NGHIÊN CỨU TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI: “THIỀN TRONG KINH VĂN
NGUYÊN THUỶ CỦA PHẬT GIÁO”
THIỀN TRONG KINH VĂN NGUYÊN THUỶ CỦA PHẬT GIÁO
HOÀNG THỊ THƠ (*)
Trong bài viết này, tác giả trình bày nội dung và ý nghĩa của Thiền Phật giáo
trong một số tác phẩm tiêu biểu của Phật giáo. Qua đó, một mặt, tác giả
khẳng định sự hiện diện của Thiền trong kinh điển Phật giáo; mặt khác, tác
giả chỉ ra sự khác biệt giữa Thiền Phật giáo và Thiền trong Yoga của
Bàlamôn giáo. Cuối cùng, tác giả khẳng định giá trị lịch sử cũng như giá trị
hiện đại của Thiền.
Từ góc độ lịch sử tư tưởng, bài viết này cố gắng làm rõ rằng, ngay trong kinh
điển Phật giáo Nguyên thuỷ đã có tư tưởng Thiền, đó chính là tư tưởng và
phương pháp tu tập của Đức Phật trên con đường Người tìm đạo. Thiền là
một sản phẩm độc đáo của tư duy lý luận tổng hợp của triết học - tôn giáo
không tách rời thực tiễn tu tập và đạo đức truyền thống Ấn Độ mà Đức Phật
đã kế thừa một cách có chọn lọc từ truyền thống Bàlamôn giáo. Thiền luôn là
cơ sở lý luận và thực hành tu tập để triển khai tinh thần triết học tôn giáo từ
Phật giáo Nguyên thuỷ cho tới Thiền tông Trung Quốc, đồng thời luôn trong
khuynh hướng hiện đại hóa của Đại thừa Phật giáo.
1. Siddhartha Gautama và nguồn gốc của Thiền Phật giáo Nguyên thuỷ
Phật cũng được tả chi tiết trong kinh văn về quá trình 49 ngày (bảy tuần)
thiền - định dưới gốc Bồ đề để suy niệm về lẽ Giải thoát(4). Trong đó, đặc
trưng độc đáo của Thiền là cách tiếp cận hướng nội, quay trở vào bên trong
để đạt tới giác ngộ: “Ngài phải tự mình suy niệm và quay trở vào bên trong để
tìm Chơn lý. Và Ngài đã tìm ra Chơn lý bên trong Ngài”(5).
Về căn bản, Đức Phật đã tiếp thu một cách sáng tạo cách tu luyện nội tâm của
Yoga. Người đánh giá cao Yoga và chỉ ra rằng, “Yoga là kiềm chế dòng ý
thức (Vrtti) của tâm (Citta)”(6). Khác với Yoga truyền thống, cái mới của
Phật giáo là lập trường triết học - tôn giáo giải thoát hướng nội – giải thần
quyền(7) – bình đẳng. Sự sáng tạo này được thể hiện trong lối tu luyện Tứ
niệm xứ(8)
- lối tu luyện để đạt tới giải thoát bình đẳng tự tại, chứ không phải
để đạt được công năng dị biệt hay để hòa nhập Tiểu ngã (Atman) với Đại ngã
(Brahman) theo tinh thần giải thoát của thần quyền như các tôn giáo khác ở
Ấn Độ cổ. Tứ niệm xứ chính là kinh văn Nguyên thuỷ về Thiền định của Phật
giáo.
Phật giáo Nguyên thuỷ chưa bàn nhiều về Thiền như một đối tượng độc lập,
nhưng Thiền luôn gắn liền với con đường thực hành giải thoát và là một
phương pháp hành đạo căn bản của Phật giáo. Do vậy, ngay từ thời đó, Thiền
đã có một vị trí nhất định trong hệ thống và cấu trúc giáo lý, cũng như trong
tu tập của Phật giáo. Kimura Taiken, nhà Phật học Nhật Bản, đã nhận xét vai
trò của Thiền trong lịch sử Phật giáo như sau: “ không một giáo lý nào
trong Phật giáo được thành lập ngoài Thiền. Vì xây dựng trên cái gọi là tự
lực chủ nghĩa, nên nếu rời xa Thiền thì tất cả chỉ còn là một loại lý luận
suông nếu rời xa Thiền thì không có Tuệ là lẽ tất nhiên, nhưng đồng thời
cũng không có Giới nữa”. Thậm chí, ông còn nhấn mạnh rằng, “ sự phát đạt
của giáo lý Phật giáo chẳng qua cũng chỉ là sự phát đạt và biến thiên của
Thiền quán”(9). Có thể đây là một trong những lý do khiến Đức Phật chọn
Thiền làm phương pháp tu luyện của riêng Phật giáo ở Ấn Độ.
“Ban” là hơi thở ra; “Niệm hơi thở chẳng lìa gọi là An Ban thủ Ý”(13). Đại
sư Trí Khải (358-597), ông tổ của Thiên Thai tông Trung Hoa, khi nghiên cứu
kinh này đã thừa nhận luyện thở là một trong những lối nhập định hay nhất.
Trong Lục Diệu Pháp Môn, đại sư đã nhắc lại: “Có hai cách thiền thông
thường nhất là: 1 - đếm hơi thở và 2 - đình chỉ hoặc giữ hơi thở lại”(14).
Đến giai đoạn Bồ Đề Đạt Ma, trong số bốn pháp môn Thiền ở Trung Quốc
lúc đó, An Ban Thủ Ý được đánh giá cao và được xếp làm pháp môn Thiền cơ
sở cho những người mới nhập môn(15). Khi Thiền Đại thừa đạt tới đỉnh cao
với nhiều phái thiền như Tào Động, Lâm Tế, Dương Kỳ, Vô Ngôn,… với các
pháp môn Thiền như công án, niệm chú, đánh, hét,… thì pháp môn An Ban
Thủ Ý vẫn giữ vị trí “là bước thiền đầu tiên trong tiến trình ổn định các cơ
năng của thân, làm lắng dịu các tư tưởng biên biệt và tăng cường sức tập
trung , theo rõi hơi thở ra vô bằng con mắt tâm Như thế, thở trở thành một
vận chuyển kinh nghiệm tâm linh, cái trung gian giữa thân và tâm”(16). Kỹ
thuật này còn được các đạo gia gọi là phép Sổ tức quán.
Nội dung của Tứ niệm xứ với công phu An Ban Thủ Ý (kỹ thuật thở để an
tâm) luôn gắn liền với yêu cầu tự nhận thức về sự chuyển biến dòng ý thức
của chính thiền giả với mục đích cuối cùng của luyện thở là kiểm soát dòng ý
thức tự phát, chứ không thiên về luyện các công năng dị biệt hay để hoà nhập
với Đại Thiên (Brahman) như Yoga của Bàlamôn giáo.
Tóm lại, Tứ niệm xứ và An Ban Thủ Ý là những kinh văn Nguyên thuỷ có nội dung
về Thiền rất rõ ràng. Trong suốt lịch sử phát triển của Phật giáo, cho tới nay, kinh
điển Nguyên thuỷ về Thiền vẫn luôn được coi là những bài đầu tiên và cơ bản của
mọi thiền gia và thiền phái, kể cả Tiểu thừa (Theravada) và Đại thừa (Mahayana)
Phật giáo.
3. Thiền trong Tam Tạng kinh (Tripitaka) Nguyên thuỷ
Hệ thống kinh điển của Phật giáo, còn gọi là Tam Tạng kinh (Tripitaka), gồm
Kinh tạng (Sutra-Pitaka), Luật tạng (Vinaya-Pitaka) và Luận tạng
(Abhidharma-Pitaka). Mỗi tạng (Pitaka) phản ánh một phương diện, một
trình độ phát triển của Phật giáo và có niên đại riêng. Kinh tạng chứa nội
rằng, con người có thể nhận thức được, thậm chí “liễu tri” (tuệ) được luật vô
thường và luật vô ngã của các pháp hữu vi (bao gồm danh sắc của chúng
sinh) để tự diệt được vô minh, tự đạt tới giải thoát. Trên con đường đó, mọi
người đều bình đẳng như nhau về khả năng và cơ hội.
Đạo đế là con đường tu đạo được chính Đức Phật thể nghiệm và khái quát
thành Bát chính đạo, gồm chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp,
chính mệnh, chính tinh tấn, chính niệm và chính định. Từ góc độ nghiên cứu
tư tưởng Thiền, có thể thấy, chính kiến, chính tư duy, chính niệm và chính
định cũng đồng thời là hai bước đầu chuẩn bị và hai bước cuối hoàn thiện
trong quy trình tu tập thiền - định. Chính kiến và Chính tư duy (tuệ) về thực
chất là bước xác định lập trường giải thoát khỏi vô minh. Chính niệm là bước
tiếp theo, lấy bản thân ý thức và dòng suy tư của chính mình làm đối tượng
quan sát để cuối cùng đạt tới làm chủ một cách đúng đắn dòng ý thức. Chính
định (Samyag Samadhi) là làm chủ sự tĩnh lặng ý thức (vô thức, vô niệm) một
cách đúng đắn. Đây là bước tu thứ tám và là bước quan trọng nhất trong Bát
chính đạo. Định cũng là mắt khâu quyết định trong mô hình Tam học (Giới -
Định - Tuệ). Không có Định thì cũng không giữ được Giới và không đạt được
Tuệ.
Đức Phật đã tiếp thu trực tiếp kỹ thuật thiền “hướng nội” của Yoga, song triển
khai theo tinh thần trung đạo để làm phép tu căn bản của Phật giáo. Đây là
một trong những định hướng mà sau này Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Trung
Quốc đã tiếp tục phát triển thêm tinh thần “vô chấp”, “vô trụ” thành Phật giáo
Đại thừa nói chung và Thiền tông Trung Quốc nói riêng.
Luật tạng (Vinaya pitaka) là các giới luật để đảm bảo sự tồn tại và phát triển
vững mạnh của tăng đoàn Phật giáo. Luật tạng quy định rõ 227 giới cho nam
tu sĩ (tăng, Bhikkhu) và 348 giới cho nữ tu sĩ (ni, Bhikkhuni); “thập giới” và
“ngũ giới” cho tín đồ tại gia (cư sĩ). Có thể chia nội dung Giới theo nhiều
cách, song từ góc độ Thiền, giới luật được chia thành ba loại: Biệt giải thoát
giới, tức là những giới luật chung về lối sống đạo đức của tín đồ và tu sĩ trên
con đường giải thoát; Định cộng giới, tức là lấy Thiền - Định làm giới để đạt
Song đáng chú ý là, kết cấu bộ ba này được nhất quán ở mọi cấp độ lý thuyết
và thực hành. Chẳng hạn, nội dung của Thiền Phật giáo cũng tuân thủ nguyên
tắc kết hợp ba phương pháp tu tập tổng hợp “Tam đạo” (Marga). Cụ thể, đó
là Kiến đạo, Tu đạo và Vô học đạo. Người tu thiền nếu không hiểu “đạo” -
con đường độc đáo của Thiền - là con đường “nội quán trực giác” thì không
thể tu thiền, không thể vừa tư biện, vừa trực quán. Trên con đường rèn luyện
để đạt tới Tuệ, thiền giả phải vượt qua được những cái bẫy của lôgíc thông
thường, đó là Vô học đạo. Thiền giả phải tu luyện sao cho đồng thời đạt được
cả sự yên tĩnh lẫn vận động tích cực. Đó là sự yên tĩnh gần như tuyệt đối của
tâm (chỉ), nhưng không phải là sự trống rỗng, mà trong sự yên tĩnh tuyệt đối
đó, tâm thức tập trung cao độ hướng đến Tuệ (quán).
Như vậy, trong kinh văn Nguyên thuỷ, ngay trong mỗi tạng của Tam Tạng
kinh, Thiền đều có một vị trí không thể thiếu. Ý nghĩa của Thiền luôn được
bảo tồn cùng quá trình phát triển của Phật giáo nói chung, cũng như sự phân
chia thành các tông phái ngày càng đa dạng của Phật giáo nói riêng.
4. Ý nghĩa của Thiền Phật giáo Nguyên thuỷ
Từ góc độ giá trị phương pháp tu luyện nội tâm, Thiền là một trong những giá
trị truyền thống hướng nội của phương Đông nói chung và của Ấn Độ nói
riêng. Từ xa xưa, Thiền đã được Phật giáo Nguyên thuỷ góp phần bảo tồn và
phát triển cho tới tận ngày nay. Tư tưởng Thiền Phật giáo luôn được đánh giá
như một cơ sở nội tại tiềm năng cho những phát triển lý luận cũng như thực
hành tôn giáo theo hướng triển khai các tư tưởng Đại thừa nói chung và Thiền
tông nói riêng. Từ tính Thiền đến Thiền tông là một quá trình phát triển, hoàn
thiện trong mối liên hệ có tính lịch sử giống như cấu trúc lý luận và thực hành
tôn giáo được triển khai trong lòng Phật giáo liên tục từ Nguyên thuỷ cho tới
đỉnh cao là Phật giáo Thiền tông Đại thừa Trung Quốc.
Từ góc độ nhận thức luận và giải thoát luận, Thiền luôn là nhân lõi về lý luận
và thực hành tôn giáo để làm mới các vấn đề của giáo lý Phật giáo theo
hướng hiện đại hóa, thế tục hóa,… mỗi khi Phật giáo triển khai các phong
trào chấn hưng hay phục hưng Phật giáo. Thiền học - một hệ thống lý luận về
Quảng Độ). Tu thư Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn, 1969, tr. 492 - 493, 498.
(10) Trí Giả Thiên Thai. Tu tập chỉ quán toạ thiền pháp yếu. Nxb Thiền học,
Sài Gòn, 1980. tr. 366.
(11) Bhagavad-gita as It Is. Translated by Bhaktivedanta Swami Prabhupada,
The Bhaktivedanta Book Trust. New York, Los Angeles – London –
Bombay. Send print, 1986. tr. 201 - 202; Henrich Dumoulin. Zen Buddhism:
A History, Vol. 1: India and China, Macmillan Publisher, New York and
London, 1988, tr. 177 - 178.
(12) Hoặc dịch âm hơi khác đi là An Ban Thủ Ý.
(13) Ngô Di. Thiền và Lão Trang (người dịch: Đồ Nam). Nhà in Hạnh Phúc,
Sài Gòn, 1973, tr. 39.
(14) Chang Chen Chi. Thiền đạo tu tập (người dịch: Như Hạnh). Nxb Kinh
Thi, Sài Gòn, 1972, tr. 321-325.
(15) Ngô Di. Thiền và Lão Trang. Sđd., tr. 59.
(16) Philip Kaplaeo. Ba trụ thiền (người dịch: Đỗ Đình Đồng). Giáo hội Phật
giáo Huế, 1981, tr. 25-26.
(17) Kinh tạng và Luật tạng là kết quả của Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ
nhất (100 ngày sau Phật diệt, khoảng 398 TCN.) và kết tập lần thứ hai
(khoảng 274 TCN.). Nội dung chính của hai tạng này là các vấn đề giáo lý và
giới luật để kiện toàn tăng đoàn Nguyên thuỷ.
(18) Thích Chơn Thiện. Phật học khái luận. Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1999, tr.
69 - 83.
(19) Khoảng năm 283 TCN., tức là 100 năm sau khi Phật nhập diệt.