Vấn đề kinh nghiệm trong chủ nghĩa thực dụng mỹ - Pdf 95

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
PHAN VĂN THÁM
VẤN ĐỀ KINH NGHIỆM
TRONG CHỦ NGHĨA THỰC DỤNG MỸ
CHUYÊN NGÀNH: TRIẾT HỌC
MÃ SỐ: 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN TIẾN DŨNG
Huế, 2011
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả
Phan Văn Thám
Trong quá trình thực hiện luận văn “Vấn đề kinh nghiệm trong chủ
nghóa thực dụng Mỹ”, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của quý thầy cô
giáo trong khoa Lý luận – Chính trò, các bạn học viên lớp Cao học Triết học
khóa 2009 – 2011 của trường đại học Khoa học Huế và các đồng nghiệp
gần xa. Tôi xin bày tỏ lòng tri ân đến tất cả.
Thầy giáo PGS. TS Nguyễn Tiến Dũng – Người đã trực tiếp, tận
tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này. Kính gửi đến thầy lời cảm ơn
sâu sắc nhất.
Xin trân trọng cảm ơn!
Học viên
Phan Văn Thám
MỤC LỤC
Trang

của tinh thần Mỹ được nẩy sinh theo tiếng gọi của thời đại Mỹ, có chung số
phận với sự phát triển của xã hội Mỹ, trở thành triết học nhân sinh của người
Mỹ” và “không thể phủ nhận ở Mỹ, triết học thực sự có tác dụng thúc đẩy to
lớn sự phát triển của nước Mỹ là chủ nghĩa thực dụng” [2, tr 69-71].
Trong giai đoạn hiện nay, khi mà xu thế toàn cầu hóa diễn ra nhanh
chóng, tình trạng thế giới phẳng đang ngày càng hiện lộ rõ nét, như là một xu
hướng phát triển tất yếu của thời đại thì việc nghiên cứu về chủ nghĩa thực
dụng mỹ nói chung và vấn đề kinh nghiệm trong chủ nghĩa thực dụng nói
riêng không chỉ dừng lại ở ý nghĩa học thuật mà còn như là tìm hiểu một nét
trong bầu trời đa sắc tộc, đa sắc diện văn hóa của người Mỹ.
Ở Việt Nam chúng ta đang tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi chúng
ta phải tập trung phát huy hết nội lực và tranh thủ những thành tựu mà nhận loại
đã đạt được trên mọi lĩnh vực kinh tế, tư tưởng, văn hóa – xã hội. Trong đó, khoa
học lý luận cũng góp phần quan trọng cho sự phát triển đất nước.
Đặc biệt, hiện nay khi mà Việt Nam đã trở thành đối tác trực tiếp của
Mỹ, thì việc nghiên cứu tư tưởng, văn hóa, xã hội của nước Mỹ nhằm tìm
hiểu sâu sắc hơn về văn hóa và con người Mỹ giúp chúng ta thuận lợi hơn
trong giao lưu, hợp tác và phát triển, vì, “biết người, biết ta” sẽ nhanh dẫn đến
thành công và đạt hiệu quả cao trong hợp tác.
Như Ăngghen đã tuyên bố: tiếp cận tư tưởng của các trường phái triết
học trên thế giới là một trong những phương cách làm gia tăng hàm lượng trí
tuệ của dân tộc cũng như thời đại. Vì vậy, học tập, nghiên cứu tư tưởng của
nhân loại là một việc làm cấp thiết đáp ứng cho nhu cầu xây dựng và phát
triển đất nước trong giai đoạn hiện nay.
3
Chủ nghĩa thực dụng có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống không chỉ ở
nước Mỹ mà còn đối với nhiều nước phương Tây. Sự ra đời của chủ nghĩa
thực dụng cũng là sự tuân theo qui luật kế thừa có chọn lọc các tư tưởng của
thế hệ đi trước. Việc nghiên cứu chủ nghĩa thực dụng và các tư tưởng được nó

lối sống Mỹ. Trong các nhà nghiên cứu thời kỳ này, người đáng nhắc đến hơn
cả là Lê Tôn Nghiêm (1970) với một số bài như: Tư tưởng về Piếc-xơ, Giêm-
xơ, Đi-Uây được đăng trên các báo Vạn hạnh, Bách khoa, Những vấn đề triết
học hiện đại, NXB Ra Khơi, Sài Gòn.
Ở ngoài miền Bắc, cho đến trước năm 1986 các nhà nghiên cứu đều tập
trung vào sự phê phán triết học phương Tây hiện đại trong đó có chủ nghĩa
thực dụng. Có một số công trình tiêu biểu như: (1960) Chống mấy khuynh
hướng triết học tư sản hiện đại, NXB ST, HN; Lữ Phương (1977) Văn hóa,
văn nghệ miền Nam dưới chế độ Mỹ Ngụy, NXB VH, HN; Phạm Văn Sỹ
(1980) Về tư tưởng và văn hóa phương Tây hiện đại, NXB Đại học và trung
cấp chuyên nghiệp, HN; Bùi Ngọc Chương (1983) Chủ nghĩa đế quốc, Sách
giáo khoa Mác – Lênin, HN; Phạm Minh Lăng (1984) Mấy trào lưu triết học
phương Tây, NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, HN; Phong Hiền
(1984) Chủ nghĩa thực dân mới kiểu Mỹ ở miền Nam Việt Nam, Thông tin lý
luận, HN…
Trong thời kỳ đổi mới, theo quan điểm đổi mới tư duy lý luận của Đảng
để đáp ứng với yêu cầu hội nhập quốc tế. Đặc biệt, trên tinh thần Nghị quyết
01 của Bộ Chính trị, giai đoạn này có các công trình liên quan trực tiếp và
gián tiếp đến chủ nghĩa thực dụng gồm có:
Nguyễn Văn Dũng (1992) Vài nét về chủ nghĩa bảo thủ ở phương Tây,
Tạp chí triết học, số 3; Lưu Phóng Đồng (1994) Triết học phương Tây hiện
5
đại (4 tập), Nxb CTQG, HN; Đỗ Huy (1994) Suy nghĩ về nghiên cứu triết học
phương Tây hiện nay, Tạp chí triết học, số 4; (1995) Vấn đề con người và
Thượng đế trong triết học phương Tây hiện đại, Tạp chí triết học, số 3; Trần
Tuấn Phong (1996) Về khái niệm “kinh nghiệm” trong hệ thống triết học của
William James, Tạp chí triết học, số 2; Đỗ Minh Hợp (1996) Vấn đề tính chủ
quan trong triết học phương Tây hiện đại, Tạp chí triết học, số 1; Nguyễn
Hào Hải (1997) Chủ nghĩa thực dụng Mỹ qua một số đại biểu của nó, Tạp chí
triết học, số 4; Đỗ Minh Hợp (1997) Triết học phương Tây hiện đại, Nxb

Tùng (2009) Những chủ đề của triết học nhân sinh Mỹ…
Ngoài các công trình nghiên cứu trong nước vừa nêu trên, gần đây các
nhà nghiên cứu, dịch giả Việt Nam đã dịch và cho xuất bản một số sách của
tác giả nước ngoài liên quan đến chủ nghĩa thực dụng gồm có: William. S.
Sahakan, Mabel. L. Sahakan (2001) Tư tưởng của các triết gia vĩ đại, Nxb
TPHCM; Samuel Hungtingon (2003) Sự va chạm của các nền văn minh, Nxb
Lao động, HN; Alanin Toruaine (2003) Phê phán tính hiện đại, Nxb Thế giới,
HN; Robert. B. Downs (2003) Những tác phẩm làm biến đổi thế giới, Nxb
Lao động, HN; Sirjulian huxley, Dr. J. Bronwski, Sir Gerald Barry, James
Fisher (2004) Tư tưởng loài người qua các thời đại, Nxb VHTT, HN;
Mortimer. J. Adler (2004) Những tư tưởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại, Nxb
VHTT, HN; Jonh. B. Chrisropher (2004) Văn minh phương Tây, Nxb VHTT,
HN; Samuel Enoch Stumpf và Donal. C. Abel (2004) Nhập môn triết học
phương Tây, Nxb Tổng hợp TPHCM…
Căn cứ vào lịch sử nghiên cứu nói trên, cho đến thời điểm này chưa
thấy một công trình khoa học nào trực tiếp bàn về vấn đề kinh nghiệm trong
chủ nghĩa thực dụng ở cấp độ luận án và luận văn. Tất nhiên, như tính qui
7
luật, các công trình đã công bố sẽ là nguồn tư liêu tham khảo quí giá cho tác
giả trong quá trình thực hiện đề tài “Vấn đề kinh nghiệm trong chủ nghĩa
thực dụng Mỹ”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ được nội dung và vai trò của vấn đề kinh nghiệm trong chủ
nghĩa thực dụng
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, luận văn có các nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ được sự hình thành chủ nghĩa thực dụng Mỹ. Chỉ rõ những nhân
tố tác động đến sự hình thành chủ nghĩa thực dụng và vấn đề kinh nghiệm.
- Những nội dung của vấn đề kinh nghiệm trong chủ nghĩa thực dụng Mỹ.

2.2. Quan niệm của chủ nghĩa thực dụng Mỹ về nội dung của kinh nghiệm
2.3. Nhận xét về vấn đề kinh nghiệm trong chủ nghĩa thực dụng Mỹ
9
Chương 1
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH
KINH NGHIỆM CỦA CHỦ NGHĨA THỰC DỤNG MỸ
1.1. Sơ lược về sự hình thành nước Mỹ và chủ nghĩa thực dụng Mỹ
Bất cứ một tư tưởng, học thuyết nào ra đời tồn tại và phát triển đều có
cội nguồn của nó, tức là cái cơ sở, là mảnh đất hiện thực để cho lý luận, học
thuyết phát triển trên đó. Điều này đã trở thành một quy luật và chủ nghĩa
thực dụng cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa khoa học của nước Mỹ chính là
mảnh đất hiện thực, tạo điều kiện cho sự ra đời của chủ nghĩa thực dụng.
Bước sang thế kỷ XV, chủ nghĩa phong kiến và giáo hội Thiên Chúa
giáo đã mất dần ảnh hưởng sau khoảng mười thế kỷ thống trị châu Âu về mọi
mặt, thay vào đó, giai cấp tư sản ngày càng tỏ rõ tầm ảnh hưởng của mình đối
với đời sống xã hội. Mặc dù lúc này chủ nghĩa tư bản chưa thật sự được xác
lập trên toàn cõi châu Âu với tư cách là một chế độ chính trị, nhưng giai cấp
tư sản đã bắt đầu bước lên vũ đài chính trị châu Âu với tư cách là lực lượng
sản xuất tiên tiến nhất của xã hội lúc bấy giờ. Sự phát triển sản xuất, đặc biệt
là sự xuất hiện các công trường thủ công “mọc lên như nấm” sau những trận
mưa rào, đã làm cho sản phẩm xã hội tăng lên rất nhanh. Như cách giải thích
của C. Mác: trong mấy chục năm ra đời và phát triển, chủ nghĩa tư bản đã tạo
ra được một khối lượng sản phẩm xã hội khổng lồ bằng sản phẩm của tất cả
các xã hội trước đó cộng lại. Rõ ràng là, việc ra đời của giai cấp tư sản đã đẩy
đà cho nền kinh tế xã hội phát triển nhanh chóng. Sự mạnh lên về kinh tế là
điều kiện tiên quyết khiến cho người châu Âu nói chung, giai cấp tư sản nói
riêng nảy sinh ý tưởng đi tìm những vùng đất mới với nhiều mục đích như:
tìm kiếm thị trường mới để tiêu thụ sản phẩm, khai thác tài nguyên khoáng
10

Mỹ dường như là một trong những thảm họa đạo đức ghê gớm nhất của mọi
thời đại”[59, tr. 4].
Bỏ lại phía sau thời kỳ lịch sử ảm đạm đó, cả thế giới thực sự biết đến
nước Mỹ với tư cách là một nước độc lập thống nhất hoàn toàn bắt đầu từ năm
1776 với sự kiện ra đời của bản “Tuyên ngôn độc lập” nổi tiếng. Jefferson
chính là tác giả của tuyệt phẩm đó, ông này còn là một nhà triết học, nhà hoạt
động chính trị lỗi lạc thuộc vào hàng bậc nhất của nước Mỹ lúc bấy giờ.
Trên bản đồ thế giới, nước Mỹ ngày càng hiện đậm nét của một cường
quốc hùng mạnh với những đặc điểm riêng có của nó.
Về vị trí địa lý: Hợp chủng quốc Hoa kỳ là một vùng đất vô cùng rộng
lớn với diện tích 7.842.000 km2, nằm ở phía bắc Châu Mỹ, giáp Ca-na-đa;
phía Nam giáp Mê-xi-cô, là quốc gia có diện tích lớn thứ tư trên thế, sau
Trung Quốc, Nga và Ca-na-đa. So với các nước này, thì nước Mỹ có nguồn
tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, đất đai cũng phì nhiêu, tươi tốt
hơn. Một điều cũng cần lưu ý nữa là, có thể nói Mỹ là một đất nước có khí
hậu tốt vào loại bậc nhất thế giới. Nên rất thuận lợi cho việc sinh sống, làm ăn
của cư dân nơi đây.
Mỹ là một quốc gia có hơn ba trăm triệu người(tính đến tháng 4 năm
2011, nước Mỹ có 311.092.000 người). Là nước đông dân thứ ba trên thế giới
lần lượt sau Trung Quốc và Ấn Độ. Trong tổng số hơn ba trăm triệu người đó
thì người da trắng có nguồn gốc từ châu Âu chiếm khoảng 83%, người da
màu khoảng 12% và khoảng 5% người gốc châu Á.
Căn cứ vào tỉ lệ của số người theo màu da vừa nêu trên đây cho ta thấy
rằng, Liên bang Hoa Kỳ là một quốc gia của nhiều dân tộc, là hệ quả của
những làn sóng di dân từ khắp nơi trên thế giới đổ về. Về nguyên nhân của
12
việc di dân ồ ạt này, trong một buổi diễn thuyết của mình Tổng thống
Kennedy khẳng định: “Do ba áp lực chính, sự khắc nghiệt của tôn giáo, áp lực
chính trị, khó khăn về kinh tế là những nguyên nhân chính của sự di dân hàng
loạt đến đất nước chúng ta”[46, tr.239].

người “chạy trốn” vì sự áp bức về chính trị, vì sự nghèo đói, tìm nơi trú ngụ
cho tự do cho tôn giáo… còn có các nhà đại tư bản, chủ yếu là các tư bản Anh
quốc, bởi trong giai đoạn hình thành nước Mỹ thì ở nước Anh công nghiệp đã
phát triển và trở thành nước mạnh nhất thế giới về kinh tế lẫn chính trị. Những
nhà tư bản giàu có này đến vùng đất mới đã lập kế sinh nhai đầu tư vốn vào
làm ăn, họ thành lập những công trường sản xuất, hầm mỏ khai khoáng, rồi
trang trại, đồn điền bạt ngàn, bao la thẳng cánh cò bay, họ bỏ tiền ra thuê nhân
công rẻ mạt, thu về lợi nhuận khổng lồ mà không mất một giọt mồ hôi.
Tại vùng đất mới, không bị ràng buộc bởi thế lực phong kiến và các lực
lượng siêu nhiên vượt lên trên con người, con người đến đây tự do lao động sản
xuất, tự do suy nghĩ và hành động tìm kiếm thành công. Đặc biệt, tạo điều kiện
thuận lợi cho giai cấp tư sản phát triển nhanh chóng chẳng bao lâu sau, chủ
nghĩa tư bản được xác lập và nhanh chóng trở thành một thế lực hùng mạnh.
Sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội ngày càng rõ rệt. Điều này, đã nảy
sinh những tư tưởng và cách nghĩ trái ngược nhau giữa ông chủ và người lao
động làm thuê. Lối sống, cách nghĩ và kể cả cách thức tổ chức đời sống xã hội
cũng khác nhau.
Trong những vùng di dân, người ta thấy xuất hiện những lối sống
được tổ chức theo những nguyên tắc chưa hề có ở châu Âu.
Những cộng đồng này đương nhiên chưa được gọi là “dân chủ” vì
ở đây cũng đã có những tầng lớp trên như nhà buôn, chủ tàu, giáo
14
sĩ, địa chủ nhưng những quan hệ đó không quá găy gắt như ở quê
cũ châu Âu. Người ta thấy ở đó tính năng động xã hội khá rõ với
việc thừa nhận giá trị cá nhân. Ở những vùng biên giới do những
điều kiện sinh hoạt khá khắc khổ, ý thức sâu sắc về bình đẳng, kể
cả bình đẳng của phụ nữ cũng đã được thừa nhận [9, tr.9].
Mỹ là một quốc gia đa sắc tộc, mỗi người di dân đến đây đều mang
trong mình truyền thống văn hóa của họ. Ở vùng đất mới, với cuộc sống mới
buộc họ phải suy nghĩ và hành động theo hoàn cảnh sống mới, nhưng họ

lấy chính quyền toàn quốc, đồng thời Mỹ rất coi trọng khoa học
kỹ thuật nên có tác dụng thúc đẩy rất lớn phát triển sản xuất và
phồn vinh kinh tế, cộng với tài nguyên phong phú, làm cho kinh
tế Mỹ tăng trưởng rất nhanh chóng [2, tr.8].
Thực tế đó đã tạo điều kiện cho chủ nghĩa tư bản phát triển thuận lợi,
chẳng bao lâu sau khi ra đời, chủ nghĩa tư bản Mỹ đã trở thành một trong
những thế lực hùng mạnh bậc nhất thế giới.
Sự hình thành một cơ cấu kinh tế xã hội thịnh vượng nhanh chóng đẻ ra
một ý thức hệ mới, mà trước hết là ý thức hệ của giai cấp tư sản được hình
thành, ra đời và phát triển hết sức mau lẹ. Trong tình hình đó, tự do cá nhân
luôn là sự lựa chọn số một, đi cùng với nó là sự thừa nhận các giá trị cá nhân,
ý thức về sự bình đẳng, quyền con người cũng được tôn trọng. Ở đây, con
người tự do sản xuất, kinh doanh, buôn bán tìm kiếm lợi nhuận, tự do theo
đuổi thành công. Những cái gì có lợi, có ích thì làm cho bằng được, ngược lại
cái gì không đưa lại lợi ích thì không làm, ngay cả những mối quan hệ xã hội
giữa người với người cũng là quan hệ trao đổi, mua bán. Rõ ràng là quan hệ
lợi ích trong xã hội được đẩy lên đỉnh điểm không còn chỗ cho những quan hệ
16
tình cảm, tình hữu nghị… tất cả đã trở thành quan hệ lợi, hại. Một học giả cho
rằng: Người Mỹ không quan hệ với nhau về mặt tư tưởng, mà chỉ quan hệ với
nhau về mặt lợi ích. Nhưng nếu có quan hệ với nhau về mặt tư tưởng đi chăng
nữa thì họ cũng phải xem tư tưởng đó có tạo ra được hiệu quả, lợi ích hay
không. Vậy là trong các quan hệ giữa cá nhân với nhau, giữa cá nhân với xã
hội, thậm chí là các quan hệ tôn giáo đều được xem là quan hệ trao đổi, mua
bán. Sự có lợi hay không có lợi, thành công hay thất bại, có ích hay không có
ích, hiệu quả hay không hiệu quả… đều trở thành nguyên tắc sống của con
người trong xã hội. Nó đã trở thành tiêu chí cho các cá nhân dựa theo đó mà
hành động sao cho có hiệu quả nhất, mang lại nhiều thành công nhất cho mình.
Bên cạnh đó, bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 không chỉ khai sinh ra
Hợp chủng quốc Hoa Kỳ mà còn có giá trị tinh thần rất lớn đối với người Mỹ.

Người Mỹ mới có tinh thần bao dung, đầu óc sáng tạo luôn hướng về
phía trước để tìm lấy một tương lai tươi sáng cho mỗi một cá nhân. Họ là
những con người mới hoàn toàn, những dấu ấn của quá khứ và truyền thống
ngày càng bị phai mờ đi để vượt qua một cuộc “lột xác” trở thành con người
mới của thời đại mới. Một tác giả khi nghiên cứu về văn minh Hoa Kỳ viết:
Làn sóng di dân vào Mỹ vừa nhiều vừa liên tục, chỉ nhất thời bị
biến loạn vào thời khủng hoảng, suy thoái kinh tế ở các nước có
di dân, hoặc trái lại, do có sự vẫy gọi của Tân Thế Giới. Hệ quả
đầu tiên là sự muôn hình, muôn vẻ của các cội nguồn sinh học và
văn hóa. Những cuộc hôn nhân của những người dân tộc khác
nhau đã góp phần rất lớn vào thành công của “Melting – food”:
Người A-ri-ăng, Do thái, da đen, da vàng trộn lẫn với nhau, dù
rằng cho tới gần đây những cuộc hôn nhân ấy hãy còn hiếm. Con
18
cái những cặp vợ chống đó tiếp nhận hai dấu ấn văn hóa của bố
và mẹ, cộng với dấu ấn của môi trường xã hội, nhất là trường
học. Tiếng Anh nhanh chóng trở thành sợi dây liên kết bền vững.
Sự pha trộn bẩm sinh ấy hẳn là nguồn gốc của tinh thần bao
dung, trí óc cởi mở, yêu thích những tình thế quá độ. Cũng có thể
tìm thấy ở đó nguyên nhân sự ít quan tâm đến quá khứ, hướng
nhiều vào tương lai [60, tr.33].
Như vậy, con người ở đây là một sản phẩm hoàn hảo của sự kết hợp
giữa các nền văn hóa của những người dân di cư trộn lẫn vào nhau cùng với
nền văn hóa của xã hội mới để tạo nên một cá tính độc đáo. Trong một con
người có sự đan xen giữa truyền thống và hiện đại, sự lai căng văn hóa nhiều
vùng miền. Người Mỹ ít quan tâm đến gốc gác của mình, ít hoài niệm về quá
khứ, mà trên hết vẫn là hiện tại, là tương lai. Con người thi nhau lao về phía
trước để tìm kiếm thành công cho mình, giá trị của một con người được đo
bằng giá trị vật chất, giá trị tiền mặt và những thành công anh ta đạt được.
Với người Mỹ, bất cứa hành động nào, ý tưởng nào đem đến hiệu quả có ích

“chủ nghĩa công cụ”, “chủ nghĩa nhân đạo”… Sự đa dạng về tên gọi đến mức
“A.O. Lovejov đã tìm ra 13 thứ chủ nghĩa thực dụng và S.C.Schiller (1864 –
1937) thì cho rằng có bao nhiêu người thích “thực dụng” thì có bấy nhiêu chủ
nghĩa thực dụng”[10, tr.78-79]. Mặc dù có nhiều tên gọi khác nhau, nhưng có
một điều chắc chắn rằng, sự trình bày của chủ nghĩa thực dụng về mặt nội
dung chỉ là một và có tính thống nhất từ đầu đến cuối. Họ chủ trương triết học
phải là triết học về đời sống, lấy niềm tin làm điểm xuất phát, lấy hành động
làm phương tiện chủ yếu và mục đích cao nhất là hiệu quả đạt được. Chủ
nghĩa thực dụng luôn nhấn mạnh đến tính hiệu quả, bất kỳ một sự vật, một
20
khái niệm, một hành động nào có thể mang đến hiệu quả tốt nhất thì đều được
chấp nhận và xem nó là đúng, là sự thực. Về vấn đề này James viết:
Khi chúng ta suy nghĩ về sự vật, nếu muốn hiểu nó hoàn toàn rõ
ràng, chỉ cần suy nghĩ nó có thể hàm chứa hiệu quả thực tế gì,
tức chúng ta sẽ có được cảm giác gì từ sự vật ấy, chúng ta cần
phải chuẩn bị có những phản ứng gì. Chúng ta có đầy đủ khái
niệm về những hiệu quả bất kỳ trước mắt hay xa vời, bàn về ý
nghĩa tích cực của khái niệm, tức là toàn bộ khái niệm chúng ta
có về sự vật ấy [2, tr.83].
Với hai tiểu luận có tên gọi là Xác định niềm tin và Làm thế nào để cho
tư tưởng của chúng ta được sáng tỏ. Peirce được xem là người sáng lập ra chủ
nghĩa thực dụng. Đây là hai bài viết trình bày những tư tưởng cơ bản đầu tiên
của Peirce về chủ nghĩa thực dụng. Mặc dù chưa có tính hệ thống, nhưng
những tư tưởng của Peirce đã khắc họa được một bức tranh toàn cảnh về chủ
nghĩa thực dụng mà sau này các hậu bối của ông phát triển lý thuyết về chủ
nghĩa thực dụng trên nền tảng đó.
Bằng tác phẩm Chủ nghĩa thực dụng, James được xem là người phát
triển tư tưởng triết học thực dụng của Peirce trở thành một hệ thống hoàn
chỉnh. Ông cũng là người đầu tiên đưa ra khái niệm “chủ nghĩa thực dụng”,
khái niệm này được nêu ra trong một lần phát biểu dưới tiêu đề Khái niệm

nghiệm. Chủ nghĩa duy nghiệm là lý thuyết đề cao kinh nghiệm và đặc điểm
của nó là nhấn mạnh vai trò của trải nghiệm. Ở đây, ta có thể hiểu trải nghiệm
bao gồm tất cả các nội dung của ý thức hoặc nó có thể được giới hạn trong dự
liệu của các giác quan.

Trích đoạn Di sản tư tưởng của quá khứ Kinh nghiệm của chủ nghĩa thực dụng: Kết quả của sự đối chọn giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa phi duy lý của nước Mỹ Quan niệm của chủ nghĩa thực dụng Mỹ về nguồn gốc của kinh nghiệm Về mối quan hệ giữa kinh nghiệm và hành vi của con ngườ Nhận xét về vấn đề kinh nghiệm trong chủ nghĩa thực dụng Mỹ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status