theo đánh giá của ngân hàng thế giới trong Báo cáo
phát triển thế giới 2005 có tiêu đề :”Môi trường đầu tư tốt hơn cho mọi người “
thì mức độ tin tưởng của doanh nghiệp vào tương lai–kể cả độ tin cậy trong
hai mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát.Tuy nhiên,theo bộ trưởng
bộ tài chính thừa nhận,mục tiêu này đối với chính phủ là hết sức khó khăn,lạm
phát lên tới 12,63).Nhưng với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị;sự tập
trung chỉ đạo,điều hành năng động,có hiệu quả của chính phủ;sự nỗ lực phấn
đấu của các ngành,các cấp và các tầng lớp nhân dân,nền kinh tế nước ta tiếp tục
phát triển ổn định,đạt mức tăng trưởng 9 tháng đầu năm 8,25% (kế hoạch cả
năm là 8,2 – 8,5%),là mức cao nhất trong 10 năm qua tạo khả năng hoàn thành
nhiều chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm 2006-2010 ngay trong năm 2008.Cơ
cấu kinh tế chuyển dịch tích cực,các cân đối kinh tế vĩ mô cơ bản được đảm
bảo.Huy động được nhiều nguồn lực trong nước cũng như nước ngoài cho đầu
tư phát triển.Công tác đối ngoại đạt được những kết quả to lớn,quan hệ hợp tác
kinh tế quốc tế được đẩy mạnh,các cam kết trong khuôn khổ Tổ chức thương
mại thế giới (WTO) và các hiệp định song phương,đa phương được tăng cường.
Do nhận thức được vai trò quan trọng của đầu tư phát triển nên trong những
năm vừa qua chúng ta đã có nhiều chính sách và giải pháp khơi dậy nguồn nội
lực và tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài để huy động vốn đầu tư phát
triển.Đầu tư phát triển của nền kinh tế tăng mạnh, nhiều công trình hạ tầng và cơ
sở sản xuất được đưa vào sử dụng, tạo tiền đề quan trọng để phát triển đất nước
18
Nhóm 3 Kinh tế Đ ầu t ư
47A
trong các năm tiếp theo.Tổng số vốn đầu tư toàn xã hội năm 2007 ước đạt
khoảng 464,5 nghìn tỷ đồng, bằng 40,6% GDP,tăng 16,4% so với năm
2006;trong đó,nguồn vốn của Nhà nước tăng 17,5%,vốn hỗ trợ phát triển chính
thức (ODA) tăng 12%,vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng 17,1%,vốn
đầu tư dân doanh tăng 19,5%.Thị trường chứng khoán phát triển khá nhanh,đang
trở thành một kênh huy động vốn đầu tư dài hạn quan trọng trong nền kinh
tế.Cân đối vốn đầu tư phát triển có nhiều cải thiện qua từng năm,khối lượng huy
động đầu tư đưa vào thực hiện tăng.Tỷ lệ huy động vốn đầu tư trong GDP tăng
từ 34% năm 2001 lên 34,3% năm 2002 và 35,9% năm 2003,năm 2004 là
TFP
trong
tăng
trưởng
GDP (%)
Thời kỳ 1993-1997: 15%; Thời kỳ 1998-2002: 22,5% (cho cùng thời kỳ
này, có tác giả đưa ra con số 28,2%).
HDI
(thứ
hạng trên
thế giới)
0,682
(101/162)
0,688
(109/173)
0,688
(109/175)
0,691
(112/177)
0,704
(108/177)
Trong những năm gần đây GDP của nước ta liên tục tăng nhưng chỉ số
ICOR lại có xu hướng tăng thể hiện qua biểu đồ sau :
Hệ số ICOR ở Việt Nam qua các năm
20
Nhóm 3 Kinh tế Đ ầu t ư
47A
2.7
3.6
(theo www.ncseif.gov.vn)
Lượng vốn đầu tư liên tục tăng trong những năm qua, năm 2000 vốn đầu tư
thực hiện theo giá thực tế là 151,2 nghìn tỷ đồng (bằng 34,2% GDP);năm 2005
tăng lên 324 nghìn tỷ đồng(bằng 38,7% GDP).Tốc độ tăng về vốn đầu tư thực
hiện cao hơn tốc độ tăng GDP,tăng 22,3% (giai đoạn1991 – 1995); 12,2% (1996
– 2000) và 13% (2001 – 2005).Tuy nhiên,hiệu quả đầu tư lại thấp và ngày càng
giảm,thể hiện qua chỉ số ICOR còn khá cao và liên tục tăng,cụ thể từ 2,7 (năm
1991) tăng dần lên 3,6 (năm 1997);tăng cao đột ngột năm 1998 và 1999 tương
ứng là 5,3 và 6,1;sau giai đoạn này,chỉ số ICOR có giảm nhưng vẫn ở mức cao
so với trước giai đoạn khủng hoảng 4,9 (năm 2003).Sau đó chỉ số ICOR tiếp tục
tăng lên 6,93 (năm 2005) và lên cao nhất vào năm 2006 (7.28) .Có thể nói trong
những năm đầu của công cuộc đổi mới,nhờ đổi mới cơ chế,nền kinh tế đã huy
động được tài sản cố định và khai thác hiệu quả các công suất đã đầu tư trước
đây,do vậy kết quả đầu tư tương đối có hiệu quả,hệ số ICOR thấp.Sau cuộc
khủng hoảng kinh tế châu Á,cùng với chính sách kích cầu,đầu tư vào kết cấu hạ
tầng ở nông thôn tăng nhanh,hệ số ICOR đã tăng nhanh.Có nhiều nguyên nhân
dẫn đến tình trạng đầu tư kém hiệu quả, hệ số ICOR cao,đó là:
Thứ nhất,hệ số ICOR tăng một phần là vì nước ta đang trong thời kỳ đầu của
quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa,để có cơ sơ hạ tầng cho phát triển các
ngành khác chúng ta đã đầu tư nhiều vào các công trình xây dựng cơ bản,xây
dựng cơ sở hạ tầng,là những dự án đòi hỏi số vốn đầu tư cao nhưng lại chậm thu
hồi vốn,nhất là các công trình lớn và nhiều năm nữa mới đi vào hoạt động.
21
Nhóm 3 Kinh tế Đ ầu t ư
47A
Thứ hai,trong cơ cấu vốn đầu tư,cụ thể chúng ta chú trọng nhiều vào những
ngành công nghiệp được xếp vào nhóm có sức cạnh tranh thấp,thu hồi vốn chậm
(mía, đường,sắt,thép,phân bón,giấy…);đầu tư vào các dự án cần nhiều vốn
nhưng sử dụng ít lao động; đầu tư dàn trải.
Thứ ba,hiệu quả vốn đầu tư của khu vực Nhà nước còn rất thấp.Mặc dù vốn
kỳ này, có tác giả đưa ra con số 28,2%) sự tăng này cũng là do vốn đầu tư
tăng.Nguồn vốn toàn xã hội đã được định hướng đầu tư theo mục tiêu của kế
hoạch,cơ cấu đầu tư đã được hình thành tương đối hợp lý theo hướng khai thác
lợi thế từng ngành,từng vùng.
2/Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Đầu tư góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với quy luật và
chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia trong từng thòi kỳ, tạo ra sự
chuyển biến mới trong nền kinh tế quốc dân giữa các ngành giữa các vùng kinh
tế phát huy nội lực của nền kinh tế, trong khi vẫn coi trọng yếu tố ngoại
lực.Theo định hướng của kế hoạch,cơ cấu đầu tư đã có đổi mới, hướng vào các
mục tiêu chuyển đổi mạnh cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp và ngành kinh tế
có khả năng phát triển trong thời kỳ tiếp theo;đầu tư phát triển nguồn nhân lực
và các mặt văn hoá, xã hội;đầu tư thực hiện có hiệu quả chương trình xoá đói
giảm nghèo;hỗ trợ đầu tư cho vùng miền núi, vùng khó khăn.
Từ năm 2002 đến 2005,vốn đầu tư cho nông nghiệp tăng bình quân là
13,2%/năm,vốn đầu tư cho các ngành công nghiệp tăng bình quân 11%,vốn đầu tư
cho hạ tầng giao thông vận tải và thông tin liên lạc tăng bình quân 8,2%,vốn đầu tư
cho các lĩnh vực khoa học công nghệ,giáo dục đào tạo,y tế,văn hoá,tăng bình quân
hàng năm 15,2%.....như vậy sự gia tăng của đầu tư vào các thành phần khá rõ trong
đó.
2.1/ Cơ cấu đầu tư theo ngành :
23
Nhóm 3 Kinh tế Đ ầu t ư
47A
Cơ cấu vốn đầu tư các ngành năm 2007
Đơn vị : %
Tổng sản phẩm trong nước năm 2007 theo giá so sánh 1994Thực hiện (Tỷ
công nghiệp
33%
giao thông
van tải thông
tin liên lạc
4%
các ngành
khác
43%
khoa học
công nghệ
giáo dục y tế
lạc
5%
Nhóm 3 Kinh tế Đ ầu t ư
47A
8
Khu vực công nghiệp và xây
dựng
17423
9
19270
4
110.6
0
Công nghiệp khai thác 23037 22568 97.97
Công nghiệp chế biến
10039
6
11323
107.6
4
Kinh doanh bất động sản 15252 15872
104.0
6
Quản lý Nhà nước 11270 12196
108.2
2
Giáo dục đào tạo 14231 15467
108.6
8
Y tế 6082 6568
107.9
9
Văn hoá, thể thao 2329 2515
108.0
0
Đảng, đoàn thể, hiệp hội 454 491
108.1
4
Phục vụ cá nhân, cộng 8210 8860 107.9
25