nghiên cứu triết học chủ nghĩa tư bản nhà nước từ quan niệm của v.i.lênin đến sự vận dụng của đảng ta trong công cuộc đổi mới - Pdf 12


Nghiên cứu triết học
CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC: TỪ QUAN
NIỆM CỦA V.I.LÊNIN ĐẾN SỰ VẬN DỤNG CỦA
ĐẢNG TA TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC: TỪ QUAN NIỆM CỦA V.I.LÊNIN
ĐẾN SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI


đó tất yếu đòi hỏi những người cộng sản, nhân dân lao động cùng với nhà nước
kiểu mới của mình phải biết tiếp thu, kế thừa tất cả các giá trị tiến bộ được tạo ra
bởi chủ nghĩa tư bản để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Do những hạn
chế lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đều chưa đề cập đến chủ nghĩa tư bản nhà
nước trong học thuyết kinh tế chính trị học của mình. Vấn đề này đến V.I.Lênin
mới được đề cập tới.
Chủ nghĩa tư bản nhà nước được V.I.Lênin vận dụng vào thực tiễn nước Nga
năm 1921 trong Chính sách kinh tế mới (NEP), sau bước thử nghiệm xây dựng
chủ nghĩa xã hội bằng “con đường trực tiếp” không thành công. Tư tưởng của
V.I.Lênin về một kết cấu kinh tế quá độ với sự đan xen giữa các hình thức sở
hữu, các thành phần kinh tế, các giai cấp vô sản, tư sản và tiểu tư sản đã được
nêu ra từ năm 1918. Đặc biệt, vị trí và vai trò lịch sử của chủ nghĩa tư bản nhà
nước được V.I.Lênin phân tích rõ ràng trong bài báo Tai hoạ sắp đến và những
phương pháp ngăn ngừa tai hoạ đó. Trong bài báo này, V.I.Lênin viết: “Chủ
nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho chủ
nghĩa xã hội, là phòng chờ đi vào chủ nghĩa xã hội, là nấc thang lịch sử mà giữa
nó (nấc thang đó) với nấc thang được gọi là chủ nghĩa xã hội thì không có một
nấc thang nào ở giữa cả”(2). Kết luận này của V.I.Lênin đã luận chứng cho quan
điểm của ông về khả năng bùng nổ và thắng lợi của cách mạng vô sản ở một
nước riêng lẻ, thậm chí kém phát triển, trong thời đại đế quốc chủ nghĩa.
Chủ nghĩa tư bản nhà nước cũng như chủ nghĩa tư bản độc quyền và chủ nghĩa
tư bản độc quyền nhà nước đều có chung cội nguồn kinh tế sâu xa - đó là quá
trình tập trung hoá và xã hội hoá lực lượng sản xuất một cách tất yếu, khách
quan, gắn liền trước hết với các thành tựu khoa học, kỹ thuật hiện đại đạt được
cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Tính chất cạnh tranh ngày càng gay gắt, một
mất một còn của nền sản xuất và tái sản xuất hàng hoá mở rộng không cho phép
chủ nghĩa tư bản tiếp tục tồn tại ở quy mô tư bản cá biệt hoặc công ty cổ phần
của các nhà tư bản đã có từ giai đoạn tự do cạnh tranh. Mặt khác, các quy luật
nội tại của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng làm sâu sắc hơn
các mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, giữa đế quốc

và tư bản chủ nghĩa trong công cuộc xây dựng xã hội mới – xã hội chủ nghĩa - đã
được xác định.
Quan niệm chủ yếu của V.I.Lênin là, trong một nước kém phát triển, giai cấp vô
sản không thể tự mình xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Nó cần phải và
không thể không mượn tay, mượn sức của các giai cấp khác (nông dân, tư sản,
tiểu tư sản) để hoàn thành sự nghiệp đó. Lôgíc vấn đề dẫn tới sự cần thiết phải
phát triển các quan hệ thị trường (cơ sở cho sự phát sinh không thể tránh khỏi
của các quan hệ tư bản chủ nghĩa) với tư cách phương pháp, thủ đoạn chứ không
phải là mục đích của cách mạng. Chủ nghĩa tư bản nhà nước trong khuôn khổ đó
trở thành hình thức quá độ để vừa mượn được sức của các giai cấp khác, vừa
đảm bảo được tính chất xã hội chủ nghĩa. Theo nghĩa như vậy, quan điểm sử
dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước trở thành tư tưởng trung tâm của NEP.
Chủ nghĩa tư bản nhà nước trong quan niệm của V.I.Lênin là kết quả chung của
hai xu hướng vận động trong đời sống thực tiễn. Xu hướng thứ nhất bắt nguồn
từ việc chấp nhận các quan hệ thị trường để thuyết phục người tiểu nông và thiết
lập liên minh kinh tế giữa giai cấp vô sản (thông qua đại diện của nó là Nhà
nước vô sản) với giai cấp nông dân trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Sự chấp nhận đó, trong điều kiện một nước tiểu nông, tất yếu sinh ra các quan
hệ tư bản chủ nghĩa. Vấn đề đặt ra là làm thế nào, bằng hình thức nào để hướng
sự phát triển tự phát đó vào quỹ đạo, đặt nó dưới sự kiểm soát của Nhà nước và
có lợi cho chủ nghĩa xã hội. Câu trả lời là chủ nghĩa tư bản nhà nước. Xu hướng
thứ hai nảy sinh ra từ chính nhu cầu nội tại của công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội. Để hoàn thành sứ mạng này, Nhà nước vô sản cần có vốn, kỹ thuật, kinh
nghiệm tổ chức và quản lý cao cấp, cũng như cần có các quan hệ kinh tế xã hội
hoá, mà tất cả những yếu tố đó chỉ có thể có được từ các nước tư bản chủ nghĩa
phát triển, từ các công ty của nó. Với nhận thức rằng, đó là những thành tựu của
lịch sử phát triển của nhân loại, việc tận dụng chúng thông qua quan hệ hợp tác với
các nước tư bản chủ nghĩa và công ty của chúng trở thành một yêu cầu chính đáng
và có tính bắt buộc đối với những nước đi sau. Cách thức để đáp ứng nhu cầu này,
về nguyên tắc, cũng thông qua chủ nghĩa tư bản nhà nước.

hướng xã hội chủ nghĩa (vì các nguồn vốn nước ngoài, trên thực tế, chủ yếu là từ
các nước và các công ty tư bản chủ nghĩa).
Vì những lẽ đó, chủ nghĩa tư bản nhà nước trong điều kiện Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa và trong khuôn khổ định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn
đề cần phải được đặt ra và có kết luận rõ ràng.
Vấn đề chủ nghĩa tư bản nhà nước ở nước ta hiện nay, trên nhiều điểm có tính
nguyên tắc là trùng hợp với cách đặt vấn đề của V.I.Lênin cách đây hơn 80 năm.
Tuy nhiên, cần nhận thức rõ ràng sự khác biệt của hoàn cảnh phát triển giữa
nước ta hiện nay và Liên Xô những năm 20 của thế kỷ trước (bao gồm trong đó
cả những khác biệt căn bản về điều kiện quốc tế) là yếu tố chế định một cách
tiếp cận hiện đại đối với vấn đề chủ nghĩa tư bản nhà nước. Những điểm khác
biệt chủ yếu về điều kiện phát triển đó là:
* Hệ thống kinh tế thế giới mở cửa, quan hệ hợp tác giữa các quốc gia, giữa các
tổ chức kinh tế quốc tế với từng quốc gia riêng biệt trở nên cởi mở hơn và bình
đẳng hơn. Tính tương thuộc trong phát triển giữa các nước trở thành quan hệ chủ
đạo trong hệ thống kinh tế đó. Tương ứng với sự thay đổi đó là tính đa dạng về
hình thức hợp tác kinh tế.
* Sự đối đầu về quân sự ít gay gắt hơn, nhường vị trí ưu tiên cho cuộc đua tranh
– cạnh tranh phát triển kinh tế hết sức quyết liệt. Thay cho chiến tranh xâm lược
dựa trên bạo lực quân sự là một hình thái chiến tranh mới – chiến tranh kinh tế.
Sự sống còn của một quốc gia, theo nghĩa đó, tùy thuộc chủ yếu vào năng lực
phát triển kinh tế của nó.
* Khác với nước Nga Xô viết những năm đầu thập niên 20 của thế kỷ trước, ở
nước ta hiện nay, địa vị thống trị của Đảng Cộng sản và Nhà nước vô sản đã được
củng cố vững chắc và là yếu tố quy định định hướng phát triển chính trị – xã hội
của đất nước.
* Giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức Việt Nam chấp nhận sự lãnh đạo của
Đảng và Nhà nước với lòng tin mạnh mẽ. Điều này đã được kiểm chứng trong
nhiều thập niên khó khăn của cách mạng và gần đây nhất, trong những năm đổi
mới kinh tế theo hướng xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

và chính sự đan xen đó đã hình thành hình thức sở hữu hỗn hợp, mang tính phổ
biến trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Sự dung hợp giữa sở
hữu nhà nước và sở hữu của nhà tư bản (trong và ngoài nước) trở thành sở hữu
chung của nhà nước và nhà tư bản. Đây chính là hình thức sở hữu đặc trưng nhất
của một thời kỳ quá độ lâu dài, như V.I.Lênin từng gọi, là thời kỳ quá độ từ chủ
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, là thời kỳ nhà tư bản cày trên luống cày của
chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội ra đời từ những gì mà chủ nghĩa tư bản đã
đạt được, là thời kỳ không còn chủ nghĩa tư bản thuần tuý nhưng cũng chưa có
chủ nghĩa xã hội đầy đủ, thời kỳ mà nhân dân đang bắc những nhịp cầu nhỏ
vững chắc đi lên chủ nghĩa xã hội.
Thực hiện chủ nghĩa tư bản nhà nước là một trong những định hướng hợp quy
luật để cải tạo nền kinh tế nước ta theo hướng chủ nghĩa xã hội. Nói cách khác,
chủ nghĩa tư bản nhà nước là “cầu nối”, là “nấc thang” trực tiếp lên chủ nghĩa
xã hội. Vị trí, vai trò của chủ nghĩa tư bản nhà nước được biểu hiện ở các mặt
sau:
Thứ nhất, chủ nghĩa tư bản nhà nước là phương thức cải tạo có hiệu quả nền
kinh tế còn kém phát triển của nước ta, sớm tạo dựng được các cơ sở công
nghiệp lớn và tạo ra địa bàn mới để phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất
với trình độ xã hội hoá ngày càng cao. Một mặt, nó thúc đẩy nhanh sự phát triển
các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế. Mặt khác, nó dẫn dắt và làm
chuyển hoá các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế vận động theo quỹ
đạo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, chủ nghĩa tư bản nhà nước góp phần quan trọng vào việc giải phóng các lực
lượng sản xuất và các tiềm năng của đất nước. Nó thu hút và phát huy tối đa các
nguồn lực trong và ngoài nước, đồng thời là công cụ hữu hiệu để thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và đảm bảo cho nền kinh tế nước ta phát triển một cách độc
lập, tự chủ.
Thứ ba, chủ nghĩa tư bản nhà nước có tính chất “tập trung”, “được tính toán”,
“được kiểm soát và xã hội hoá” nên nó là một trong những phương thức tổ chức
và quản lý nền sản xuất lớn, hiện đại. Nó cũng là phương tiện có hiệu quả để

dài bên cạnh các thành phần kinh tế khác.
Trong điều kiện nước ta hiện nay, vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước là một tất
yếu, hợp quy luật. Để thực hiện thắng lợi chủ nghĩa tư bản nhà nước kiểu mới –
sự kết hợp biện chứng giữa tư bản và Nhà nước vô sản – chủ thể kinh tế – chính
trị kiểu mới của những người cộng sản và nhân dân lao động, chúng ta cần
mạnh dạn đổi mới trong cả lĩnh vực tư duy và tổ chức hoạt động thực tiễn. Nếu
nhận thức và vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước kiểu mới một cách nghiêm
túc và có nguyên tắc như di huấn của V.I.Lênin để lại, chúng ta chẳng những
bắc được những “nhịp cầu nhỏ”, mà còn có đủ điều kiện bắc được “cây cầu lớn,
vững chắc, hiện đại” để đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo
của Đảng.r

(*) Tiến sĩ, Trưởng phòng Đào tạo và Quản lý khoa học, Viện Triết học, Viện
Khoa học xã hội Việt Nam.
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X.
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.83.
(2) V.I.Lênin. Toàn tập, t.34. Nxb Tíến bộ, Mátxcơva, 1976, tr. 258.
(3) V.I.Lênin. Sđd., t.36, tr.311.
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX.
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.99.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status