Tài liệu Đề Tài: " Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và những mâu thuẫn của nó " - Pdf 10

Luận vănKinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và
những mâu thuẫn của nó

1

LỜI MỞ ĐẦU
Năm 1986 trở về truớc nền kinh tế nước ta là nền kinh tế sản xuất nhỏ tự
cung tự cấp vận hành theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Mặt khác do
những sai lầm trong nhận thức về mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế
nước ta ngày càng tụt hậu khủng hoảng trầm trọng kéo dài, mức sống nhân dân
thấp.
Đứng trước bối cảnh đó con đường đúng đắn duy nhất để đổi mới đất nước
là đổi mới nền kinh tế. Tại đại hội VI (tháng 12/1986) của đảng ta đã đề ra
đường lối đổi mới nền kinh tế, chuyển từ nền kinh tế theo cơ chế bao cấp tràn
lan và tập trung quan liêu sang nền kinh tế thị truờng có sự quản lý của nhà nước

trình phát triển của mỗi sự vật.
Mâu thuẫn mang tính đa dạng. Mỗi sự vật, mỗi quá trình của thế giới khách
quan tồn tại những mâu thuẫn khác nhau. Mâu thuẫn trong tự nhiên khác trong
mẫu thuẫn xã hội và khác với mâu thuẫn trong tư duy.
1.2. Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập.
+ Đấu tranh giữa các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ
phủ định khác nhau giữa các mặt đó.
+ Sự thống nhất giữa các mặt đối lập trong cùng một sự vật không tách giơì sự
đấu tranh, chuyển hoá giữa chúng. Bởi vì các mặt đối lập cùng tồn tại trong một
sự vật thống nhất như một chính thể trọn vẹn nhưng không nằm yên bên nhau
mà điều chỉnh, chỉnh hoá lẫn nhau tạo thành động lực phát triển của bản thân sự
vật
+ Sự đấu tranh của các mặt đối lập được chia làm nhiều giai đoạn. Khi mới xuất
hiện, mâu thuẫn thường được biểu hiện ở sự khác nhau của hai mặt. Chỉ có hai
mặt khác nhau có liên hệ hữu cơ với nhau và phát triển trái ngược nhau thì mới
hình thành bước đầu của mâu thuẫn. Trong quá trình phát triển của mâu thuẫn sự
khác nhau đó biến thành sự đối lập và dẫn đến xung đột gay gắt. Đến một giai
đoạn nào đó thì hai mặt đối lập sẽ chuyển hoá lẫn nhau, mâu thuẫn được giải

3

quyết. Kết quả là sự thống nhất của hai mặt đối lập cũ bị phá huỷ, sự thống nhất
của hai mặt đối lập mới dược hình thành cùng với mâu thuẫn mới .
Ví dụ: Sự phát triển của xã hội sẽ gắn liền với sự phát triển của phương thức sản
xuất. Trong phương thức sản xuất thì lực lượng sản xuất là yếu tố động, luôn
luôn vận đông theo hướng hoàn thiện. Đến một giai đoạn nào đó thì quan hệ sản
xuất hiện tại sẽ không phù hợp với lực lượng sản xuất. Lúc đó sẽ sinh ra mâu
thuẫn giữa lực luợng sản xuất và quan hệ sản xuất, quan hệ sản xuất kìm hãm sự
phát triển của lực lượng sản xuất. Khi đó quan hệ sản xuất cũ sẽ được xoá bỏ và
thay vào đó là quan hệ sản xuất mới phù hợp . Quá trình phát triển và bài chừ

Mâu thuẫn bên trong là nhan tố quyết định sự vận độngvà phát triển của sự vật
và hiện tượng. Nó là nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận độngvà phát
triển. Mâu thuẫn bên trong không tồn tại và phát sinh tác dụng tách dời mâu
thuẫn bên ngoài. Mâu thuẫn bên ngoài có ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển
của sự vật.
2.2. Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản
+ Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật và hiện tượng, nó
quyết định quá trình phát triển của sự vật và hiện tượng từ khi được hình thành
cho đến khi kết thúc.
+ Mâu thuẫn không cơ bản chịu sự chi phối của mâu thuẫn cơ bản. Tuy không
giữ vai trò quyết định bản chất của sự vật và hiện tượng nhưng nó có vai trò
quyết định đối với sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng.
2.3. Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu
+ Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi bật lên hàng đầu ở giai đoạn nhất định
của quá trình phát triển của sự vật.
+ mâu thuẫn thứ yếu là mâu thuẫn không đóng vai trò quyết định.
2.4 Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng
+ Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những khuynh hướng , những lực
lượng xã hội mà lợi ích căn bản trái ngược nhau , không thể điều hoà được

5

+ Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những khuynh hướng những
lực lượng xã hội mà lợi ích căn bản nhất trí với nhau
3. Một số cặp phạm trù :
3.2. Nguyên nhân và kết quả
+ Nguyên nhân là sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa
các sự vật với nhau gây ra sự bioến đổi nhất định
+ Kết quả là những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau của các mặt trong
một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau

Sau 10 năm thực hiện cải cách kinh tế kinh tế việt nam đã có những bước
chuyển biến đáng khích lệ như :
a. Nhịp độ phát triển kinh tế khá nhanh và ổn định
+ GDP tăng hàng năm 3,9% (Trong thời kỳ 1986-1990) và 8,2% (Thời kỳ 1991-
1995)
+ Nông nghiệp tăng 4,5%; công nghiệp tăng 13,5%; kim nghạch xuất khẩu tăng
20% trong thời kỳ 1991-1995
+ Sản lượng lương thực tăng nhanh 21,5 triệu tấn (1990) lên 27,5 triệu tấn
(1995)
b. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tiến bộ
+ Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng cơ bản trong GDP đã tăng từ 22,6% (1990)
lên 30,3% (1995)
+ Tỷ trong dịch vụ từ 38,6% lên 42,5%
+ Tỷ trong nông nghiệp giảm từ 40,6% xuống 36,2%
+ Tỷ trọng kinh tế quốc doạnh trong GDP từ 29,4% lên 40,4%
3. Kiềm chế và đẩy lùi được nạn siêu lạm phát.
Trong những năm 1986-1988 nạn lạm phát đã giảm từ 3 con số xuống còn 2
con số (Riêng năm 1993 xuống 1 con số), trong khi tăng trưởng kinh tế khá cao.
4. Đời sống nhân dân
Một bộ phận dân có mức sống khá, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 55% (1989)
xuống còn 19,9% (1993).

7

Những thành tựu kinh tế- xã hội đã đạt được là kết quả của đường lối đổi
mới do đảng khởi xướng và lãnh đạo. Đồng thời, đó cũng là sự phù hợp giữa ý
đảng và lòng dân.

8



Nước ta có lực lượng lao động dồi dào (gần 40 triệu lao động), cần cù,
thông minh song số người chưa có việc làm còn nhiều, gây lãng phí sức lao
động.
Trình độ lao động của ta hiện nay chưa cao. Lao động chủ yếu vẫn là lao
động chân tay.
Do đố, việc khai thác, tận dụng tiềm năng của các thành phần kinh tế là một
trong những giải pháp quan trọng để tạo thêm công ăn việc làm cho người lao
động. Nó cũng phù hợp với yêu cầu khách quan trong giai đoạn hiện nay.
II. Vị trí và vai trò của các thành phần kinh tế
1. Thành phần kinh tế nhà nước
Ở nước ta, nó ra đời do nhà nước đầu tư xây dựng và dokết quả của công cuộc
cải tạo hoà bình, công thương nghiệp tư bản… Thành phần kinh tế này lấy sở
hữu nhà nước làm nền tảng. Nó bao gồm: Các nguồn lực vật chất (nguồn tài
nguyên thiên nhiên, ngân hàng, bảo hiểm, dự trữ quốc gia, tài chính, tín dụng,
kho bạc… và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh do nhà nước làm chủ.
Do thành phần kinh tế nhà nước nắm các cơ sở quan trọng nhất của nền
kinh tế, là chỗ dựa kinh tế của nhà nước, định hướng nền kinh tế đi theo con
đường chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, kinh tế nhà nướcgiữ một vai trò rất quan trọng
trong các thành phần kinh tế của các nhà nước ta hiện nay.
2. Thành phần kinh tế tập thể
Thành phần kinh tế này dựa trên sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất. Những
người lao động góp vốn vào làm ăn tập thể dưới các hình thức là các hợp tác xã.
Sự hình thành của kinh tế tập thể phù hợp với yêu cầu khách quan của xã hội
hiện nay là hợp tác kinh doanh cùng có lợi. Đây là sự phát triển tất yếu của xã
hội. Nhưng nó lại là sự xuất hiện ngẫu nhiên của một cá nhân nào đó đứng ra
thành lập hợp tác xã. Cá nhân này sẽ đi kêu gọi, vận động mọi người tham gia
vào hợp tác xã của mình dưới hình thức đóng góp về vốn và sức lực. Lợi ích của
các xã viên sẽ được hưởng theo cổ phần đóng góp và sức lao động bỏ ra. Sự



11

Thành phần kinh tế này dựa trên vốn đầu tư 100% vốn của nước ngoài vào
nước ta thông qua đầu tư trực tiếp. Đối với nước ta thành phần kinh tế này có vai
trò quan trọng trong thành phần kinh tế quá độ vì nó chiếm trên 10% GDP, hơn
20% thu nhập ngân sách và khoảng 30% kim nghạch xuất nhập khẩu.

III. Sự thống nhất và mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế
1. Tính thống nhất
Mỗi thành phần kinh tế là một bộ phận cấu thành nền kinh tế quốc dân thống
nhất. Sự phát triển của mỗi thành phần đều góp phần vào sự phát triển của nền
kinh tế quốc dân. Mỗi thành phần kinh tế dựa trên một hình thức sở hữu nhất
định về tư liệu sản xuất. Các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất tuy có độc lập
tương đối và có bản chất riêng nhưng hoạt động kinh doanh trong môi trường
chung, cùng chịu tác động của các nhân tố, các quy luật thị trường. Đồng thời
các thành phần kinh tế tác động với nhau cả tích cực và tiêu cực. Sự tồn tại nền
kinh tế nhiều thành phần dẫn đến sự tồn tại của các giai cấp hoặc các tầng lớp
khác nhau. Tổng hợp toàn bộ các giai cấp hoặc tầng lớp xã hội đó tạo thành cơ
cấu xẫ hội- giai cấp.
2. Sự mâu thuẫn
Mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế làm cho cạnh tranh trở thành tất yếu.
Cạnh tranh là động lực quan trọng để cải tiến kỹ thuật, phát triển lực lượng sản
xuất. Tuy nhiên, mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế, đặc biệt là mâu thuẫn
giữa một bên là kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể và kinh tế tư bản nhà nước với
một bên là kinh tế tự phát tư sản và tiểu tư sản của kinh tế tư bản tư nhân và kinh
tế cá thể là không thể điều hoà.
Tóm lại, trong nền kinh tế tồn tại nhiều thành phần, sự thống nhất và mâu
thuẫn giữa chúng là khách quan. Sự thống nhất và mâu thuẫn làm cho các thành
phần kinh tế vừa hợp tác, vừa cạnh tranh. Trong quá trình cạnh tranh và hợp tác,

làm cho con người ta tha hoá, biến con người thành nô lệ của đồng tiền, kẻ đạo
đức giả chỉ biết tôn trọng sức mạnh và lợi ích cá nhân, sẵn sàng trà đạp lên phẩm
chất, văn hoá, đạo đức, luân lý…

13

Ví dụ như: tệ nạn thương mại hoá trường học, xem nhẹ truyền thống tôn sư
trọng đạo, tệ nạn ma tuý, cờ bạc, mại dâm, hối lộ, tham nhũng…
Kinh tế thị trường là mục tiêu xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, là một
mâu thuẫn biện chứng trong thực tiễn nước ta hiện nay. Đây chính là hai mặt của
mâu thuẫn xã hội. Giữa kinh tế thị trường và quá trình xây dựng con người vừa
có sự thống nhất, vừa có sự đấu tranh kinh tế thị trường vừa tạo ra điều kiện để
xây dựng, phát huy những nguồn lực con người, vừa tạo ra những độc tố nguy
hại cho con người. Việc giải quyết những mâu thuẫn trên đây là việc làm không
hề đơn giản. Đối với nước ta mâu thuẫn giữa kinh tế thị trường và quá trình xây
dựng con người được giải quyết bằng vai trò lãnh đạo của đảng, bằng sự quản lý
của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
V. Giải pháp khắc phục khó khăn trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị
trường
Nền kinh tế nước ta trong giai đoạn hiện nay có 3 loại hình sở hữu: sở hữu
toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân. Các loại hình sở hữu này đã hình thành
nên các thành phần kinh tế. Để các loại hình kinh tế này hoạt động theo định
hướng xã hội chủ nghĩa thì đảng và nhà nước ta đã đưa ra một số giải pháp sau
đối với các thành phần kinh tế.
1. Thành phần kinh tế nhà nước:
+ Phát huy vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để nhà
nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế
+ Các doanh nghiệp nhà nước giữ vững những vị trí then chốt, phải đi đầu trong
việc ứng dụng tién bộ khoa học và công nghệ, nêu gương về năng suất, chất
lượng, hiệu quả kinh tế xã hội và chấp hành pháp luật. Phải hoàn thành việc

nước và kinh tế tư bản tư nhân trong và ngoài nước.
+ Tôn trọng lợi ích thiết thực cho các bên đầu tư kinh doanh
6. Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài:
+ Thành phần này bao gồm phần vốn đầu tư của nước ngoài vào các cơ sở sản
xuất kinh doanh ở nước ta.

15

+ Tạo điều kiện phát triển thuận lợi, tập chung hướng vào sản xuất hàng xuất
khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện
đại, tạo thêm nhiều việc làm.
+ Cải thiện môi trường kinh tế và pháp lý để thu hút mạnh vốn đầu tư nước
ngoài
+ Phát triển các hình thức tổ chức kinh doanh đan xen, hỗn hợp nhiều hình thức
sở hữu, giữa các thành phần kinh tế, người trong nước và nước ngoài
+ Phát triển hình thức tổ chức kinh tế cổ phần nhằm huy động và sử dựng rộng
rãi vốn đầu tư xã hội
+ Phát triển các loại hình trang trại với quy mô phù hợp trên từng địa bàn cụ thể
Với những biện pháp cải tiến như trên thì đảng và nhà nước ta đã đưa ra một số
chỉ tiêu kinh tế từ nay đến năm 2005 là:
- Tổng GDP năm 2005 tăng gấp 2 lần năm 1995, với tốc độ tăng trưởng GDP
bình quân hàng năm là 7,5%; trong đó nông, lâm, ngư nghiệp tăng4,3%;
công nghiệp và xây dựng tăng 10,8%; dịch vụ tăng 7,5%
- Giá trị sản xuất tăng hàng năm: nông, lâm, ngư nghiệp là 4,8%; công nghiệp
13%; dịch vụ 7,5%
- Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 16% năm.
+ Đến 2005 cơ cấu các nghành trong GDP là: nông, lâm, ngư nghiệp 20-21%,
công nghiệp và xây dựng 38-39%, dịch vụ 41-42%, cơ cấu lao động tương ứng
là: 56-57%; 20-21%; 23-24%
B. THƯƠNG NGHIỆP QUỐC DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN NỀN KINH

thông trong phạm vi cả nước, mức chênh lệch giá giữa các vùng trở nên không
đáng kể. Trên thị trường có nhiều chủ thể buôn bán khác nhau, tạo ra sự cạnh
tranh giữa những người cung ứng hàng hoá ngày càng phong phú, thị trường
được đa dạng hoá. Các nhu cầu của người tiêu dùng được thảo mãn ngày càng
nhiều hơn và thái độ phục vụ rất tận tình. Việc tiêu thụ hàng hoá là nguồn sống
của nhà thương nghiệp, nên thương nghiệp tư nhân cạnh tranh với thương
nghiệp nhà nước và thương nghiệp tập thể. Do có sự cạnh tranh giữa những
người bán hàng nên khách hàng lên ngôi và thực sự trở thành “thượng đế”.

17

Tuy nhiên, bên cạnh sự đa dạng, phong phú và phục vụ tận tình của người
bán hàng, thì ta còn thấy những mặt tiêu cực như hiện tượng tranh mua, tranh
bán, làm hàng giả, tiêu thụ hàng lậu, hàng trốn thuế. Thực chất mấy năm qua thị
trường Việt Nam đã bị hàng lậu, hàng giả, hàng trốn thuế o ép từ nhiều phía.
Người tiêu dùng thì được lựa chọn nhiều chủng loại hàng hoá chất lượng tốt
nhưng người sản xuất thì bị hàng ngoại chen lấn rất mạnh và nhiều doanh
nghiệp bị phá sản vì sự cạnh tranh của hàng ngoại. Lĩnh vực xuất nhập khẩu
cũng có nhiều khó khăn do kỷ luật xuất khẩu không được nghiêm minh. Trong
khi thị trường Việt Nam tràn ngập nhiều loại hàng xa xỉ, cao cấp, nhiều loại
hàng độc hại như thuốc lá, rượu…thì một số hàng thiết yếu như thuốc men, quần
áo, sách vở, hàng cho đồng bào miền núi, hàng phục vụ cho những nhu cầu tối
thiểu của nhân dân lại rất thiếu. Sở dĩ có tình hình đó là vì các doanh nghiệp
thương mại hiện nay chủ yếu chạy theo mục tiêu lợi nhuận nên họ tập trung
phục vụ ở nơi đông dân cư và những người giàu có, có sức mua và nhu cầu cao,
còn những nơi ít dân, thưa dân, dân nghèo, không có tiền như nông thôn, miền
núi, vùng sâu, vùng xa thì ngay cả những nhu cầu thiết yếu cũng không được
đáp ứng do giá vận tải đẩy lên quá cao.
Chính vì những nguyên nhân trên nên việc hình thành các doanh nghiệp nhà
nước là một yếu tố cần thiết. Việc ra đời các doanh nghiệp nhà nước sẽ cung cấp

Doanh nghiệp tư
nhân
Doanh nghiệp nhà nước

Bộ máy hành chính gián tiếpChi phí hành chính gián tiếp
5 người

3,8%
38 người

24%

Số liệu điều tra trên đây ở tỉnh Vĩnh Phúc đối với một doanh nghiệp nhà
nước có vốn 2 tỷ đồng và một doanh nghiệp tư nhân có vốn tương tự và hoạt
động kinh doanh nghành nghề giống nhau.
Đa phần các giám đốc của các doang nghiệp thương mại nhà nước vẫn là
hãnh tiến , nguyên vị tư cơ chế bao cấp chuyển sang, chưa có sự sàng lọc tuyển
chọn khách quan theo tiêu chuẩn của người giám đốc trong cơ chế thị trường.
Bên cạnh đó, việc lên chức, lên lương của các nhân viên trong các doanh nghiệp
nhà nước trong thời gian qua còn nhiều hạn chế. Việc lên chức thì theo kiểu “tre
già măng mọc”, người đương chức có nghỉ hưu hoặc vì một lý do nào đó không
còn công tác nữa thì người sau mới được lên. Việc lên chức lại diễn ra theo hình
thức bổ nhiệm, do đó đã dẫn đến việc trì trệ trong phấn đấu, dẫn đến tiêu cực
trong quản lý. Người đương chức không cần phấn đấu, chỉ cần giữ vững được
mối quan hệ với lãnh đạo cấp trên là giữ được vị trí của mình. Chính vì lý do đó
mà đội ngũ cán bộ thì trì trệ, không chịu đổi mới, công nhân viên thì không cố
gắng phấn đấu trong công việc. Trong công việc thì không có sự ganh đua để thể

nhiều mặt, mất tính độc lập.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn
ra bình thường và đảm bảo tính độc lập tự chủ của doanh nghiệp, việc kiểm tra,
giám sát của các cơ quan thi hành pháp luật của nha nước là cần thiết song nên
có quy định chức năng cụ thể của từng nghành, tránh chồng chéo làm mất quá
nhiều thời gian đón tiếp và giải trình đối với doanh nghiệp.
4. Cổ phần hoá doanh nghiệp

21

Việc triển khai thực hiện cổ phần hoá , chuyển đổi sở hữu đối với doanh
nghiệp thương mại nhà nước còn hết sức chậm chạp, không dấy lên thành được
phong trào sôi động trong quần chúng.
Doanh nghiệp thương mại nhà nước là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lưu
thông hàng hoá bằng vốn của nhà nước. Cái quan trọng của doanh nghiệp
thương mại nhà nước là ở chỗ hàng hoá và dịch vụ của doanh nghiệp phải là
những mặt hàng thiết yếu , nếu thị trường hẫng hụt sẽ ảnh hưởng nhanh chóng
đến toàn bọ hoạt động kinh tế xã hội , chính trị quốc phòng và an ninh . Tuy
nhiên những mặt hàng đó nhà nước cũng không độc quyền mà vẫn khuyến khích
các thành phần kinh tế khác nhau tham gia , như vậy về cơ bản các doanh nghiệp
thương mại nhà nước có thể thực hiện đa sở hữu , cho nên trong điều kiện kinh
tế thị trường việc thực hiện cổ phần hoá đa dạng hoá sở hữu doanh nghiệp
thương mại nhà nước là điều tất yếu . Tuy nhiên trong những năm vừa qua việc
thực hiện cổ phần hoá đa dạng hoá kinh doanh còn chậm chạp và trì trệ vì một
số nguyên nhân :
- Vẫn có sự ngập ngừng chậm trễ trong việc sửa đổi chính sách chế độ , còn kỳ
thị phân biệt đối xử với kinh tế ngoài quốc doanh . Những chính sách luật lệ
mới ban hành còn mang dấu ấn của cơ chế cũ thiếu nhất quán .
- Các giám đốc lo rằng khi chuyển sang doanh nghiệp ngoài quốc doanh , họ
sẽ mất các ưu đãi .

số nghành hàng không cần thiết.
+ Nhanh chóng thực hiện cổ phần hoá một số doanh nghiệp thương mại nhà
nước.
Không để cho các giám đốc tự nguyện thực hiện cổ phần hoá mà nhà nước lựa
chọn, khi thấy cần ra quyết định bắt buộc
Tiếp tục nghiên cứu cách xác định nhanh giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá. Đây
là khâu lâu nay phức tạp, khó khăn, mất nhiều thời gian nhất.
Đơn giản hoá quy trình cổ phần hoá phải trải qua bốn bước, mỗi bước phải làm
chục công việc với thời gian kéo dài làm cản trở tiến bộ cổ phần hoá.
Thực hiện phân cấp quyết định cổ phần hoá cho từng địa phương và nghành trên
cơ sở chính sách của nhà nước.

23

3. Tăng cường quản lý nhà nước đối với hệ thống doanh nghiệp thương mại
Sửa đổi quy định đăng ký thành lập loại hình doanh nghiệp thương
mại ngoài quốc doanh.
Bổ sung quy chế cho thuế đất, mặt bằng kinh doanh
Tổ chức công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh trên cơ sở kết hợp nguồn kinh phí của doanh nghiệp có người học và
hỗ trợ của nhà nước. Tập trung chống buôn lậu và gian lận thương mại.
Đối với một số nghành hàng quy mô lớn, liên quan trực tiếp đến xuất nhập
khẩu, cần tập trung chỉ đạo để đủ sức mạnh cạnh tranh.
Đồng thời nhà nước tăng cường đầu tư mở rộng hệ thống kết cấu hạ tầng,
chế biến sản phẩm, hệ thống kho tàng, tạo thuận lợi cho giao lưu hàng hoá.
Thay đổi cơ bản cách thanh tra, kiểm soát của nhà nước.
Với những biện pháp đã nêu ở trên, chúng ta có thể hy vọng rằng trong thời
gian tới các doanh nghiệp thương mại nhà nước có thể đạt được hiệu quả như
mong muốn. Tình trạng tiêu cực trong thương mại sẽ giảm, kinh tế Việt Nam sẽ
ngày càng phát triển.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Giáo trình triết học Mác- Lênin
Đồng chủ biên: GS. TS. Nguyễn Hữu Vui
GS.TS. Nguyễn Ngọc Long
2. Giáo trình kinh tế chính trị
Đồng chủ biên: GS. TS. Chu Văn Cấp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status