LUẬN án TIẾN sỹ đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội qua thực tiễn ở việt nam - Pdf 37

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Là một Đảng mácxít, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn ý thức được tầm quan trọng của lý
luận cách mạng. Thực tiễn chỉ rõ, lý luận phải phản ánh được sự vận động của các quy
luật khách quan, phải được hình thành, xây dựng trên cơ sở phương pháp tư duy đúng
đắn. Cuộc sống luôn vận động, phát triển, đòi hỏi Đảng tiên phong phải nhạy bén, có
những thay đổi, điều chỉnh, bổ sung, phát triển thích hợp về đường lối, chủ trương, không
thể áp dụng các biện pháp một cách máy móc mà phải căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh cụ
thể. Chính vì vậy, đổi mới tư duy lý luận là nhiệm vụ thường xuyên để lý luận, đường lối
của Đảng không bị lạc hậu, đáp ứng được tình hình. Đảng ta xác định đổi mới tư duy là
yêu cầu đầu tiên khi bước vào thời kỳ đổi mới, là điều kiện quyết định để xác định và
từng bước phát triển đường lối của Đảng. Mọi quyết định thực tiễn đều phải có sự chuẩn
bị về lý luận, tư tưởng. Vì vậy, Đại hội lần thứ VI của Đảng ta đã nhấn mạnh vấn đề đổi
mới tư duy, nhất là tư duy về kinh tế. Thực tiễn cho thấy vấn đề đổi mới tư duy lý luận
có vai trò đặc biệt quan trọng trong công cuộc đổi mới đất nước.
Sau hơn 16 năm đổi mới, nhìn chung chúng ta đã vượt qua được nhiều khó khăn, thử
thách; kinh tế - xã hội đạt được nhiều thành tựu, giữ vững ổn định chính trị, đời sống
nhân dân từng bước được cải thiện. Những thành tựu đó là cơ sở, tiền đề để bước vào
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Thành tựu của công cuộc đổi mới gắn liền với sự lãnh đạo, với đường lối đổi mới
đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cũng chính từ những thành tựu đổi mới, cho
phép chúng ta khẳng định rõ vai trò, sự cần thiết của tư duy lý luận, của việc đổi mới tư
duy trên tất cả các lĩnh vực trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.


Hiện nay, nhiệm vụ quan trọng nhất đối với chúng ta là phải đẩy tới một bước công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm loại trừ nguy cơ tụt hậu, giữ vững sự phát triển theo con
đường xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh và đấu tranh thắng lợi với các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng.
Vì thế, về mặt thực tiễn và lý luận, cần thiết trước hết, phải tổng kết kinh nghiệm thực
tiễn của quá trình đổi mới: đổi mới cách nghĩ, cách làm trong hơn những năm qua. Tất cả

vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trước đây, nó thường được xem xét, nghiên
cứu trong khi nghiên cứu về ý thức, lý luận nhận thức, ít có các bài viết, trong công trình
đặt nó như một đối tượng trực diện. Từ những năm 1980 trở lại đây, đặc biệt là từ sau Đại
hội lần thứ VI của Đảng, vấn đề tư duy, tư duy lý luận thực sự thu hút sự quan tâm đông
đảo của các nhà nghiên cứu. Có thể khẳng định, sự ra đời đường lối đổi mới của Đảng,
với việc xác định điểm khởi đầu là “đổi mới tư duy” đã nói lên vai trò, tầm quan trọng
của tư duy, tư duy lý luận đối với sự phát triển của đời sống xã hội, của đất nước. Cuối
những năm 1980, một điều dễ nhận thấy và cần thiết phải đề cập trước tiên đó là sự xuất
hiện của các bài viết trên báo, đặc biệt là các tạp chí như: Tạp chí Cộng sản, Nghiên cứu
lý luận, Triết học, Thông tin lý luận, Quốc phòng toàn dân... Các cuộc hội thảo, toạ đàm
về vấn đề này đã được các cơ quan nghiên cứu, các cơ quan xuất bản, báo chí tổ chức và
thu hút sự tham gia của các đồng chí lãnh đạo Đảng, đông đảo những người làm quản lý,


thực tiễn, các nhà nghiên cứu, giảng dạy. Đã có những kỷ yếu khoa học được giới thiệu
khá rộng rãi, đáng kể nhất là cuốn Mấy vấn đề cấp bách về đổi mới tư duy lý luận [44]
của Học viện Nguyễn Ái Quốc. Có những chuyên mục thảo luận rất sâu về vấn đề này
như trên Tạp chí Cộng sản trong 2 năm 1987, 1988. Đây cũng là một hoạt động khoa học
trọng tâm trong thời kỳ này. Có thể nói, giới triết học, kinh tế học... đã tham gia trao đổi,
tranh luận khá sôi nổi, có những đóng góp thiết thực.
Trong giai đoạn này, đã xuất bản một số tập sách của các đồng chí lãnh đạo Đảng như
cuốn Đổi mới là đòi hỏi bức thiết của đất nước và của thời đại [7], Bàn về đổi mới tư duy
[106]... Đây là những cuốn sách quan trọng, thu hút sự quan tâm của ban đọc. Ngoài ra
còn có một số cuốn sách khác như Triết học với sự nghiệp đổi mới [ 93], Trao đổi ý kiến
- những vấn đề lý luận của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [100].
Một thực tế không thể đề cập là tình hình đổi mới, cải cách, cải tổ và nghiên cứu lý
luận ở các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là ở Liên Xô và Trung Quốc đã có tác động
nhất định đến hoạt động nghiên cứu lý luận ở nước ta trong giai đoạn này.
Các công trình trên đây đã góp phần hình thành nhận thức về tư duy, tư duy lý luận,
phân biệt tư duy lý luận với tư duy kinh nghiệm phân tích thực trạng, khẳng định sự cần

phương pháp nghiên cứu đã đóng góp quan trọng vào thành tựu tư duy lý luận của Đảng
ta, góp phần làm cho “quan niệm về chủ nghĩa xã hội và về con đường đi lên chủ nghĩa


xã hội ở nước ta đã có thể hình thành trên những đường nét chủ yếu” [20, tr.111] và “con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xãc định rõ hơn” [27, tr.68].
Nhiều đề tài cấp Nhà nước giai đoạn 1996 - 2000 đã được triển khai theo hướng làm rõ
thêm nhưng vấn đề lý luận và thực tiễn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Trong không khí hoạt động khoa học sôi nổi ấy, nhiều nghiên cứu sinh triết học đã lựa
chọn đề tài luận án mà ở đó, với các mức độ khác nhau, vấn đề tư duy, tư duy lý luận
cũng được đề cập. Chẳng như luận án Tìm hiểu một số nét mới của tư duy khoa học hiện
đại [37], Nâng cao năng lực tư duy của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã hiện
nay - đã xuất bản thành sách [95], Bệnh chủ quan duy ý chí trong quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở nước ta thời kỳ sau năm 1975: nguyên nhân và phương hướng khắc phục
[86], Sự thống nhất giữa tri thức khoa học và tình cảm cách mạng với sự nhiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [87], Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa ở đội ngũ cán bộ nước ta
trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội [80], Khắc phục “bệnh” giáo điều ở đội ngũ
cán bộ nước ta trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội [92]. Các luận án trên đây đã
góp phần làm sáng tỏ vai trò của tư duy, tư duy lý luận; phân tích đặc điểm, đặc trưng của
tư duy lý luận; phân tích nguyên nhân của sự lạc hậu trong nhận thức, tư duy lý luận,
khẳng định sự cần thiết phải đổi mới và nâng cao trình độ tư duy lý luận cho cán bộ, đảng
viên và đều coi đổi mới tư duy lý luận là một trong những phương hướng, giải pháp để
khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí, bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, bệnh giáo điều.....
Kế thừa các kết quả nghiên cứu trên đây, luận án Đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa
xã hội thực tiễn Việt Nam góp phần tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề quan trọng này.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
3.1. Mục đích của luận án


Luận án phân tích, làm rõ những đổi mới quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng ta

5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được luận án sử dụng gồm có: phương pháp của chủ nghĩa
duy vật biện chứng, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương
pháp lịch sử và lôgích, phương pháp hệ thống.
6. Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Luận án trình bày, phân tích những thành tựu và nêu lên những đóng về lý luận và
phương pháp luận trong tư duy lý luận của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong hơn 16 năm đổi mới.
- Nêu lên một số phương hướng để tiếp tục đổi mới và nâng cao trình độ tư duy lý luận
của Đảng.
7. Ý nghĩa thực tiễn của luận án
- Luận án góp phần vào việc học tập, nghiên cứu, tìm hiểu, quán triệt các văn kiện của
Đảng, các chuyên đề về những vấn đề lý luận của chủ nghĩa xã hội; góp thêm ý kiến vào
việc xây dựng cơ sở cho sự lãnh đạo của Đảng trong việc đổi mới công tác tư tưởng, lý
luận.


- Luận án phục vụ thiết thực cho công việc hàng ngày của tác giả, đó là xây dựng các
đề tài, kế hoạch, biên tập sách lý luận, chính trị - xã hội.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở bài, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 3 chương 9
tiết.
Chương 1
TƯ DUY LÝ LUẬN VÀ TÍNH TẤT YẾU CỦA VIỆC ĐỔI MỚI TƯ DUY LÝ
LUẬN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
1.1. Tư duy và tư duy lý luận
1.1.1. Quan niệm về tư duy
Tư duy là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như sinh lý
học, điều khiển học, lôgích học, tâm lý học, triết học. Mỗi ngành khoa học nghiên cứu
tư duy theo một góc độ nhất định.

nhân như một cái gì sinh ra từ một bản nguyên tinh thần đứng trên vật chất và đó là ý
thức của những cá nhân riêng lẻ.
Trong một số những đại biểu duy tâm tiêu biểu không thể không đề cập đến I.Cantơ
(1724 - 1804) và G.Hêghen (1770 - 1831). Hai triết gia duy tâm cổ điển Đức này đã


luận giải khá nhiều về tư duy và một điều đáng lưu ý là học thuyết của G.Hêghen về
tư duy, về căn bản, đã xuất hiện chính là nhờ khắc phục những hạn chế trong quan
niệm của I.Cantơ về tư duy [9, tr.66]. Khái niệm tư duy được Hêghen trình bày trong
hai tác phẩm Khoa học lôgích và Bách khoa thư các khoa học triết học. G.Hêghen cho
rằng, I.Cantơ có nhiều quan điểm sâu sắc về tư duy nhưng nó vẫn thể hiện một sự
“đánh giá rất thấp” về tư duy. Ba luận điểm cơ bản trong học thuyết của Cantơ về tư
duy được Hêghen đặc biệt quan tâm là: 1. Vấn đề nhận thức “vật tự nó”; 2. Vấn đề
mối tương quan giữa cảm tính và lý tính; 3. Vấn đề quan hệ giữa khái niệm và thực
hiện.
Ở Cantơ, “vật tự nó” là bất cứ khả tri đối với khả tri và tư duy. Thuyết bất khả tri
của Cantơ đã chứng tỏ sự bất lực của tư duy; tư duy không có năng lực nhận thức
“vật tự nó”. Hêghen đã bác bỏ “vật tự nó” bất khả tri và cho rằng tư duy của con
người có khả năng nhận thức được tất cả. Trong quan niệm của Hêghen, tư duy,
“không những không bị tước mất năng lực nhận thức hiện thực mà còn có năng lực
thâm nhập vào bản chất của các sự vật, đạt tới quy luật của thế giới” vật tự nó”” [9,
tr.69].
Đề cập mối quan hệ của tư duy với nhận thức cảm tính, Cantơ cho rằng, tư duy nếu
thiếu cảm tính thì sẽ không có hiệu quả, và tính tích cực của tư duy chính là thể
hiện ở việc xử lý các tài liệu đo cảm tính đem lại. Nhận xét về điểm này, Hêghen cho
đó là sự hạ thấp quyền hạng của tư duy. Hêghen không hiểu tư duy theo nghĩa thông
thường. Với ông, tư duy rộng hơn năng lực chủ quan thuần tuý. Ông không hiểu tư duy
theo nghĩa bó hẹp trong phạm vi ý thức cá nhân như năng lực chủ quan của con người
mà hiểu theo nghĩa rộng hơn, đó là “ý niệm tuyệt đối” đã sáng tạo ra giới tự nhiên và


Trái lại, các nhà duy vật trên cơ sở tiếp thu, kế thừa kết quả của các ngành khoa học
với một thế giới quan tiến bộ đã từng bước lý giải một cách khoa học cơ sở, bản chất
và đặc trưng của tư duy.
Giải thích sự xuất hiện của ý thức, tư duy,một số nhà duy vật thời trước đã cho
rằng tư duy là thuộc tính của toàn bộ vật chất. Nhà triết học duy vật Hà Lan Barúc
Spinôda (1632 - 1677) cho rằng, vật chất có sinh khí phổ biến, mọi vật đều biết tư duy.
Khi luận chứng chống lại những người coi vật chất là biết tư duy và có linh hồn,
Giăng Tôlăng (1670 - 1722) nêu rõ: biết tư duy không phải là của mọi vật chất nói
chung, mà chỉ là bộ phận vật chất được tổ chức một cách đặc biệt - đó là não. Não là
cơ quan tư duy. Ông viết; “Tư duy... là sự vận động đặc biệt của não - một cơ quan đặc
biệt của năng lực đó” [116, tr.290]. Tư duy là kết quả hoạt động tích cực của não.
Như vậy, với việc xác định tư duy là thuộc tính và là hoạt động của vật chất có tố
chức xác định, Tôlăng đã tiến một bước trên con đường giải quyết mối quan hệ giữa
tư duy và tồn tại so với các bậc tiền bối của mình, trong đó có Spinôda.
Nhà triết học khai sáng Pháp, người lãnh đạo phái Bách khoa toàn thư Đơni Điđơrô
(1713 - 1784) cũng đã bác bỏ những quan điểm duy tâm về tính tự sinh của tư duy.
Ông cho rằng, mọi suy luận đều có nguồn gốc trong tự nhiên, đồng thời ông cũng chú ý
đến vai trò kỹ thuật và công nghiệp trong sự phát triển của tư duy và nhận thức.


Cùng với việc lý giải cơ sở, nguồn gốc vật chất tư duy, các nhà duy vật trước Mác
như Spinôda, Điđơrô đã lý giải quá trình, cơ chế hình thành, vai trò của nhận thức, tư
duy. Họ đã có được kết quả đúng đắn khi cho rằng, nhận thức là phản ảnh những sự
vật và hiện tượng khách quan của tự nhiên, nhưng về mặt nào đó, đánh giá thấp vai
trò của tư duy. Ngược lại, phái duy tâm chủ nghĩa thì đã đẩy nguyên lý tích cực của
tư duy thành kẻ sáng tạo ra tự nhiên. Và điều nghiêm trọng hơn là họ đã không hiểu
vai trò quan trọng của thực tiễn đối với nhận thức, tách nhận thức ra khỏi thực tiễn.
Khoa học tự nhiên chứng minh rằng, ý thức là thuộc tính phản ánh của vật chất có
tổ chức cao là bộ óc người, trong quan hệ tác động qua lại với thế giới bên ngoài. Sự
hình thành ý thức con người không đơn thuần là sự phản ánh có tính chất xã hội. Để

nhất của tư duy con người, và trí tuệ con người đã phát triển song song với việc
người ta đi học cải biến tự nhiên” [56, tr.720].
Cùng với lao động, ngôn ngữ có vai trò quan trọng với sự hình thành, phát triển của
tư duy. Ngôn ngữ được hình thành trong quá trình lao động để thoả mãn nhu cầu giao
tiếp giữa người với người. Tư duy tồn tại không thể thiếu ngôn ngữ, cũng như ngôn
ngữ tồn tại không thể thiếu tư duy. Ngôn ngữ là cái vật chất hoá tư duy, là hiện thực
trực tiếp của tư tưởng. Ngôn ngữ không chỉ là công cụ để con người giao tiếp trao đổi
với nhau, phản ánh khái quát về sự vật mà còn là phương tiện lưu trữ tư duy. Tư duy


phản ánh sự vật, còn ngôn ngữ thể hiện sự vật, ghi lại và củng cố danh từ và trong các
danh từ hợp thành các mệnh đề những kết quả hoạt động của tư duy nhằm hiểu biết
hiện thực khách quan.
Ngôn ngữ là cơ sở hình thành nên khái niệm, phán đoán, và nếu như thiếu các khái
niệm, phán đoán thì tư duy không phát triển được. Các nhà kinh điển mácxít định
nghĩa ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, và có tác dụng quan trọng bậc
nhất trong sự tiến hoá của con người và của tư duy. Ngôn ngữ và những phạm trù
khoa học nêu lên những quy luật của khoa học và do đó đi sâu vào bản chất của hiện
tượng. C.Mác khẳng định, chỉ nhờ có ngôn ngữ thì những thành quả của tư duy mới
có thể trở thành tài sản của tất cả mọi người, mới cho phép tổ chức lao động có hiệu
quả nhằm cải tạo điều kiện sống của con người.
Sự xuất hiện ngôn ngữ là một bước ngoặt trong sự phát triển của loài người, mở ra
thời kỳ mới của sự phát triển trí tuệ, tư tưởng. Nhờ có ngôn ngữ và giao lưu, con
người đã có những bước tiến khổng lồ. Tư duy với tư cách là chức năng của bộ óc
con người, là một quá trình tự nhiên, không tồn tại bên ngoài xã hội, bên ngoài ngôn
ngữ, vì vậy nó có bản chất xã hội.
Quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin về tư duy đã được các
công trình của khoa học y sinh học xác nhận, trong đó có công trình của hai nhà sinh lý
học Nga M.I.Xêsênốp (1829 - 1905) và P.I.Páplốp (1849 - 1930).
Những công trình nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc phản bác những

họ, nguồn gốc và sự phát triển của tư duy và ngôn ngữ bị tách khỏi cơ sở thực tiễn xã
hội và bị coi là một quá trình thuần tuý về sinh lý .
Những quan điểm về cơ sở, nguồn gốc tư duy trên đây cũng chính là những lý giải
“khía cạnh thứ nhất” vấn đề cơ bản của triết học. Tìm hiểu “khía cạnh thứ hai” cho
phép chúng ta hiểu bản chất, đặc trưng và khả năng của tư duy.
Trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm chủ quan và học thuyết bất khả tri,
V.I.Lênin đã phát triển toàn diện học thuyết mácxít về tính chất có thể nhận thức
được của thế giới, lý luận về phản ánh. Lênin đã bảo vệ quan điểm duy vật về cái tâm
lý, về ý thức với tính cách là sản phẩm cao nhất của vật chất, với tính cách là chức
năng của óc con người. Lênin đã nhấn mạnh rằng, tư duy, ý thức là sự phản ánh thế
giới bên ngoài.
Trong khi nghiên cứu tư duy, việc phân biệt, làm rõ mối quan hệ giữa tư duy với ý
thức, nhận thức, tư tưởng có ý nghĩa không chỉ về mặt học thuật mà cả về mặt thực
tiễn. Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan bởi bộ não người, trên cơ sở hoạt
động thực tiễn. Tư duy là quá trình xử lý, phân tích, khái quát... các tài liệu cảm tính
để vạch ra bản chất sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan. Với ý nghĩa đó tư
duy là quá trình phản ánh tích cực giới hiện thực khách quan vào trong ý thức của con
người [109, tr.799]. Có người đồng nhất tư duy với tư tưởng. Tư tưởng với nghĩa là ý
nghĩ đã định hình của con người về đối tượng khách quan nào đó được thể hiện dưới
các hình thức như khái niệm, phạm trù, quy luật là kết quả của tư duy. Tư duy đúng
sẽ thu được tư tưởng đúng và ngược lại, từ đó quy định hiệu quả của hành động. Có
người đồng nhất hai khái niệm về tư duy và nhận thức. Chúng ta thống nhất rằng, tư


duy không tách rời nhận thức và nhận thức phải thông qua tư duy, bằng tư duy, nhưng
tư duy và nhận thức không phải là một.
Trong thực tế, khái niệm tư duy còn có nhiều cách hiểu khác nhau. Lý luận nhận
thức của triết học Mác - Lênin chỉ rõ: Tư duy không phải là toàn bộ nhận thức mà chỉ
là giai đoạn cao, là cấp độ cao của nhận thức. Như thế, tư duy thuộc giai đoạn thứ hai
(giai đoạn nhận thức lý tính) của quá trình nhận thức; là sự khái quát những cảm

giai đoạn nhất định, tư duy của con người chỉ đạt đến những chân lý tương đối mà
thôi. Theo Ph.Ăngghen, tư duy con người vừa tối cao, vừa không tối cao. Xét theo bản
chất và khả năng thì tư duy của con người là tối cao và vô hạn, xét theo sự thực hiện
cá biệt thì không tối cao và có hạn. Trong thực tế, các sản phẩm của tư duy chỉ có tính
độc lập tương đối, bởi vì trong quá trình nhận thức, con người dựa vào kế thừa vật
liệu tư duy do lao động các thế hệ trước tạo ra. Ph.Ăngghen đã phân tích một cách sâu
sắc phép biện chứng của tư duy toàn nhân lo ại. Tư duy con người không phải là tư
duy của từng cá nhân riêng lẻ, nhưng nó chỉ được thực hiện thông qua tư duy cá nhân.
Và, “tính vô hạn của tư duy trong việc đạt được nhận thức tuyệt đối cũng được hợp
thành bởi vô vàn bộ óc hữu hạn của con người” [65, tr.724-725].


Từ những phân tích, trình bày trên đây cho thấy, tư duy con người là một sản phẩm
của tự nhiên - lịch sử - xã hội; là quá trình hoạt động nhận thức ở giai đoạn cao - giai
đoạn trìu tượng của sự phản ánh thực tại khách quan, là sự suy nghĩ của con người
nhằm nhận thức bản chất và cải tạo hiện thực khách quan. Quá trình phát triển tư
duy, của ý thức xã hội không thể hiểu được ngoài sự phụ thuộc vào thực tiễn con
người, vào tồn tại xã hội. Tuy nhiên, tư duy là một “sự tinh thần” có tính độc lập
tương đối, nó có lôgích phát triển nội tại của mình, chịu sự chi phối của các quy tắc,
nguyên tắc riêng. Đây là đặc điểm quan trọng cho phép chúng ta khẳng định việc đổi
mới tư duy không chỉ là tất yếu khách quan, mà còn khẳng định cơ sở của các kết quả,
sự thành công của nó .
1.1.2. Tư duy lý luận - hình thức phản ánh cao nhất thực hện khách quan bởi bộ
óc con người
Chúng ta có thể xem xét, phân loại tư duy theo những loại hình khác nhau. Xét theo
phạm vi lĩnh vực phản ánh, thì có tư duy về kinh tế, tư duy về quân sự, tư duy về
chính trị, tư duy về văn hóa...; theo phương pháp tư duy thì có phương pháp tư duy
siêu hình, phương pháp tư duy biện chứng; theo trình độ phản ánh thì có tư duy kinh
nghiệm, tư duy lý luận. Tư duy xét theo phạm vi lĩnh vực sẽ được đề cập ở chương
sau. Ở đây chỉ phác hoạ đôi nét về phương pháp tư duy siêu hình, phương pháp tư


Cho đến nay, phương pháp tư duy biện chứng có ba hình thức phát triển cơ bản là:
tư duy biện chứng tự phát, tư duy biện chứng duy tâm khách quan và tư duy biện
chứng mácxít.
Phương pháp tư duy biện chứng được hình thành từ rất sớm, khoảng thế kỷ VI, V
trước công nguyên. Trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ cổ đại, những quan diểm biện
chứng được thể hiện sâu sắc khi lý giải về các vấn đề bản thể luận, tự nhiên và xã
hội. Họ cho rằng, thế giới, vũ trụ trong đó có con người luôn vận động, biến đổi, là
kết quả của các sự tác động qua lại, sự chuyển hoá giữa hai mặt đối lập. Kế thừa
những thành tựu của triết học phương Đông cổ đại, các nhà triết học cổ đại Hy Lạp
với các đại biểu tiêu biểu là Hêraclít, Đêmôcrít, Aritxtốt đã phát triển những quan
điểm biện chứng lên một bước đáng kể. Tuy nhiên quan điểm của họ mới dừng lại ở
trình độ cổ sơ, chất phác và đây cũng chính là đặc điểm chủ yếu của tư duy biện
chứng thời kỳ cổ đại. Trình độ này thể hiện trong quan niệm của họ về vật chất
nguyên thuỷ đầu tiên của thế giới. Aritxtốt đã có những tư tưởng biện chứng về sự
chuyển hoá từ khả năng thành hiện thực khi khảo sát hình thức và phạm trù của tư
duy lý luận. Các nhà kinh điển mácxít đánh giá rất cao các nhà triết học Hy Lạp cổ
đại, coi họ là những nhà biện chứng đầu tiên trong lịch sử. Đó cũng chính là lý do mà
“chúng ta phải luôn luôn trở lại với thành tựu của cái dân tộc nhỏ bé đó, cái dân tộc
mà năng lực và hoạt động toàn diện của nó đã tạo ra cho nó một địa vị mà không một
dân tộc nào khác có thể mong ước được trong lịch sử phát triển của nhân loại” [65,
tr.491].
Phương pháp tư duy biện chứng đã có bước phát triển đáng kể trong triết học Hy
Lạp cổ đại, nhưng tiếc rằng nó đã hoàn toàn biến mất trong 1.500 năm tiếp theo. Đây


là một thực tế cho dù các triết học thời kỳ tan rã của xã hội chiếm hữu nô lệ cổ đại,
triết học trung cổ sơ kỳ và các triết học thời kỳ Phục hưng đã để lại không ít những
minh hoạ trong quan niệm biện chứng sâu sắc, nhưng về cơ bản nó vẫn bị thống trị bởi
phương pháp siêu hình [116, tr.14]. Phương pháp tư duy siêu hình trở thành phương

khác nhau về khả năng giữa cá nhân, cộng đồng xã hội người. Cùng với phạm trù tư
duy, phạm trù năng lực được các nhà nghiên cứu ở nước ta phân tích khá nhiều từ
sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng và xác định đây là vấn đề quan
trọng trong quá trình đổi mới tư duy. Có người cho rằng, năng lực tư duy là tổng hợp
những phẩm chất trí tuệ đáp ứng yêu cầu nhận thức thế giới và bản thân con người,
đảm bảo cho hành động sáng tạo, nó biểu hiện ở khuynh hướng nhận thức và hành
động, ở kết quả xử lý thông tin và nhất là ở kết quả hành động [60, tr.48]. Có các tác
giả đã phân tích yếu tố cấu thành năng lực tư duy bao gồm năng lực nhận thức, khả
năng phát triển tri thức và năng lực vận dụng sáng tạo tri thức trong hoạt động thực
tiễn. "Năng lực tư duy là tổng hợp những khả năng ghi nhớ, tái hiện, trừu tượng hóa,
khái quát hoá, liên tưởng, luận - giải, và xử lý trong quá trình phản ánh, phát triển trí
thức và vận dụng đúng vào thực tiễn trên cơ sở quy luật khách quan mang lại những
kết quả nhất định [95, tr.15 - 16].



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status