Những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực trong thơ việt nam hiện đại tt - Pdf 50

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VŨ THỊ LAN ANH

NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA CHỦ NGHĨA TƯỢNG TRƯNG,
SIÊU THỰC TRONG THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số:
62 22 01 20

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Hà Nội – 2018


Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn
Đại học Quốc gia Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Trần Khánh Thành

Phản biện: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .. . . . . . . . .
Phản biện: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .. . . . . . . . .
Phản biện: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .. . . . . . . . .

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp cơ
sở họp tại . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .. . . . .
vào hồi

Đối tượng nghiên cứu: Những ảnh hưởng của chủ nghĩa siêu
thực Việt Nam thông qua những biểu hiện cụ thể đến thơ hiện đại
Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Thơ Việt Nam hiện đại (từ 1932 đến
nay) và chỉ nghiên cứu những tác giả tiêu biểu, có tính đại diện cao.
3. Mục đích nghiên cứu
Luận án làm rõ những biểu hiện đặc trưng cho thấy ảnh
hưởng của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực đối với thơ Việt Nam
hiện đại để làm rõ vai trò, đóng góp và hạn chế của khuynh hướng
1


này trong thơ Việt Nam hiện đại, so sánh mức độ ảnh hưởng giữa các
giai đoạn, đồng thời khẳng định sự cần thiết phải nghiên cứu, tìm
hiểu những ảnh hưởng của khuynh hướng tượng trưng, siêu thực đến
thơ hiện đại Việt Nam trong nghiên cứu và giảng dạy văn học Việt
Nam hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp chính được sử dụng trong luận án: Phương
pháp lịch sử; phương pháp nghiên cứu tâm lí học sáng tạo; phương
pháp so sánh; phương pháp loại hình; phương pháp nghiên cứu
trường hợp (case study); phương pháp nghiên cứu liên văn bản.
5. Đóng góp mới của luận án
Luận án có những đóng góp mới sau: Nghiên cứu và chỉ ra
những biểu hiện cho thấy ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng, siêu
thực đến thơ Việt Nam hiện đại qua các giai đoạn: 1932 – 1945, góp
phần làm rõ diện mạo thơ Việt Nam trong tiến trình văn học nước
nhà, khẳng định vị thế của văn học Việt Nam trong dòng chảy văn
học thế giới; ứng dụng lý thuyết về tượng trưng siêu thực, loại hình học,
lý thuyết nghiên cứu trường hợp để tìm hiểu những hiện tượng điển

các ý niệm nằm ngoài giới hạn của sự tri giác cảm tính; vươn tới bản
chất lý tưởng siêu thời gian của thế giới, cái vẻ đẹp siêu nghiệm; bác
bỏ lý tưởng thẩm mỹ: nghệ thuật vị nghệ thuật; phản ứng lại phái Thi
Sơn.
1.1.2.Chủ nghĩa siêu thực
Đây là một trào lưu văn học xuất hiện vào những năm 20 của thế
kỷ XX tại Pháp. Năm 1924, André Breton công bố Tuyên ngôn chủ nghĩa
siêu thực, khẳng định cơ sở phương pháp sáng tạo của chủ nghĩa siêu thực
là sự tác động thuần túy nhằm mục đích thể hiện bằng lời nói, hoặc chữ
viết, hoặc bằng bất kỳ phương tiện nào khác hoạt động hiện thực của tư
tưởng. Các tư tưởng được tự do bộc lộ, không phải chịu kỳ một sự kiểm
soát nào của lý trí hay của những thành kiến đạo đức và thẩm mỹ” .
3


1.2.3. Hướng nghiên cứu về những biểu hiện của chủ nghĩa tượng
trưng, siêu thực đối với thơ Việt Nam qua các giai đoạn từ góc
nhìn so sánh
Các bài nghiên cứu trong hướng này thường phân chia thơ
Việt Nam thành các giai đoạn và nghiên cứu ảnh hưởng của tượng
trưng, siêu thực với từng giai đoạn. Theo đó, ba giai đoạn được xác
định phổ biến nhất là: Thơ mới (1932-1945), giai đoạn 1945 -1975 và
giai đoạn sau 1975. Trong khi đánh giá về ảnh hưởng của thi phái này
các công trình nghiên cứu không đi theo một hướng thuần nhất nhất
định mà có nhiều luồng ý kiến khác nhau, thậm chí ngược chiều.
1.2.4. Nghiên cứu về tượng trưng, siêu thực ảnh hưởng đến quá
trình sáng tác của một số tác giả thơ hiện đại tiêu biểu
Các tác giả tiêu biểu được đề cập đến trong ảnh hưởng của
tượng trưng siêu thực chủ yếu là các tác giả trong phong trào thơ mới
như: Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Xuân

hoàn toàn tự nhiên, vừa xuất phát từ nhu cầu cách tân thơ Việt vừa
chạm vào những yếu tố tiềm ẩn, nôi sinh sẵn có trong tinh thần
phương Đông.
2.2. Những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng trong Thơ mới
2.2.1. Sự tương hợp, tương giao trong cảm nhận về thế giới
Các nhà thơ của phong trào Thơ mới thể hiện sự tương giao
giữa các giác quan và hướng tới khả năng tương hợp giữa các đối
tượng của chúng như: âm thanh, màu sắc, hương thơm, ánh sáng hòa
hợp trong một thực thể. Cũng nhờ đó đối tượng phản ánh hiện lên
5


nhiều chiều, đa sắc thái và quá trình tri giác nghệ thuật trở nên hấp
dẫn. Thực sự chủ nghĩa tượng trưng với chủ thuyết tương giao không
hề mơ hồ, thiếu căn cứ hay chỉ là những cố gắng tâm linh mà nó thực
sự là một thực tiễn khoa học hỗ trợ con người khắc phục được sự đơn
điệu và phiến diện trong việc nhìn nhận, khám phá đời sống.
2.2.2.Sử dụng biểu tượng trong Thơ mới
Biểu tượng nghệ thuật có thế mạnh ở sức gợi liên tưởng sâu xa
đồng thời khơi dậy nên những cái mơ hồ trừu tượng hay nói đúng hơn
nó hiện hữu tính đa trị, đa nghĩa, mang đến khả năng biểu đạt những
liên hệ trong chiều sâu đối tượng mà sự tả thực thuần túy không thực
hiện được.Trong Thơ mới đậm đặc những biểu tượng thiên nhiên.
Thiên nhiên, vũ trụ, thế giới là cõi rộng lớn vô biên và trường cửu
nhưng cũng chính là khách thể gần gũi luôn bao bọc, che chở cho con
người nương náu. Biểu tượng thiên nhiên được đúc kết sớm nhất
trong nhận thức của nhân loại, tuy nhiên với mỗi thời đại, mỗi dân
tộc, trong những môi trường văn hóa vận động, phát triển khác nhau
những biểu tượng ấy lại có sự thay đổi, biến thể phù hợp. Để hình
dung về thế giới, con người tìm ra mối tương thông giữa ba tầng bậc

Giấc mơ là một trong những miền đến mong ước mà các tác
giả siêu thực hướng đến. Hiện thực hiện hữu trong thế giới của các
nhà thơ chỉ là hiện thực khiếm khuyết, là hiện thực mà họ muốn chối
bỏ để đi tìm một hiện thực khác toàn bích hơn. Giấc mơ trong sáng
tác của các tác giả Thơ mới có dấu ấn siêu thực là một thế giới thực
tại của chiêm bao. Nó không phải sản phẩm của trí tưởng tượng mà là
sản phẩm của hoạt động vô thức, tiếng nói của những ẩn ức, ám ảnh
vốn bị đè nén bên trong mà chưa có dịp để bùng phát. Nó không đối
lập với thực tại mà chính là thực tại ở chiều sâu và xa hơn.Nó là một
thế giới đa diện trùng phức chứ không phải thế giới phẳng như thơ
lãng mạn gợi ra. Điều đặc biệt là, trong thế giới mộng mị ấy, nhân vật
trữ tình hay “tôi” cũng ở trong trạng thái vô thức, mê sảng. Dường
như sự nguyên phiến bị phá vỡ thành những thực thể li hợp bất định.
7


Khoảnh khắc làm thơ các nhà thơ là người của cõi mộng - là một
thực thực khác hội tụ của những khao khát lớn lao nhất – là con
người thực theo đúng nguyện vọng của họ. Nó là sự nhập thân tuyệt
đối của nhà thơ vào cõi mộng mị. Trạng thái ấy được Đinh Hùng,
Chế Lan Viên và đặc biệt là Hàn Mặc Tử nói đến nhiều trong sáng
tác
2.3.2. Khám phá siêu thực bằng trực giác
Các nhà thơ đề cao trực giác và cho rằng thi sĩ hòa nhập tuyệt
đối, trở thành những siêu nhân của cuộc đời như: khách lạ, người mơ,
người say, người điên. Họ tiềm ẩn những năng lượng bất thường và
báo hiệu những bùng nổ phá cách trong thơ, sáng tạo trong trạng thái
điên loạn như những kẻ lên đồng, nhập thần. Nó là những trạng
thái “điên”, “mơ”, “say” được đẩy đến tột cùng – sáng tạo nằm
ngoài hành lang kiểm duyệt của ý thức. Từ 1936 đến 1945, Thơ mới

trưng, siêu thực trong văn học Việt Nam, Thơ mới luôn luôn được đặt
ở vị trí ưu tiên và được quan tâm nhiều nhất.

9


CHƯƠNG 3. NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA CHỦ NGHĨA TƯỢNG
TRƯNG, SIÊU THỰC TRONG THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
1945 – 1975
Giai đoạn 1945-1975 là giai đoạn hoàng kim của thơ ca
kháng chiến. Thơ ca tượng trưng, siêu thực trong giai đoạn này chỉ
tồn tại một cách âm thầm và mạnh mẽ trong sáng tác của một số nhà
thơ do hoàn cảnh lịch sử.Trong bối cảnh đó, chúng tôi tìm đến ảnh
hưởng của những tác giả điển hình trong thơ ca Việt Nam cho tượng
trưng, siêu thực.
3.1. Bối cảnh thơ khu vực miền Bắc giai đoạn 1945 - 1975
Thực sự giai đoạn này không có tác giả nào rẽ vào địa hạt
tượng trưng, siêu thực nhưng xét ở phương diện ảnh hưởng một cách
tự nhiên yếu tố này không mất đi hoàn toàn mà vẫn âm thầm tồn tại
trong một số sáng tác, trong đó chúng tôi nhận thấy rõ nhất đối với
các trường hợp tác giả Trần Dần và Hoàng Cầm. Hai tác giả trên
cũng là những nghệ sĩ tiên phong của thơ kháng chiến, nhưng trong
sáng tác của họ đã xuất hiện những biểu hiện tượng trưng, siêu thực
vì nhiều lí do khác nhau.
3.2. Những biểu hiện của khuynh hướng tượng trưng, siêu thực
trong thơ Trần Dần
3.2.1. Ngôn từ thơ giàu sức gợi cảm và nhạc tính
Tác giả đưa ngôn từ vượt thoát ra khỏi chức năng giao tiếp
thông thường, triệt tiêu dần ý nghĩa tiêu dùng đưa ngôn ngữ trở về
với chính bản thể thuần khiết của nó. Chữ trở thành trung tâm phát

ảnh, dòng ý tưởng chợt xuất hiện trong đầu, tác phẩm nhiều khi được
sáng tạo trong trạng thái nửa thức nửa tỉnh, thậm chí như “nhập
đồng”, người viết bị ngòi bút thôi miên không thể kiểm soát. Có được
điều ấy là do kết quả của vô thức, kiểu ghi chép này đưa thơ trở về
bản thể nguyên sơ, thuần khiết nhất, bởi thế ranh giới hay – không
hay trong nghệ thuật bị xóa nhòa mà chỉ còn duy nhất sự chân thật.
Đặc điểm này phù hợp với tư duy nghệ thuật thơ Hoàng Cầm, ông
11


làm thơ không theo một chủ định nào nhiều khi cảm hứng đến từ một
rung cảm, một hoài niệm hay một nỗi niềm nào đấy.
3.3.2. Giải mã những giấc mơ
Trong thực tại cuộc sống, con người còn phải chịu nhiều ràng
buộc, thậm chí sự đè nén đến mức độ nhiều khi không được sống thật
với chính mình nhưng trong giấc mơ – thế giới vô thức, lí trí không
tham gia kiểm soát, con người sống thật nhất và mượn giấc mơ để
giải tỏa những ẩn ức hay ham muốn thầm kín của mình. Không gian,
thời gian trong thơ Hoàng Cầm thuộc về một giấc mơ lịch sử, những
dấu ấn về buổi hồng hoang như thời Kinh Dương Vương, Lạc Long
Quân và Âu Cơ. Ông kiến tạo nên những hình tượng phi logic, ranh
giới hiện thực và ảo diệu hoàn toàn mờ nhòe đi. Đi tìm lời giải đáp
cho cõi mơ Hoàng Cầm cũng chính là hành trình luận giải về ẩn ức
cá nhân theo lí thuyết của S.Freud về mặc cảm Oedipe. Trong khát
khao giải tỏa những ẩn ức của thời thơ ấu, thi sĩ không ít lần thể hiện
tình cảm gắn bó thiết tha với người mẹ, người chị.
3.3.3. Phương pháp tạo hình
Hoàng Cầm ưa cách sắp đặt, kết nối những hình ảnh tưởng
chừng như rời rạc, khác xa nhau tạo thành hiệu ứng thẩm mĩ. Thực
chất đây cũng là hệ quả của giấc mơ, bởi trong cơn mơ người ta

Văn học miền Nam sau năm 1954 đã đạt được một số thành
tựu đáng kể và kết tinh những đặc điểm sau: văn học phát triển nối
tiếp thời tiền chiến mà không có sự đứt gãy, văn học mang tính liên
thông với thế giới, mang tính nhân bản và nhân văn, đồng thời văn
học có sự khai phóng, đa sắc và đa dạng với nhiều xu hướng khác
nhau cùng tồn tại.Trong bức tranh chung của văn học hiện đại, chặng
đường văn học miền Nam có những đóng góp quan trọng. Nó song
hành cùng những trào lưu tư tưởng tiến bộ, giàu giá trị nhân văn, đi
vào soi rọi con người trong nhiều suy tư, dằn vặt, khủng hoảng, tìm
kiếm, không thiếu đi những giây phút thức tỉnh, bừng ngộ trong cõi
tâm lĩnh hay khi ý thức về bản thể. Trong diện mạo chung đầy tính
13


phức tạp đó, thơ giã từ nhiều khuôn khổ chật hẹp từ thời thơ tiền
chiến để xây dựng nên một không khí khác lạ. Về khuynh hướng
tượng trưng, siêu thực trong thơ, ở khu vực miền Nam nhìn chung
khá lan tỏa. Nhiều cây bút như Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương,
Thanh Tâm Tuyền, Bùi Giáng, Cung Trầm Tưởng, Nguyên Sa,
Nguyễn Tất Nhiên, Nhã Ca, Trần Dạ Từ,... cũng xuất hiện các đặc
trưng thi pháp của thi phái này. Tuy nhiên bằng những tiền đề về hệ
thống lí thuyết tượng trưng, siêu thực như đã đề cập trong phần khái
luận, chúng tôi đi sâu tìm hiểu hai gương mặt đại tiêu biểu nhất là
Thanh Tâm Tuyền và Bùi Giáng.
3.5. Thơ Thanh Tâm Tuyền trong ảnh hưởng của chủ nghĩa
tượng trưng, siêu thực
3.5.1. Những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Thanh Tâm
Tuyền
Trong thơ Thanh Tâm Tuyền hằn in nhiều bức tranh đời sống
xám xịt, thô tháp. Nó hiện diện một bộ mặt đô thị như là dấu ấn của

3.6.1. Hệ thống thi ảnh biểu tượng trong Bùi Giáng
Bùi Giáng làm thơ để khôi phục lại tiếng nói ban sơ của loài
người, ông muốn biến ngôn ngữ - ký hiệu trở lại thành ngôn ngữ - sự
vật, mà biểu tượng đầu tiên gây ấn tượng trinh nguyên nhất là mùa
xuân.Xuân không dừng lại ở cảm thức một mùa trong năm hay
khoảnh khắc thời gian, xuân trong thơ Bùi Giáng mang ý niệm về sự
vô tận, nó biểu hiện về lẽ khởi thủy khơi dòng sự sống, tác giả gọi đó
là Nguyên Xuân (Lá Hoa Cồn). Còn hình tượngcon người trong thơ
của ôngcũng hiện hữu trong dáng vẻ sơ khai để khẳng định những
khoảnh khắc ban sơ ấy rất giá trị bởi khi đó con người sống ngây thơ,
hồn nhiên, không vướng vào vòng tục lụy.
3.6.2. Dòng chảy siêu thực trong thơ Bùi Giáng
Bùi Giáng làm thơ tự nhiên như sự sống vậy, ông không cần
nhọc nhằn “phu chữ” hay uốn nắn “thôi xao” mà thơ tuôn ra dào dạt,
bất tận. Ngôn ngữ thơ ông hoàn toàn mang tính chất tự trị, vấn đề
15


nghĩa không còn giá trị bởi lẽ thơ tiệm cận vào hư vô. Dòng chảy của
suy niệm đồng hành cùng ngòi bút, từ ngữ vận chuyển không ngừng
nghỉ, chữ này vừa xuất hiện thì chữ khác đã dào tuôn thay thế.Ngôn
từ.
*Với sự lựa chọn hướng đi từ nghiên cứu điển hình, chúng
tôi đặc biệt tâp trung vào thơ Trần Dần, Hoàng Cầm, Thanh Tâm
Tuyền, Bùi Giáng. Những biểu hiện siêu thực, tượng trưng như ngôn
ngữ giàu sức gợi cảm, nhạc tính, biểu tượng đầy ám ảnh, lối viết tự
động, những giấc mơ chứa đầy mật mã, các thủ pháp tạo hình, tính
tương giao và những sáng tạo bất ngờ, tính nhạc… không phải là
những miền riêng có của họ mà là còn có tiếng nói đồng điệu với
nhiều tác giả khác cùng thời.

của thời đại do hoàn cảnh và trải nghiệm của cá nhân nhà văn. So với
giai đoạn sau 1945 trước 1975, trường nghĩa của biểu tượng được tự
do hơn và giới hạn trong những khuôn khổ hạn định của thi ca chính
17


thống.
4.2.2. Dấu ấn tượng trưng trong ngôn từ và nhạc điệu
Dấu ấn đặc trưng nhất của tượng trưng trong thơ ca sau 1975
là sự cách tân thể hiện qua tính nhạc độc đáo, phong phú, tăng độ mở,
độ nhòe mở của ngôn ngữ thơ. Cùng với tính nhạc, ngôn ngữ thơ
giàu tính gợi bằng hình ảnh, thanh điệu cũng là điểm nổi bật của thơ
ca tượng trưng thời kỳ này. Sự kết hợp giữa các thanh bằng, trắc
mang đến những cú chuyển mình cho thơ. Ngôn ngữ có mật mã
riêng, được lạ hóa so với ngôn ngữ đời thường. Nếu như các thi sĩ
trong thơ Mới đi tìm sự lạ hóa bằng những chân trời xa lạ thoát ly
hiện thực hoặc học tập phương Tây thì các tác giả sau 1975 lại tìm
những biểu tượng mới, lạ hóa ngay trên chính nguồn tư liệu cũ. Đó là
những biểu tượng cũ nhưng được cấp thêm ngữ nghĩa mới bằng lối ví
von, so sánh hoặc ẩn dụ có sự bứt phá mạnh mẽ và quyết liệt bởi tính
hệ thống.
4.3. Dấu ấn của chủ nghĩa siêu thực
4.3.1. Dấu ấn siêu thực trong cảm thức nghệ thuật
So với các giai đoạn trước đó, ở giai đoạn này, siêu thực thể
hiện ở trật tự cao hơn, toát lên chiều sâu của thế giới tinh thần, tư
tưởng của con người. Hình tượng thơ mang tính đậm tính mộng mị,
ẩn dụ.Tính ngẫu nhiên, phi lí của thơ siêu thực chính là kết quả của
tính tự do trong sáng tạo tạo ra một trật tự mới cho thơ Việt Nam giai
đoạn này. Sự mới lạ được tạo ra từ kĩ thuật đặt cạnh nhau những thực
thể xa lạ, thậm chí đối lập để tạo ra một cái phi logic so với tư duy


*Có thể khẳng định rằng, sự đổi mới của các nhà thơ sau
1975 xuất phát từ những đổi mới, cách tân trong tư duy thơ. Từ cái
“tôi” hướng ngoại, cái “ta” đại chúng, thơ ca giai đoạn này chuyển
sang cái “tôi” hướng nội tâm linh. Đặc biệt, chuẩn mực đánh giá lấy
thước đo là giá trị thẩm mỹ mang đến những cách tân mạnh mẽ trong
hình thức thơ. Tất cả các quan niệm về việc sử dụng cấu trúc, ngôn
ngữ, hình ảnh, biểu tượng, thể loại thơ đều được đổi mới, linh hoạt và
19


được “lạ hóa” trong các thi phẩm. Đặc biệt, dấu ấn tượng trưng, siêu
thực trong giai đoạn này thể hiện thống nhất và rõ nét từ tư duy thơ
(quan niệm, tư tưởng…) đến nội dung và nghệ thuật thơ. Tất cả
những điều trên tạo ra kết cấu thơ là kết cấu mở cho thơ tượng trưng,
siêu thực sau 1975. Thơ không phải là cấu trúc tĩnh mà mang tính
động, đặc biệt là về ngữ nghĩa. Lớp nghĩa bóng ẩn sâu thể hiện nội
dung sau từng câu, từng chữ là bến bờ mà các tác giả hướng độc giả
tới.

20


KẾT LUẬN
1. Chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực trong thơ Pháp có sức
lan tỏa và tác động đến thơ hiện đại Việt Nam là một quá trình nhiều
thăng trầm và chứa đựng nhiều vỉa tầng sâu sắc. Có lẽ vì thế, mà các
nhà nghiên cứu cũng dành nhiều công sức vào việc tìm hiểu tầm ảnh
hưởng của tượng trưng, siêu thực đến thơ hiện đại Việt Nam. Tuy
nhiên, các công trình nghiên cứu mới chỉ tập trung chủ yếu vào giai

thực nhưng vẫn kết nối chặt chẽ với khuynh hướng lãng mạn thì thơ
ca giai đoạn này nhất là ở khu vực miền Bắc các nhà thơ gần như đã
rời bỏ hẳn tượng trưng, siêu thực, chỉ thấy một số dấu ấn trong thơ
Trần Dần, Hoàng Cầm. Đáng trân trọng là những gương mặt tiêu biểu
của khuynh hướng này đồng thời cũng là những nghệ sĩ tiên phong
trên mặt trận thơ ca kháng chiến. Vượt qua ranh giới chia cắt hai
miền, ở mảnh đất phương Nam, trong một bối cảnh đặc biệt khuynh
hướng tượng trưng, siêu thực vẫn tiếp tục dòng chảy của nó, thậm chí
còn thêm những sắc thái như hiện sinh, trực giác, phân tâm học trong
thơ Thanh Tâm Tuyền, Bùi Giáng, Quách Thoại, Nguyễn Đức Sơn,
Nguyên Sa, .... Thời điểm này, các nhà thơ và các nhà nghiên cứu đều
không bàn nhiều về khuynh hướng tượng trưng, siêu thực nhưng họ
vẫn âm thầm, trăn trở sáng tác để chờ đợi đến một ngày thống nhất
để có thể khoác áo mới cho khuynh hướng này và độc giả sẵn sàng
đón nhận.
4. Xuất phát từ những cách tân, đổi mới thống nhất từ tư duy
thơ cho đến nội dung và nghệ thuật, sau năm 1975, khuynh hướng
tượng trưng, siêu thực trở lại mạnh mẽ và nở rộ từ sau năm 1975.
Nếu như “tôi” của thơ lãng mạn 1932 – 1945 chỉ mơ hồ giữa hai bờ
ảo vọng, hứng lấy từng giọt thời gian để sống vội, sống gấp thì “tôi”
trong thơ tượng trưng, siêu thực sau 1975 mạnh mẽ hướng về thế giới
tâm linh, vô thức, phi logic để tìm đến một thế giới siêu thực. Kế
thừa những kỹ thuật về ghép nghĩa và chuyển nghĩa từ giai đoạn thơ
Mới, sau năm 1975, thơ ca Việt Nam đã sáng tạo và bổ sung thêm
22


những lớp nghĩa mới cho câu từ, hình ảnh. Thơ tự do và văn xuôi lên
ngôi mạnh mẽ. Giá trị thẩm mỹ được xem là trung tâm điểm của sáng
tác văn học. Với cấu trúc động cùng sự cách tân táo bạo của nghệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status