ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN HẢI HOÀNG
VẤN ĐỀ NIỀM TIN TRONG TRIẾT HỌC
THỰC DỤNG PEIRCE Chuyên ngành: CNDVBC & CNDVLS
Mã số : 62 22 80 05 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI – 2014
Công trình được hoàn thành tại
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia Hà Nội
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. ĐỖ MINH HỢP
công nghệ, để có thể đồng hành cùng với sự phát triển của khoa học, triết học hiện
đại cần phải nghiên cứu, xem xét một cách sâu sắc và có hệ thống các nội dung
của niềm tin với tư cách không những là một trong các yếu tố tinh thần to lớn, tạo
ra động lực cho sự tiến bộ của xã hội, mà còn đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi với tư cách
là một vấn đề, một đối tượng mà triết học có nhiệm vụ phải luận chứng.
Hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ mới - thời kỳ tiếp tục đổi
mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện mục tiêu dân giầu,
nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh với cả thời cơ và thuận lợi
mới, để vượt qua được thách thức, nắm bắt được thời cơ, phát huy được sức
mạnh của đại đoàn kết của cả cộng đồng dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi sự
nghiệp đổi mới, chúng ta cần phải không ngừng xây dựng và củng cố niềm tin
cho nhân dân vào mục tiêu cách mạng, vào lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, vào
sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Vì vậy, việc tiến hành nghiên cứu về niềm tin
ở nước ta hiện nay có tầm quan trọng và có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
Xét trên phương diện văn hóa tinh thần nói chung và triết học nói riêng,
nghiên cứu triết học thực dụng và niềm tin thực dụng như một nội dung cơ bản
của triết học thực dụng có một ý nghĩa đặc biệt, vì triết học thực dụng đã và
đang cấu thành “hạt nhân”, “bản sắc” của văn hóa Mỹ, là một trong những
2
nhân tố tạo ra sức mạnh của dân tộc Mỹ. Chủ nghĩa thực dụng là giá trị nền
tảng, sản phẩm tư tưởng độc đáo của người Mỹ, là nhân sinh quan và thế giới
quan của người Mỹ, là biểu tượng tinh thần của văn hóa Mỹ. C.S.Peirce là
người khởi đầu triết học thực dụng. Luận chứng, bảo vệ niềm tin tôn giáo dựa
trên những thành tựu khoa học là vấn đề xuất phát và trung tâm của triết học
thực dụng Peirce. Ông biến khái niệm “niềm tin thực dụng” thành khái niệm
trung tâm của triết học thực dụng. Với Peirce, niềm tin là nguồn gốc, nguyên
tắc chỉ đạo cả nguyện vọng, cả hành động của con người, “niềm tin thực
dụng” có giá trị to lớn trong cuộc sống con người. Vấn đề về nội dung của
Phạm vi nghiên cứu của luận án: Dưới góc độ triết học, luận án này cố
gắng hệ thống, làm rõ những nội dung cơ bản về lý luận niềm tin theo quan
niệm của Peirce được thể hiện trong triết học thực dụng của ông thông qua hai
tác phẩm chính là Củng cố niềm tin, Làm thế nào để tư tưởng chúng ta được
rõ ràng và một số công trình nghiên cứu có liên quan tới khái niệm này.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận án được thực hiện trên cở sở lý luận là triết học Mác -
Lênin, cụ thể là những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử.
Phương pháp nghiên cứu: Các phương pháp mà luận án sử dụng bao
gồm, phân tích, tổng hợp, lôgíc, lịch sử, so sánh, quy nạp, diễn dịch, hệ thống
hóa và phương pháp văn bản học.
5. Điểm mới của luận án: Luận án góp phần làm rõ quan niệm về niềm tin
trong triết học thực dụng của C.S.Peirce, qua đó bước đầu góp phần làm rõ
những giá trị và hạn chế trong quan niệm về niềm tin của triết học thực dụng
Peirce, từ đó từng bước góp phần nhận thức đúng về triết học thực dụng.
4
6. Ý nghĩa của luận án: Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo
cho việc nghiên cứu, giảng dạy triết học thực dụng, tạo tiền đề để lĩnh hội văn
hóa Mỹ nói chung, triết học Mỹ nói riêng trên tinh thần gạn lọc tinh hoa của
chúng một cách phù hợp với chiến lược hội nhập của Đảng và Nhà nước ta.
7. Kết cấu của luận án: Phù hợp với mục đích và với việc thực hiện các
nhiệm vụ đã nêu trên, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình
khoa học đã công bố của tác giả liên quan đến đề tài luận án và danh mục tài
liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương, 12 tiết.
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI “VẤN ĐỀ
NIỀM TIN TRONG TRIẾT HỌC THỰC DỤNG CỦA C.S.PEIRCE"
và ảnh hưởng của nó đến Việt Nam hiện nay, Khoa Triết học, Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh; Phạm Minh Lăng (2001), Những chủ đề cơ bản của
triết học phương Tây, NXB VHTT, HN; Bùi Đăng Duy - Nguyễn Tiến Dũng
(2003), Lược khảo triết học phương Tây hiện đại, NXB Chính trị Quốc gia;
(2005) Lịch sử triết học phương Tây hiện đại, NXB Tổng hợp TPHCM;
Trường Đại học Khoa học học xã hội và Nhân văn Hà Nội - Khoa triết học
(2007), Những vấn đề triết học phương Tây thế kỷ XX, NXB Đại học Quốc gia
Hà Nội; Mai Sơn (2007), 101 triết gia, NXB Tri thức; Phan Quang Định
(2008), Toàn cảnh triết học Âu Mỹ, NXB Văn học; Đỗ Minh Hợp, Nguyễn
Thanh, Nguyễn Anh Tuấn (2008), Đại cương triết học phương Tây hiện đại
(nửa sau thế kỷ XIX - nửa đầu thế kỷ XX), NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh.
Ở cấp độ luận văn, luận án, đã có các công trình nghiên cứu liên quan
đến chủ nghĩa thực dụng như sau: Nguyễn Tiến Dũng (2002) Chủ nghĩa thực
dụng Mỹ và sự biểu hiện ở Thừa Thiên Huế; Nguyễn Ngọc Ba (2003) Ảnh
hưởng của chủ nghĩa thực dụng đến nhân cách người cán bộ hậu cần quân
đội nhân dân Việt Nam hiện nay; Trần Hải Yến (2003) Chủ nghĩa thực dụng
6
Mỹ và sự biểu hiện của nó ở Việt Nam; Lê Thị Hương (2004) Chủ nghĩa thực
dụng Mỹ và cuộc đấu tranh chống lối sống thực dụng ở nước ta hiện nay;
Trần Thị Hoa (2006) Chủ nghĩa thực dụng của Jonh Dewey; Trịnh Sơn Hoan
(2007) Triết học William James; Lê Thị Bình (2009) Triết lý giáo dục của
Jonh Dewey trong tác phẩm “Dân chủ và giáo dục”; Phan Thị Thùy Dương
(2009), Quan niệm của Wiliam James về chân lý; Trần Thị Nhàn (2011), Triết
học thực dụng Mỹ; Phan Văn Thám (2011), Vấn đề kinh nghiệm trong chủ
nghĩa thực dụng Mỹ; Nguyễn Văn Thỏa (2011), Vấn đề chân lý trong triết học
thực dụng Mỹ. Dưới góc độ nghiên cứu khoa học đã có: Công trình dự thi
giải thưởng “Sinh viên nghiên cứu khoa học” (2007) Ảnh hưởng của chủ
nghĩa thực dụng đến lối sống sinh viên Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí
tác phẩm vĩ đại, NXB VHTT, HN; S.E.Stumpf và D.C.Abel (2004) Nhập
môn triết học phương Tây, NXB Tổng hợp TPHCM; Lưu Phóng Đồng
(2004), Triết học phương Tây hiện đại, NXB Chính trị Quốc gia;
S.E.Stumpf và D.C.Abel (2005), Nhập môn triết học phương Tây, NXB
Tổng hợp TP HCM; D.E.Cooper (2005), Các trường phái triết học trên thế
giới, NXB Văn hóa Thông tin; T.Honderich (2006) Hành trình cùng triết
học, NXB Văn hóa Thông tin; S.E.Stumpf (2007); Lịch sử triết học và các
luận đề, NXB Lao động; S.Brown, D.Collinson, R.Wilkinson (2010), 100
triết gia tiêu biểu thế kỷ XX, NXB Lao động; R.Bodei (2011), Triết học thế
kỷ XX, NXB Thời đại.
1.3. Những tác phẩm nghiên cứu về quan niệm niềm tin trong triết học
thực dụng của Peirce
Nghiên cứu về niềm tin nói chung, chúng ta có thể kể đến một số tác
phẩm như:: V.M.Bôguxlapsxki, Trí thức và niềm tin tôn giáo; Nguyễn
Trọng Chuẩn (2000), Lòng tin của dân - thước đo uy tín và sức mạnh của
Đảng, Tạp chí Triết học, (1); Trịnh Đình Bảy (2002), Niềm tin với tư cách
8
là một khái niệm triết học, Tạp chí Triết học (2), (2003), Niềm tin và xây
dựng niềm tin khoa học, NXB Chính trị Quốc gia .
Như vậy, theo lịch sử nghiên cứu nói trên, trong những công trình nghiên
cứu của các nhà triết học và khoa học xã hội nhân văn về chủ nghĩa thực dụng
đã có nhiều định nghĩa khác nhau, tiếp cận từ các góc độ khác nhau; tuy vậy,
về cơ bản có thể xếp các ý kiến đó theo một số các nội dung sau:
Thứ nhất, cho rằng triết học thực dụng là một biến thể của triết học duy
tâm chủ quan, được hình thành và phổ biến khá rộng rãi ở Mỹ, phản ánh lập
trường cũng như lợi ích của giai cấp Tư sản, là hệ thống quan điểm tuyệt đối
hóa lợi ích trước mắt, cho mình, không quan tâm đến những mặt khác. Thiết
nghĩ, những quan điểm như vậy về chủ nghĩa thực dụng cần được tranh luận
2.2. Mấy nét về cuộc đời và sự nghiệp của Charles Sanders Peirce
Charles Sanders Peirce (1839 - 1914) là nhà triết học, lôgíc học, toán học và
tự nhiên học. Nhưng trên hết, ông được thừa nhận là người sáng lập chủ nghĩa
thực dụng Mỹ. C.S.Peirce sinh ra và lớn lên ở bang Massachusetts, nước Mỹ,
trong một gia đình trí thức, cha ông là một giáo sư toán học có tên tuổi ở Đại học
Harvard. Peirce đã có được nhiều thành tựu xuất sắc không chỉ trên lĩnh vực triết
học, lôgíc học, tôn giáo học, mà cả trên các lĩnh vực khoa học tự nhiên, như toán
học, vật lý học, hóa học, trắc địa học và lịch sử khoa học. Ông còn có những
cống hiến nhất định trong lĩnh vực tâm lý học, thần giao cách cảm, tội phạm học,
Ai Cập học, lịch sử cổ đại và cả về Hoàng đế Napoleon. Ông mất năm 1914
trong cảnh cô đơn bởi căn bệnh ung thư. Sau khi C.S. Peirce qua đời, đầu những
năm 20 của thế kỷ XX, di sản lý luận của ông, bao gồm các bản thảo và bản
nháp viết tay, mới lần lượt được xuất bản. Năm 1923, Tuyển tập triết học của
ông được xuất bản. Tập thứ nhất của tuyển tập này có tên gọi Cơ hội, tình yêu và
lôgíc. Từ năm 1931 đến năm 1935, Đại học Harvard cho xuất bản Tập luận văn
của Peirce gồm 6 tập và vào năm 1958, cho xuất bản tiếp tập 7 và 8.
10
2.3. Tiền đề tƣ tƣởng cho sự ra đời quan niệm “niềm tin thực dụng”
của Peirce
2.3.1. Peirce giải quyết xung đột giữa khoa học với tôn giáo cuối thế kỷ XIX
Chính xung đột mang tính thời đại giữa thế giới quan khoa học và thế giới
quan tôn giáo trở thành cội nguồn của những mâu thuẫn và chiếc chìa khóa cho
phép làm sáng tỏ toàn bộ triết học Peirce và quan niệm “niềm tin thực dụng” của
ông. Đứng trước bối cảnh này, Peirce hoàn toàn không có ảo tưởng về quan hệ
đã hình thành giữa khoa học và tôn giáo. Chính mâu thuẫn này sẽ để lại dấu ấn
của mình trong toàn bộ nội dung triết học thực dụng Peirce và quan niệm “niềm
tin thực dụng” của ông được xây dựng như một thử nghiệm dung hòa nó.
2.3.2. Thái độ của Peirce đối với truyền thống triết học duy lý phương Tây
thiện và ác đối với con người, v.v., và tính kiên định bảo vệ những giáo lý ấy
một cách trái ngược với mọi hoài nghi (được đánh giá như là những “cám dỗ”).
Thứ hai, sự tin tưởng cá nhân đối với Chúa Trời như Người tạo dựng cuộc
sống của tín đồ, Người dẫn đường, giúp đỡ và cứu rỗi trong mọi trường hợp cụ
thể, Người loại bỏ mọi đau khổ và đưa ra những yêu cầu nan giải đối với hạnh
phúc của bản thân tín đồ.
Thứ ba, sự trung thành cá nhân đối với Chúa Trời mà tín đồ tự hiến dâng
cuộc đời của mình để phục sự.
Có thể phân biệt các khái niệm “niềm tin tôn giáo” và “niềm tin triết học”.
3.1.1.2. “Niềm tin tôn giáo”
“Niềm tin tôn giáo” là khái niệm được sử dụng để chỉ đặc điểm chung của
ý thức tôn giáo. Không phải bất kỳ niềm tin nào cũng là niềm tin tôn giáo.
Niềm tin tôn giáo tồn tại được là nhờ có một hiện tượng tâm lý đặc biệt trong
con người, nó xuất hiện trong tình huống tiềm tàng, khi có khả năng để hành
động thắng lợi, để có kết cục tốt đẹp của hành động ấy, có tri thức về khả năng
ấy. Nó được thể hiện là niềm tin: a) vào sự tồn tại khách quan của những thực
12
thể, những thuộc tính, những mối liên hệ, những chuyển hoá vốn là sản phẩm
của quá trình bản thể hoá; b) vào khả năng giao tiếp với những thực thể khách
quan tưởng tượng; c) vào sự diễn ra thật sự của những sự kiện thần thoại nào
đó, vào tính lặp lại của chúng, vào tính có liên hệ với chúng; d) vào tính chân
thực của những biểu tượng, quan điểm, giáo lý, văn bản, v.v. tương ứng; e)
vào các quyền uy tôn giáo - các cha đạo, các thánh, các sư, các nhà tiên tri,
những người tu hành, v.v
3.1.1.3. “Niềm tin triết học”
“Niềm tin triết học” là khái niệm không phổ biến và không chặt chẽ về mặt
nội dung, có nhiệm vụ nhấn mạnh sự đặc thù của tư duy triết học (so với tư duy
khoa học và tư duy thần học) như tư duy thực hiện và minh biện sự lựa chọn
niềm tin của Peirce gắn liền với việc nhấn mạnh tác dụng của hành động đối
với sự sinh tồn của con người. Peirce cho rằng, bất cứ ai muốn sống đều phải
có hành động nhất định, mà muốn hành động hiệu quả ắt phải có một số quy
tắc, chúng xác định trong điều kiện nhất định con người phải hành động như
thế nào mới thu được hiệu quả mong đợi. Các quy tắc hoặc thói quen hành
động ấy nếu được người ta tiếp thu, sẽ trở thành niềm tin của họ. Theo Peirce,
niềm tin có ba đặc tính là: Đầu tiên, nó là điều chúng ta nhận biết được; thứ
hai, nó xóa đi sự khó chịu do hoài nghi đem lại; và thứ ba, nó liên quan đến
bản chất thiết lập hành động thành quy tắc, hay, ngắn gọn lại là thói quen.
b) Niềm tin là mặt đối lập của hoài nghi
Dưới con mắt của Peirce, điểm xuất phát là một niềm tin, niềm tin là một sự
hiển nhiên và đi tới hoài nghi (đặt niềm tin đối lập với hoài nghi) có căn cứ trở
thành điểm quá độ sang một niềm tin mới. Niềm tin và hoài nghi luôn nằm trong
thể thống nhất và mâu thuẫn với nhau. Trong mối quan hệ giữa niềm tin và hoài
nghi, hoài nghi có vai trò là động lực để đạt tới niềm tin, không có hoài nghi thì
sẽ không thể đạt được niềm tin, niềm tin không xác định. Theo Peirce, cả hoài
14
nghi và niềm tin đều có những tác dụng tích cực nhất định lên con người, mặc
dù chúng khác nhau. Niềm tin không chỉ thúc đẩy ta hành động trong phút chốc,
mà còn đặt chúng ta vào một trạng thái quyết định hướng hành động của chúng
ta khi sự kiện nào đó xảy ra. Hoài nghi không có ảnh hưởng tích cực như vậy,
mà chỉ thúc đẩy con người tiến lên cho tới khi nó bị dẹp bỏ.
3.2. Phƣơng pháp củng cố niềm tin
3.2.1. Phương pháp kiên tâm
Thực chất của phương pháp kiên tâm là, trong mọi vấn đề, người ta đều
cần phải kiên trì ý kiến của mình, coi đối tượng niềm tin của mình là bất biến,
không dao động, đồng thời có thái độ căm ghét và miệt thị chống lại tất cả
những gì có khả năng hủy hoại ý kiến ấy.
Nguyên lý này được Peirce thể hiện thong qua lý thuyết “Về một bảng
phạm trù mới”. Peirce tách biệt ba phạm trù, hay chính xác hơn là ba nhóm
phạm trù: Phạm trù thứ nhất biểu thị chất lượng, còn xét về phương diện hình
thức thì là đơn tử; phạm trù thứ hai biểu thị sự thực tồn, xét về phương diện
hình thức là nhị tử; phạm trù thứ ba biểu thị quy luật, xét về phương diện hình
thức là bộ ba. Trong tổng thể của mình, Peirce gọi học thuyết về ba phạm trù
này là “hiện tượng học”. Ông muốn nói tới việc phân tích phương diện của
kinh nghiệm thể hiện là kết quả nhận thức cuộc sống của chúng ta. Ba thành tố
cơ bản của kinh nghiệm này được nắm bắt thông qua ba phạm trù nêu trên.
Chúng có tác động tương hỗ lẫn nhau, trong đó, loại phạm trù số ba điều tiết
loại phạm trù số một và số hai. Nhờ sự điều tiết này, nó mang lại tính liên tục,
phổ biến và quy tắc cho sự vận động của sự vật, tạo thành quy luật. Bộ ba
phạm trù này chính là cơ sở để Peirce xây dựng hệ thống tri thức siêu hình.
3.3.2. Niềm tin không thể hoài nghi - chân lý
Peirce sử dụng khái niệm “chân lý” không phải theo nghĩa nhận thức
luận. Mà tiếp cận nó từ phương diện mục đích luận, Peirce đưa ra hai quan
16
niệm về chân lý là: 1) chân lý là niềm tin không bị hoài nghi; 2) chân lý là
cái cho phép đạt tới mục đích, thực hiện chủ ý.
Quan niệm về chân lý của Peirce được thể hiện ở những nội dung cơ
bản sau:
Thứ nhất, vấn đề chân lý không được Peirce nêu ra thành một nội dung
độc lập, mà được thể hiện qua lý luận hoài nghi - niềm tin và lý luận về
nghĩa của khái niệm, thậm chí ông còn nhấn mạnh nghĩa của khái niệm hơn
cả thuyết chân lý.
Thứ hai, trong các phương pháp để làm cho tư tưởng được rõ ràng, Peirce
nhấn mạnh vai trò của phương pháp khoa học để xác định niềm tin và cũng là
phương pháp nhận thức chân lý.
thế nào để biết được cái đúng? Peirce cho rằng cần phải căn cứ vào thực tiễn,
chính các hiệu quả trong thực tiễn sẽ giúp chứng minh cái đúng, nếu chứng
minh được là đúng dẫn đến tin, niềm tin được hình thành và củng cố. Nhưng
làm thế nào để chứng minh cái đúng. Giải đáp nội dung này, Peirce đã đưa ra
hệ các phương pháp, trong đó ông nhấn mạnh đến phương pháp khoa học.
4.1.2. Niềm tin thực dụng - giá trị và hạn chế
Một số giá trị trong quan niệm về niềm tin thực dụng của Peirce
Thứ nhất: Trên cơ sở giải quyết mâu thuẫn giữa tôn giáo và khoa học,
Peirce đã đưa ra lý thuyết niềm tin thực dụng như một thể nghiệm để dung hòa
mâu thuẫn giữa chúng. Điều này có tác dụng, một mặt vừ khai thác được vai
trò của niềm tin, mặt khác lại phát huy được vai trò của khoa học.
Thứ hai: Niềm tin thực dụng là niềm tin được xây dựng trên cơ sở căn cứ
vào HIỆU QUẢ mà nó đem lại cho chủ thể với tư cách là cơ sở hành động,
như là một thói quen hành động
Thứ ba: Có thể nhận thấy rằng, niềm tin thực dụng đã thể hiện tinh thần
tỉnh táo của một niềm tin khoa học. Qua đó tạo hậu thuẫn cho ý chí vươn vượt
18
của người Mỹ, phóng vào thực tiễn để tìm kiếm sự thành công, khẳng định sự
tồn tại của mình.
Thứ tư: Một đặc điểm quan trọng khác của phương pháp khoa học với tính
cách là hạt nhân của lý luận thăm dò (lý luận hoài nghi) để xác lập niềm tin của
Peirce là nhấn mạnh đến quá trình tiến bộ và phát triển, chống bảo thủ, trì trệ.
Quan điểm này của Peirce đã có những nhân tố tích cực nhất định.
Thứ năm: Trung tâm của niềm tin thực dụng được thể hiện rõ nét nhất ở
nội dung giá trị luận và thực tiễn luận của nó. Điều này đã không những tạo ra
nét đặc trưng riêng của niềm tin thực dụng so với các niềm tin trước đó trong
triết học truyền thống mà nó còn tạo ra nét đặc sắc của chủ nghĩa thực dụng
với quan niệm trung tâm về niềm tin.
triết học thực dụng của W.James và J.Dewey
Triết học thực dụng do C.S.Peirce đặt nền móng tại Mỹ, phản ánh tính
cách, tâm lý và văn hóa con người Mỹ. Sau C.S.Peirce, triết học thực dụng tiếp
tục được phát triển bởi W.James và J.Dewey. Với tư cách là “rường cột” của
triết học thực dụng Peirce, các giá trị cơ bản của niềm tin thực dụng thông qua
triết học thực dụng đã được W.James và J.Dewey tiếp tục phát triển. Nếu
C.S.Peirce người đã đề ra phương pháp của tư duy của triết học thực dụng
đồng thời là người sáng tạo ra tên của triết học thực dụng, thì W.James là
người đã quảng bá xu hướng triết học thực dụng và làm cho nó nổi tiếng trên
toàn thế giới. Công lao của W.James là ở chỗ làm cho triết học thực dụng thoát
khỏi biên giới nhỏ hẹp của nước Mỹ để đến với các nước trên thế giới và
W.James cũng đã hoàn thiện nguyên lý thực dụng của C.S.Peirce làm cho nó
trở nên hoàn chỉnh. Còn J.Dewey đã rút ra từ triết học thực dụng những hệ quả
trong giáo dục, chính trị và đã làm cho triết học thực dụng được ứng dụng một
cách phổ biến vào giải quyết những vấn đề thực tiễn của nước Mỹ. Ba nhà tư
20
tưởng này “trong khuôn khổ của triết học thực dụng đều gặp nhau ở chỗ họ
cho con đường tuyệt vời của họ là nhìn học thuyết của họ như là một phương
pháp xác định những khái niệm và những luân lý trong sự phát triển của
những hiệu quả của chúng.”
4.2.2. Ảnh hưởng của quan niệm về “niềm tin thực dụng” của Peirce đến
một số nhà triết học thực dụng hiện đại (tân thực dụng)
4.2.2.1. Hoàn cảnh lịch sử xuất hiện chủ nghĩa tân thực dụng
Vào những năm nửa cuối thế kỷ XX, nước Mỹ hùng mạnh rơi vào tình
trạng khủng hoảng về kinh tế, hỗn loạn về mặt xã hội và rối ren về mặt chính
trị. Chính những vấn đề nóng bỏng được đặt ra vào những năm nửa cuối thế
kỷ XX đã làm lung lay đến tận gốc rễ nền tảng tinh thần và giá trị của nước
Mỹ. Từ bối cảnh khủng hoảng tinh thần đó đã thúc đẩy nhu cầu tất yếu phải
động thiết thực truyền thống cũng như niềm tin thực dụng cần được tiếp biến,
sáng tạo mới để phù hợp với yêu cầu phát triển của thực tiễn cách mạng hiện
nay. Trên cơ sở những giá trị của niềm tin thực dụng, nó đã gợi ý cho chúng ta
về mặt nguyên tắc phương pháp luận để khai thác, phát huy được sức mạnh
vật chất cũng như sức mạnh tinh thần, trí tuệ và sức sáng tạo của quần chúng
Nhân dân, đó là phải xây dựng và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với
Đảng và Nhà nước.
KẾT LUẬN
Sự hình thành và phát triển của triết học thực dụng gắn liền với bối cảnh
lịch sử xã hội nước Mỹ, phản ánh tinh thần, lối sống của người Mỹ. Sự xuất
hiện của triết học thực dụng gắn liền với tên tuổi của C.S.Peirce (1839 - 1914),
sau đó được phát triển bởi W.James (1842 - 1910) và J.Dewey (1859 - 1952).
Thế hệ sau khi C.S.Peirce mất mới bắt đầu biết rằng ông là nhà triết học lớn
nhất, độc đáo nhất của đất nước. Có nhà nghiên cứu nhìn ông như Leibniz, bởi
22
lẽ họ có tính toàn năng nhưng ít có tính hệ thống trong tiếp cận khoa học và đều
có sự phong phú của tư duy đang thai nghén. Nói tới Peirce, Russell ví ông như
hòn núi lửa đang phun ra những khối, ở đó lẫn lộn cả vàng ròng. Từ những năm
20 của thế kỷ XX, các trước tác của Peirce lần lượt được xuất bản, và sau khi các
tác phẩm của ông được công bố, người ta thực sự mới phát hiện về ông và thấy
ông là người đã sáng lập ra triết học thực dụng. Trong những thập kỷ gần đây, tư
tưởng của ông lại được đánh giá cao. Hiện nay, ông được nhìn nhận là người
canh tân trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là phương pháp luận nghiên cứu và triết
học khoa học. Bộ từ điển bách khoa Britannia cho ông là “một trí tuệ độc đáo và
đa năng nhất mà nước Mỹ đó sản sinh được cho đến giờ”.
Sinh thời, Peirce không tự coi học thuyết của mình là học thuyết triết học
mà chỉ coi nó như một phương pháp làm thế nào để cho tư tưởng của chúng ta
đối xử đúng đắn với những nhà triết học Mỹ mà lâu nay người ta tập hợp họ
dưới một cái nhãn quan chung là chủ nghĩa thực dụng.
Ngày nay, với đường lối đổi mới, mở cửa do Đảng Cộng sản Việt Nam
khởi xướng đã thổi một luồng sinh khí mới cho phép chúng ta đối diện trực
tiếp với nhiều khuynh hướng triết học khác nhau, trên cơ sở đó gạn đục, khơi
trong nhằm không những tiếp thu các giá trị tích cực để hoàn thiện và phát
triển lý luận cách mạng trong thời kỳ mới mà còn thực hiện bảo vệ và phát
triển chủ nghĩa Mác.
Niềm tin của quần chúng nhân dân đã được Đảng và nhà nước xác định là
tài sản quý giá; cùng với các yếu tố vật chất, chính trị, yếu tố niềm tin có vai
trò to lớn đang tạo ra động lực mạnh mẽ đối với sự nghiệp phát triển kinh tế -
xã hội nước ta hiện nay, đối với sự thành công của sự nghiệp đổi mới. Đảng ta
luôn quan tâm xây dựng, củng cố niềm tin khoa học cho quần chúng nhân dân,
nhất là thế hệ trẻ, tạo ra môi trường phát triển lành mạnh và coi đó là nhiệm vụ
và trách nhiệm chính trị trên mặt trận tư tưởng - văn hóa. Trên cơ sở đánh giá