Nghiên cứu triết học
Đề tài:" CHARLES SANDERS PEIRCE
(1839 – 1914) NGƯỜI SÁNG LẬP CHỦ
NGHĨA THỰC DỤNG MỸ " CHARLES SANDERS PEIRCE (1839 – 1914) NGƯỜI SÁNG LẬP CHỦ
NGHĨA THỰC DỤNG MỸ
NGUYỄN VĂN HÙNG (*)
Charles Sanders Peirce (1839 – 1914) là nhà triết
học, lôgíc học, toán học và tự nhiên học. Nhưng trên
hết, ông còn được thừa nhận là người sáng lập chủ
nghĩa thực dụng Mỹ.
Charles S.Peirce sinh ra và lớn lên ở bang
Massachusetts (Mỹ), trong một gia đình trí thức mà
cha là một nhà toán học có tên tuổi ở Đại học
xuất bản. Năm 1923, Tuyển tập triết học của ông được xuất bản. Tập thứ nhất
của tuyển tập này có tên gọi Cơ hội, tình yêu và lôgíc. Từ năm 1931 đến năm
1935, Đại học Harvard cho xuất bản Tập luận văn của Peirce gồm 6 tập và
vào năm 1858, cho xuất bản tiếp tập 7 và 8.
Ngay sau khi được xuất bản, các công trình của Charles S.Peirce đã thu hút sự
quan tâm của đông đảo người đọc trong giới học thuật Mỹ. Nhờ những công
trình này, uy tín của ông ở Mỹ ngày càng tăng và bản thân ông cũng đã được
tôn vinh là người sáng lập chủ nghĩa thực dụng Mỹ. Những luận giải, phân
tích của ông về lôgíc quan hệ, ký hiệu học, về chân lý và ý nghĩa đã được các
nhà chủ nghĩa kinh nghiệm lôgíc, triết học phân tích, ngữ nghĩa học, những
người theo chủ nghĩa thực tại và thậm chí, cả những nhà hiện tượng học, đề
cao và coi ông là người đi tiên phong trong lĩnh vực của mình. Những thành
tựu về khoa học tự nhiên của ông cũng được giới khoa học tán đồng. Sự công
nhận đó của giới học thuật Mỹ đã làm cho Charles S.Peirce trở thành một
trong những người nổi tiếng nhất của giới học thuật Mỹ, thậm chí có người
còn gọi ông là nhà triết học lớn nhất, độc đáo nhất của nước Mỹ. William
James đã coi ông là nhà tư tưởng Mỹ độc đáo của thời đại và cùng với những
người đương thời, nhiều tuổi hơn hoặc ít tuổi hơn ông, như Emerson, Royce,
Dewey, Santayana,… đã mang lại vinh quang cho nước Mỹ trên lĩnh vực tư
tưởng, lý luận. Một số người, khi so sánh ông với G.V Leibniz, đã đặt ông
ngang hàng với G.V Leibniz, bởi theo họ, trong di sản lý luận của cả hai ông
đều có “tính toàn năng” nhưng lại ít có “tính hệ thống” trong tiếp cận khoa
học, mặc dù luôn có “sự phong phú của tư duy đang thai nghén”(1). Nhà triết
học Anh – B.Russell đã ví Charles S. Peirce như “hòn núi lửa đang phun ra
những khối lửa mà ở đó, lẫn lộn cả vàng ròng”(2).
Charles S. Peirce là nhà tư tưởng lớn trên nhiều lĩnh vực, song trong tư tưởng
của ông cũng chưa đựng nhiều mâu thuẫn. Điều này đã gây nên những cuộc
tranh luận sôi nổi trong giới học thuật Mỹ mà ở đó, nhiều ý kiến đánh giá
khác nhau đã được đưa ra. Bản thân Charles S.Peirce cũng nhận thấy những
mâu thuẫn trong tư tưởng của mình và do vậy, trong những năm cuối đời, ông
cùng với những mối liên hệ và quan hệ của chúng, là việc xác định các quy
luật tạo dựng và hoạt động chung của chúng. Còn việc đưa lý tính vào hiện
thực phi lý tính thì được thực hiện trong kinh nghiệm thực tiễn của chủ thể – cái
kinh nghiệm cho phép xác định được những điều kiện để kiểm nghiệm các phán
đoán nhằm hợp lý hóa thế giới và qua đó, đem lại cho thế giới này địa vị là một
thực tại.
Như vậy, có thể nói, cái gọi là “hiện tượng học tinh thần” mà Charles
S.Peirce đã xây dựng nên, ngay từ đầu, đã bao hàm trong nó tính hai mặt. Một
mặt, nó tuân thủ những quan niệm truyền thống của chủ nghĩa hiện thực trung
cổ, khi khẳng định tính hiện thực của những khái niệm phổ biến. Mặt khác,
nó thừa nhận sự tồn tại hiện thực của thế giới đã được nhận thức (tính chỉnh
thể, các khách thể và những mối quan hệ riêng biệt) với tư cách sự tồn tại
không phụ thuộc vào tinh thần nhận thức. Tính hai mặt này trong “hiện tượng
học tinh thần” của Charles S.Peirce không phải là một mâu thuẫn mang tính
hình thức, mà có thể coi đó là vấn đề – antinomi mà luận điểm (hiện thực tồn
tại trước nhận thức) và phản luận điểm (thực tại xuất hiện trong quá trình
nhận thức và được hình thành trong đó) của nó thể hiện ra như là hai mặt của
mối quan hệ biện chứng và như là tính quy định lẫn nhau của mối quan hệ
chủ thể – khách thể(5).
Bản thân Charles S.Peirce cũng nhận ra điều này và ông đã cố gắng tìm cách giải
quyết antinomi đó trong quá trình phân tích và luận giải thực tiễn nhận thức của
chủ thể mà, với việc phóng đại, đề cao đến mức thái quá yếu tố chủ quan của
thực tiễn nhận thức đã đưa ông tới chỗ sáng lập nên một trào lưu triết học mới –
chủ nghĩa thực dụng.
Về cống hiến này của Charles S.Peirce trong lịch sử tư tưởng triết học nhân
loại, chúng tôi muốn lưu ý rằng, mặc dù ông được thừa nhận là người sáng
lập chủ nghĩa thực dụng, nhưng bản thân ông lại không phải là người thực
dụng chủ nghĩa một cách triệt để và thuần túy. Trước thập niên 70 của thế kỷ
XIX, Charles S.Peirce chỉ chuyên tâm nghiên cứu về lôgíc quan hệ. Khi đó,
tư tưởng của ông thể hiện rõ khuynh hướng chống chủ nghĩa tâm lý và bản
Charles S.Peirce, trong báo cáo khoa học đọc tại “Câu lạc bộ siêu hình” và cả
trong hai bài viết được chỉnh lý từ báo cáo này, vẫn chưa sử dụng danh từ
“chủ nghĩa thực dụng”. Sau này, ông đã nhiều lần định sử dụng danh từ này,
nhưng cảm thấy ý nghĩa của nó chưa được rõ ràng nên chưa dùng. Mãi đến
năm 1902, khi viết đề mục Từ điển triết học tâm lý của Boune, ông mới sử
dụng danh từ này. Tuy nhiên, cũng vào thời gian này, ông nhận thấy quan
điểm của mình về chủ nghĩa thực dụng đã bị W.James giải thích một cách sai
lệch. Do vậy, để phân biệt với quan điểm của W.James và các nhà thực dụng
chủ nghĩa khác, ông đã sửa đổi danh từ “chủ nghĩa thực dụng” thành “chủ
nghĩa thực hiệu” (pragmaticism) và cho rằng, việc sử dụng danh từ “xấu xí”
này sẽ không bị người khác giải thích sai lệch(6).
Charles S.Peirce xây dựng tư tưởng thực dụng chủ nghĩa của mình dưới ảnh
hưởng của triết học Kant. Ông đã dựa vào quan niệm của I. Kant – quan niệm
coi “niềm tin ngẫu nhiên” tạo nên phương thức thực hiện trong thực tế có tính
xác định là “niềm tin thực dụng”, và những luận điểm mà I. Kant đưa ra khi
giải thích sự khác nhau giữa hai khái niệm “thực dụng và “thực tiễn”, để trình
bày và luận giải quan niệm của mình về chủ nghĩa thực dụng. Tuy nhiên, giữa
Charles S.Peirce và I.Kant vẫn có sự phân biệt về nguyên tắc. I.Kant đưa ra
quan niệm về “niềm tin thực dụng” nhưng lại không phải là người thực dụng
chủ nghĩa. I.Kant hạn chế tri thức nhân loại ở phạm vi hiện tượng, nhưng ông
không phủ nhận khả năng có thể nhận được tri thức có tính phổ biến và tất
yếu của nhân loại. Còn chủ nghĩa thực dụng của Charles S.Peirce thì lại coi
mọi tri thức của nhân loại đều là “niềm tin thực dụng”; rằng tri thức chẳng
qua chỉ là phương tiện để nhân loại xác định niềm tin và biến niềm tin này
thành phương thức hành động. Charles S Peirce cũng mong muốn xây dựng
một hệ thống triết học hoàn chỉnh như hệ thống triết học của I.Kant nhưng lại
không phải là hệ thống của I.Kant. Mặc dù mong muốn như vậy, song ông đã
không thực hiện được mong muốn này. Chủ nghĩa thực dụng của ông không
phải là một hệ thống triết học hoàn chỉnh, mà cũng như các nhà thực dụng
chủ nghĩa khác, trong hệ thống đó không có chỗ cho bản thể luận. Bản thân
(5) Xem: Viện Triết học. Sđd., tr. 412.
(6) Xem: Lưu Phóng Đồng. Sđd., tr. 94.
(7) Dẫn theo: Lưu Phóng Đồng. Sđd., tr. 95.