1Luận văn
Thị trường tài chính và vai trò
của thị trường tài chính trong
việc góp phần thúc đẩy sản
xuất phát triển và nâng cao
hiệu quả sử dụng các nguồn
tài chính
2
LỜI NÓI ĐẦU
Thị trường tài chính - một thị trường đang trên đà hình thành là nơi diễn ra các
hoạt động luân chuyển, đầu tư các nguồn lực xã hội, cung ứng các nguồn vốn cho
hoạt động kinh tế. Điều này đã góp phần làm thay đổi sâu sắc, từ những thói quen
tiêu dùng, tiết kiệm tiền nhãn rỗi trong tiêu dùng đến những bước phát triển vĩ mô
đánh dấu sự hoàn thiện của nền kinh tế thị trường. Nó góp một phần đắc lực cho
công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước tạo thế và lực mới cho dân tộc ta
bước vào thế kỷ XXI.
Tuy vậy, sau 15 năm đổi mới, thị trường tài chính còn là một vấn đề khá mới
mẻ khi mà phát triển và hoàn thiện thị trường tài chính là một tất yếu khách quan
cho phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Những hình thành ban đầu còn nhỏ bé,
manh mún, chưa thực sự tạo được động lực cho phát triển. Chúng ta không chỉ tụt
hậu so với sự phát triển hàng trăm năm của thị trường tài chính thế giới mà còn so
với cả sự phát triển của khu vực.
Đặc biệt, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực năm 97 xảy ra còn
để lại nhiều hậu quả nặng nề buộc chúng ta phải nhận thấy rằng vấn đề phát triển và
hoàn thiện thị trường tài chính càng trở nên quan trọng hơn, cấp thiết hơn cho việc
III. Phát triển hoàn thiện TTTCVN giai đoạn hiện nay.
1. Hoàn thiện TTTC là tất yếu khách quan.
2. Các giải pháp chung cho phát triển, hoàn thiện TTTC.
3. Xây dựng mô hình cho các loại thị trường VN.
Kết luận chung.
4
TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
1. Tiền đề ra đời và tồn tại của thị trường tài chính.
Tài chính, thị trường tài chính (TTTC) chỉ ra đời và tồn tại trong những điều
kiện lịch sử nhất định, khi mà những hiện tượng kinh tế xã hội khách quan xuất
hiện, tồn tại.
Như vậy, phạm trù TTTC cần được đánh giá xem xét như là một vấn đề kinh
tế xã hội khách quan, nó có tính kinh tế và lịch sử.
Cùng với sự tan rã của chế độ công xã nguyên thủy, phân công lao động xã hội
và chế độ tư hữu phát triển bước đầu hình thành nên một nền kinh tế hàng hoá giản
đơn. Tiền tệ cũng xuất hiện như một đòi hỏi khách quan để có thể trao đổi, mua bán
hàng hoá.
Chủ nghĩa tư bản trải qua quá trình hình thành và phát triển đã đưa kinh tế
hàng hoá lên thành kinh tế thị trường, đưa ra những tiền đề cần thiết để nảy sinh,
hình thành TTTC. Như vậy sự phát triển của kinh tế thị trường sự tham gia của tiền
tệ vào hoạt động kinh tế, sự tích lũy tập trung tư bản là những tiền tệ quan trọng
hình thành TTTC.
Các nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển và
hoàn thiện TTTC, từ việc in ấn, phát hành đều lưu thông, huy động tiền tệ và các
nguồn lực sản xuất quốc gia đến việc phân bổ các nguồn lực tài chính ra toàn xã hội
và còn vượt qua khỏi phạm vi quốc gia hình thành nên TTTC quốc tế.
Những nhân tố trên đã tạo điều kiện cho sự phát triển của TTTC và ngược lại,
các nguồn lực tài chính với các loại hàng hoá đặc biệt, đó là vốn, quyền sử dụng
vốn. Các công cụ chủ yếu trên TTTC là các loại chứng khoán có giá đưa lưu hành
qua lại trong các hoạt động tài chính.
Thị trường tài chính có một số vai trò chủ yếu sau:
+ TTTC đóng vai trò to lớn trong việc thu hút các nguồn lực tài chính nhàn rỗi
trong xã hội tài trợ cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội. Vốn là tiền đề, là cơ sở cho
hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, là một trong ba yếu tố
đầu vào quan trọng nhất của sản xuất (lao động, kỹ thuật), thiếu vốn lại là trở ngại
chính kìm hãm sự phát triển kinh tế đất nước, đặc biệt là giai đoạn CNH, HĐH. Nền
kinh tế phát triển nhanh đòi hỏi phỉa sử dụng tối đa các nguồn lực tài chính. Thông
qua cơ chế hoạt động của TTTC đã thu hút tất cả những nguồn vốn nhỏ bé, phân tán
rải rác thành những nguồn lực to lớn tài trợ kịp thời cho nhu cầu phát triển kinh tế.
+ TTTC đóng vai trò quan trọng nâng cao hiệu quả vốn tài chính, tạo điều kiện
thuận lợi dễ dàng cho việc luân chuyển vốn từ lĩnh vực kém hiệu quả sang lĩnh vực
kinh doanh đạt hiệu quả cao.
6
Sử dụng vốn - hàng hoá luộn phải trả một giá nhất định, điều đó buộc người sử
dụng vốn phải quan tâm đến hiệu quả sử dụng đồng vốn đảm bảo phương án kinh
doanh tối ưu, đưa ra các biện pháp từ đa giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất
và trả lãi của vốn. Mặt khác, do sự tự do lựa chọn hình thức đầu tư, sự dễ dàng mua
đi bán lại giúp luân chuyển vốn trong nền kinh tế được linh hoạt hơn.
+ TTTC đóng vai trò quan trọng để thực hiện các chính sách tiền tệ và chính
sách tài chính, điều hoà các hoạt động kinh tế xã hội, thực hiện giám sát điều chỉnh
nền kinh tế vĩ mô.
Thông qua việc sử dụng các công cụ tài chính trên thị trường, các hệ thống
giám sát của nhà nước có thể theo dõi sát sao các hoạt động không chỉ trong lĩnh
vực tài chính tiền tệ mà cả sản xuất kinh doanh.
Chính phủ có thể điều tiết lượng cung - cầu tiền tệ đảm bảo bình ổn hoạt động
của nền kinh tế, bù đắp thâm hụt kích cầu tiêu dùng. Mặt khác, nhà nước có thể
Thông qua cơ chế hoạt động của các tổ chức tài chính trung gian, các công cụ
nợ được huy động từ những nguồn lực tài chính nằm rải rác, thậm chí là rất nhỏ bé
về mặt giá trị. Từ những nguồn vốn huy động được, tổ chức tài chính cho vay đối
với doanh nghiệp sản xuất, tiêu dùng của chính phủ, dân chúng, việc cho vay được
dựa trên sự thoả thuận của hai bên và cung cầu trên thị trường là cơ sở ấn định giá
của vốn - hàng hoá.
Tuỳ vào mục đích vay mà có thể có những kỳ hạn khác nhau, mỗi kỳ hạn
thường có lãi suất ổn định cho cả kỳ vay. Tuy vậy, các khoản vay dài hạn thường có
lãi suất cao hơn các khoản vay ngắn hạn do được sử dụng đầu tư vào các ngành lâu
dài và ổn định lực, tuy vậy rủi ro cũng cao hơn. Các khoản vay dài hạn (thường từ
trên 3 đến 5 năm) cần được khuyến khích để đầu tư vào xây dựng các công trình lớn
đòi hỏi vốn lớn, dài hạn, chậm thu hồi nhưng rất cần thiết cho nền kinh tế.
Hoạt động trên thị trường nợ phản ánh mối quan hệ giữa người cho vay và
người đi vay, tuy vậy mối quan hệ đó là rất phức tạp, chồng chéo và có thể diễn ra
nhiều lần cho cùng một khoản vốn. Một cá nhân, tổ chức có thể vừa là người đi vay,
cũng lại là người cho vay, chẳng hạn như các tổ chức tài chính trung gian, các công
ty sản xuất
Lãi suất trên thị trường tác động lớn vào hoạt động của thị trường nợ, nó quyết
định đến cung cầu vốn nợ và cả thời hạn của các khoản vay. Điều chỉnh một mức lãi
suất ổn định, hợp lý sẽ làm cơ sở cho tính ổn định thị trường.
b. Thị trường vốn cổ phần.
Là một bộ phận của TTTC, hoạt động thông qua việc phát hành mua bán cổ
phiếu, trái phiếu. Các cổ phiếu, trái phiếu là các chứng từ công nhận quyền góp vốn
của cổ đông.
Thông qua cơ chế hoạt động huy động vốn của các công ty cổ phần, các công
ty này phát hành cổ phiếu, trái phiếu mà hiện nay chủ yếu là trên TTCK, các nguồn
8
vốn nhãn rỗi sẽ trực tiếp đầu tư vào hoạt động ở các công ty. Vốn được thu hút từ
mọi nguồn cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp và được thu hút vào các công ty cổ phần
Là một bộ phận của TTTC mua bán các công cụ ngắn hạn.
9
Các công cụ nợ ngắn hạn có đặc trưng cơ bản là: Có tính lỏng cao, thời gian
lưu hành luân chuyển ngắn và chi phí chuyển về tiền mặt thấp.
Các công cụ này tham gia trên thị trường tiền tệ ít rủi ro do thời gian ngắn. Do
đó, giá cả trong thị trường tiền tệ là khá ổn định.
Trong thị trường tiền tệ, tiền là một hàng hoá đặc biệt, nó phụ thuộc vào sự
phát triển của kinh tế thị trường mà ngân hàng và các tổ chức tài chính trung gian
cùng tham gia hoạt động. Lãi suất của nó phụ thuộc vào cung cầu tiền tệ trên thị
trường và kiểm soát tiền tệ luôn luôn là công việc của chính phủ và mọi ngân hàng
trung ương.
Tham gia vào thị trường tiền tệ gồm có các ngân hàng thương mại, các tổ chức
tài chính phi ngân hàng, kho bạc, NHTW, các doanh nghiệp, chính phủ
Thị trường tiền tệ đóng vai trò:
+ Tạo môi trường đầu tư sinh lời cho các cá nhân và các tổ chức tài chính đầu
tư ngắn hạn.
+ Đảm bảo tính hiệu quả hệ thống, ổn định của các ngân hàng thương mại
+ Giúp NHTW thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
Các bộ phận chủ yếu của thị trường tiền tệ.
Thị trường tín phiếu kho bạc chủ yếu là chính phủ phát hành trái phiếu nhằm
bù đắp phần bội chi ngân sách và nhu cầu chi tiêu của mình.
Thị trường nội tệ - liên ngân hàng nhằm đảm bảo điều hoà về vốn hoạt động
trong hệ thống ngân hàng.
Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng tổ chức mua bán ngoại tệ giữa các ngân
hàng được kinh doanh ngoại tệ.
Thị trường tín dụng thể hiện quan hệ vay mượn sử dụng vốn lẫn nhau giữa các
pháp nhân, thể nhân trong nền kinh tế.
Ngoài ra còn thị trường thương phiếu, kỳ phiếu ngân hàng chủ yếu tham gia
phát hành các công cụ vay ngăn hạn.
3. Dựa vào cơ chế hoạt động của TTTC: Thị trường tài cấp I và cấp II.
a. Thị trường cấp I: (sơ cấp).
Là nơi phát hành các công cụ tài chính, được bán trong phạm vi hẹp giữa các
nhà phát hành và những người mua đầu tiên.
Trong quá trình phát hành, người phát hành nhìn chung không giao dịch trực
tiếp với người mua mà cần thông qua các trung gian xử lý, tức là những người môi
giới. Do đó thị trường cấp I là thị trường phát hành các công cụ tài chính lần đầu
tiên và còn được gọi là thị trường môi giới thông thường, người mua đầu tiên là các
11
ngân hàng, các công ty kinh doanh chứng khoán, các nhà môi giới và các nhà kinh
doanh khác.
Phát hành trên thị trường sơ cấp mới là mục đích tài trợ cho nhu câùa vốn của
công ty phát hành. Tuy nhiên, phạm vi trên thị trường sơ cấp thường diễn ra hẹp,
thông tin mua bán ít và chủ yếu là dành cho các nhà chuyên môn kinh doanh ở thị
trường sơ cấp. Hoạt động phát hành không diễn ra ở một trụ sở cố định và hầu như
mang tính nội bộ.
Tuy vậy, giá cả, số lượng trên thị trường cấp I lại là cơ sở cho thị trường cấp II
hoạt động vì các công cụ tài chính không chỉ được phát hành một lần, nó còn được
tiếp tục mua đi bán lại trên thị trường cấp II.
b. Thị trường cấp II:
Diễn ra các hoạt động mua đi bán lại các công cụ tài chính đã được phát hành
trên thị trường cấp I.
Các chứng khoán ở đã được mua ở thị trường cấp I do nhiều nguyên nhân đã
được các nhà đầu, môi giới thu hút sự chú ý của nhiều cá nhân, tổ chức khác. Đây
mới chính là nơi giao dịch hàng ngày mua đi lại - bán lại kiếm lời trên TTCK.
Lúc này, người bán là các nhà đầu tư đầu tiên, người mua là tất cả các cá nhân,
tổ chức muốn đầu tư, kinh doanh kiếm lời.
Phát hành trên thị trường cấp II nói chung không có mục đích tài trợ vốn cho
công ty phát hành, nhưng phạm vi diễn ra rộng lớn và thông tin phong phú, phổ
Cổ phiếu có mệnh giá trên cổ phiếu song không có lãi suất, tỷ lệ lợi tức cố
định mà hoạt động dựa trên khả năng thu lợi nhuận của công ty vào một giai đoạn
nhất định. Cổ phiếu có khả năng thu lợi tức cao, hấp dẫn song cũng có mức độ rủi
ro rất cao.
Gồm có cổ phiếu ký danh, vô danh, ưu đãi và thông thường. Mỗi loại có
những thuận lợi kvà ràng buộc riêng.
+ Trái phiếu là công cụ vay nợ dài hạn của chính phủ, doanh nghiệp trái phiếu
chính phủ, vay để thu hút nguồn vốn trung và dài hạn, đặc biệt là dài hạn cho nhu
cầu xây dựng, đầu tư các công trình lớn của nền kinh tế, lãi suất cao hơn lãi suất trái
phiếu kho bạc do vay dài hạn và củng cố độ an toàn khá cao. Đầu tư vào trái phiếu
chính phủ là đầu tư mang tính dài hạn và an toàn.
Trái phiếu doanh nghiệp do các công ty phát hành, lãi suất hấp dẫn nhưng có
độ rủi ro khá cao. Đây cũng là khoản đầu tư dài hạn của những người cho vay mạo
hiểm.
Các loại trái phiếu gồm có: trái phiếu vay đơn, tiền gốc và lãi được thanh toán
một lần khi vào ngày đáo hạn.
Trái phiếu trả cố định sẽ thanh toán các khoản cố định đều nhau cho người
mua trong suốt kỳ hạn trái phiếu.
13
Trái phiếu coupon, tiền lãi trả hàng năm, tiền gốc trả vào ngày đáo hạn sẽ
được thanh toán theo mệnh giá.
Trái phiếu vĩnh cưủ: Người mua sẽ nhận một khoản thu nhập hàng năm cố
định đến lúc chết và không được rút tiền gốc, không thừa kế.
14
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM
I. KHÁI QUÁT SƠ LƯỢC VỀ TTTC VIỆT NAM:
1. Các điều kiện để hình thành TTTC Việt Nam.
TBCN xây dựng trên chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, thể hiện ở mối quan hệ người
bóc lột người.
Thứ hai, mục đích của TTTC Việt Nam là nhằm phục vụ làm sống động các
hoạt động tài chính - kinh tế, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường chủ
yếu dưới sự chỉ đạo có kế hoạch của nhà nước. Trong khi đó TTTC TBCN chịu sự
tác động của quy luật giá trị và mục đích là giá trị thặng dư TBCN.
Thứ ba, TTTC Việt Nam huy động vốn, lưu thông tiền tệ dưới sự chỉ đạo có
kế hoạch của nhà nước, tự giác vận động các quy luật khách quan đảm bảo ổn định
của nền kinh tế. Trong khi đó, TTTC TBCN phát triển nhiều khi mang tính tự phát
hay xảy ra khủng hoảng cơ cấu gây nhiều chấn động cho nền kinh tế.
Thứ tư, các chủ thể tham gia trên TTTC Việt Nam là độc lập, bình đẳng, toàn
bộ thị trường chịu sự giám sát và quản lý của ngân hàng nhà nước, trong khi đó chủ
thể trên TTTC TBCN thường là các nhà tư bản, tài phiệt, thị trường hay bị thao túng
bởi họ.
Thứ năm, TTTC Việt Nam hoạt động căn cứ vào phương châm chính sách của
chính phủ, thống nhất được các hoạt động tài chính từ TW đến địa phương. Còn
TTTC TBCN mang tính chất phân tán, nhiều khi không có sự thống nhất, vô kế
hoạch.
Thứ sáu, TTTC Việt Nam là TTTC độc lập, tự chủ không chịu sự can thiệp
của bất kỳ tổ chức tài chính quốc tế nào, căn cứ vào nhu cầu xây dựng đất nước để
mở rộng cửa ra bên ngoài song luôn thi hành các biện phaps bảo đảm đúng bản chất
của mình. Còn TTTC TBCN chịu ảnh hưởng tương đối lớn của TTTC quốc tế.
3. Chức năng của TTTC Việt Nam:
+ Tích lũy và huy động tất cả mọi nguồn lực tài chính trong xã hội, từ đó lưu
thông vốn cho nền kinh tế điều tiết từ người có vốn sang người cần vốn TTTC Việt
Nam tạo nên một chu trình cấp vốn thông qua chức năng của thị trường sơ cấp. Từ
thị trường này, các nguồn vốn nhỏ bé, phân tán của các hộ gia đình, các nguồn vốn
trong các tổ chức dư thừa chuyển thành vốn dài hạn cho các xí nghiệp. Thực tiễn tại
Việt Nam, nhu cầu vốn là rất lớn, giai đoạn 1996 - 2000 cần 41 tỷ cho đầu tư sản
xuất phát triển kinh tế. Trong nhân dân, do đời sống ngày càng được cải thiện, đã
Thực tiễn ở Việt Nam giai đoạn cuối những năm 80 đầu 90, nền kinh tế Việt
Nam bị lạm phát trầm trọng. (Năm 87: 429%; Năm 88: 682%; Năm 89: 348% )nhà
nước đã kịp thời khắc phục bội chi ngân sách, giảm cung ứng tiền tệ đặc biệt là
thông qua chính sách lãi suất cao (như lãi suất kỳ hạn 3 tháng giai đoạn 87 - 88:
8,0%/tháng, năm 89: 12%/tháng ) từ đó đẩy lùi siêu lạm phát, bình ổn được nền
kinh tế, ổn định đời sống nhân dân.
+ Tạo thêm công ăn việc làm, nâng cao và cải thiện tình hình phân phối thu
nhập cho đại bộ phận dân cư. Hoạt động của TTTC Việt Nam có thể trực tiếp hoặc
gián tiếp tạo ra công ăn việc làm. Các nghiệp vụ hoạt động tài chính yêu cầu có các
nhân viên quản lý, làm việc như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm Mặt khác và cũng
là điều chủ yếu là, thông qua các hoạt động thu hút và luân chuyển vốn trong nền
17
kinh tế, đảm bảo phát triển mở rộng sản xuất, từ đó nâng cao được công ăn việc làm
góp phần nâng cao thu nhập cho người lao động.
Các hoạt động tài chính - tín dụng - bảo hiểm cũng góp phần nâng cao thu
nhập (thông qua nghiệp vụ gửi tiền tín dụng, đầu tư chứng khoán ) và phân phối lại
thu nhập cho người lao động, cho đại bộ phận dân cư khi mà mức thu nhập của họ
còn thấp.
Điều này càng có nghĩa khi mà hàng năm chúng ta có thêm từ 1,5 - 1,7 triệu
người tham gia vào thị trường lao động.
+ Góp phần đắc lực vào tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở Việt Nam
hiện nay. Chúng ta bước vào công nghiệp hoá cũng như bước vào xây dựng CNXH
từ một khởi điểm rất thấp, lại bị tụt hậu xa so với thế giới và khu vực. Để có thể
hoàn thành công nghiệp hoávào năm 2020, không chỉ cần đủ vốn cho đầu tư phát
triển mà còn đảm bảo phát huy mạnh mẽ tất cả mọi năng lực sản xuất sẵn có, thu
hút công nghệ qua đầu tư. Điều này chỉ có thể thành hiện thực khi chúng ta phát
triển hoàn thiện một TTTC và hoà nhập được vào quốc tế, khu vực. Thông qua việc
tham gia vào hội nhập còn giúp chúng ta tiếp thu được năng lực sản xuất quốc tế,
tăng tích cạnh tranh phát huy lực lượng sản xuất. Do toàn cầu hoá buộc mỗi quốc
chi trả thanh toán khi gặp khó khăn.
Việc quy định hoạt động trong thị trường này còn nhiều hạn chế như yêu cầu
ngân hàng tham gia phải có tài khoản tại NHTW, có đại diện giao dịch tại trung tâm
giao dịch thị trường, đảm bào hệ thống thông tin nội bộ và nối mạng đặc biệt là
còn rất hạn chế cho một tổ chức tín dụng tham gia.
Điều đó làm cho hoạt động của thị trường chưa được rộng khắp và toàn diện,
chưa tạo được điều kiện thuận lợi cho nhiều ngân hàng thương mại và tổ chức tín
dụng cùng tham gia.
+ Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng mua bán ngoại tệ có tổ chức giữa các
ngân hàng được phép kinh doanh ngoại tệ. Đi vào hoạt động từ tháng 10/94 dưới sự
điều hành giám sát của nhà nước.
Thông qua hoạt động mua bán ngoại tệ, giữa các ngân hàng đã tác động đến
cung - cầu tiền tệ, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động ngoại thương xuất - nhập
khẩu, vay thương mại, đầu tư nước ngoài
Điều kiện tham gia vào thị trường ngoại tệ liên ngân hàng còn khắt khe hơn
tham gia vào thị trường nội tệ, đặc biệt là chỉ cho phép các ngân hàng là ngân hàng
được phép kinh doanh tiền tệ. Điều đó làm hạn chế nhiều đến quy mô thị trường,
song bước đầu hoạt động của thị trường là khả quan, đảm bảo nguồn cung cầu về
ngoại tệ.
+ Thị trường tín phiếu kho bạc và các công cụ nợ ngắn hạn khác:
Tín phiếu kho bạc được phát hành từ đầu những năm 90, có kỳ hạn ngắn, đã
đáp ứng được nhu cầu chi tiêu chính phủ và bù đắp thâm hụt ngân sách. Giai đoạn
19
đầu, trái phiếu và tín phiếu kho bạc tăng nhanh, từ 220,5 nghìn tỷ năm 91 lên 6.186
tỷ năm 97 và có lãi suất từ 9 - 12%/năm.
Hiện nay, đặc biệt sau năm 98, thị trường đi vào hoạt động trì trệ, mặc dù đã
có lúc nâng đến một mức lãi suất rất cao chưa từng có 2,1%/tháng (25,2%/năm)
năm 93 nhưng vốn huy động vẫn còn nhỏ bé so với tiềm năng.
Đối với thị trường thương phiếu, kỳ phiếu hoạt động còn nhỏ bé, chủ yếu mới
còn chậm, kém hiệu quả, nhiều doanh nghiệp sau cổ phần hoá không được thông tin
hoạt động.
Tuy vậy, sự ra đời của TTCK với 4 công ty được niêm yết bắt đầu gây dựng
cơ sở cho TTCK sau này (REE, SACOM, HAPHACO, TRANSIMEX). Các phiên
giao dịch đã bắt đầu sôi động mặc dù còn nhỏ bé, hàng giao dịch còn ít. Trước đó,
năm 97m, SACOM nhờ phát hành cổ phiếu (240.000 cổ phiếu mệnh giá 500.000đ)
mà tăng tài sản lên 10 lần, thông qua hoạt động giao dịch trên TTCK, các công ty
trên đã mở rộng được sản xuất kinh doanh, nâng cao được uy tín vị thế của mình
trên thị trường cạnh tranh tạo được những hướng đi mới. Nhìn chung TTCK Việt
Nam còn mới mẻ song bước đầu đã tạo lòng tin cho nhân dân.
Thực trạng TTTC Việt Nam.
Nhìn về tổng thể, số vốn huy động được trên TTTC tăng, nhưng tổng giá trị tín
phiếu cổ phiếu giai đoạn 91 - 97 đạt 2,5% GDP. Nó còn quá nhỏ bé so với nhu cầu
kinh tế xã hội (trong khi ở các quốc gia phát triển, khoản vay trong nước chiếm hơn
50% GDP).
Kho bạc nhà nước, theo ước tính, mới chỉ huy động được 15% số tiền nhàn rỗi
trong dân, khi mà lượng tiền này ước đạt 25 - 30 nghìn tỷ đồng. Lãi suất trái phiếu
luôn cao hơn lãi suất như là một điều không thực tế so với nhiều nước trên trong mà
một nguyên nhân chính là do sự yếu kém của hệ thống ngân sách, do tài sản này của
họ thiếu, nợ khó đòi tăng, tình hình kinh doanh khó khăn buộc phải tăng lãi suất tiền
gửi lên cao hơn quy định, do đó mà người dân thích gửi tiền vào ngân sách hơn là
mua trái phiếu cổ phiếu và trái phiếu công ty. Để có thể thu hút cổ phiếu đã phải
nâng lãi suất lên rất cao.
Hiện tại mới chỉ có khi bạc nhà nước và NHTW được quyền tham gia vào việc
phát hành vay nợ. Điều này, mặc dù thể hiện sự non yếu của thị trường về các thiết
chế thị trường khác vẫn chưa xuất hiện nhưng hiện tại là chấp nhận được.
Mặc dù còn nhiều yếu kém, bất cập, song về cơ bản, TTTC Việt Nam đã có
nhiều khởi sắc, đã thu hút được một lượng vốn nhất định cho đầu tư phát triển đất
nước. Bước đầu hình thành TTCK ở Việt Nam tạo cho mọi cá nhân tham gia, tiếp
xúc với một TTTC hiện đại, phát triển.
Đảng và Nhà nước.
Phát triển đồng bộ các ngành, lĩnh vực dựa trên việc khai thác tối đa các nguồn
lực về tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn lao động dồi dào và giá nhân công
thấp. Mặc dù vậy vẫn phải hướng nền kinh tế vào mô hình hướng về xuất khẩu mà
nhiều nước châu á (Nhật Bản, các nước NICs) đã rất thành công; ưu tiên vào các
ngành mũi nhọn và ngành thế mạnh: chế biến nông lâm thủy sản, dệt may, dầu khí
và đặc biệt là điện tử - tin học, ngành học có nhiều triển vọng. Luôn luôn coi nông
nghiệp là mặt trận hàng đầu do chúng ta có gần 80% dân số nông thôn, nâng cao thu
22
nhập cho họ sẽ là tăng thu nhập cho một bộ phận rất lớn dân cư, từ đó tăng được
tiêu dùng, tích lũy cho nền kinh tế và vượt được ra khỏi đường giới hạn khả năng
sản xuất.
Đối với Việt Nam, cần lưu ý rằng, phát triển hoàn thiện TTTC phải dựa trên
một nền kinh tế thị trường XHCN đề cao vai trò của Nhà nước và thành phần kinh
tế Nhà nước về quản lý kinh tế, dựa trên chế độ đa sở hữu song công hữu vẫn là ưu
thế, đại bộ phận nhân dân làm chủ.
+ Nâng cao vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô của nhà nước, đặc biệt là NHTW
cũng như kiện toàn hệ thống ngân hàng thương mại.
Đối với Nhà nước, cần có biện pháp quản hành chính song song với quản lý
kinh tế. Thông qua các chính sách tài khoá và tiền tệ có thể điều chỉnh ổn định nền
kinh tế vĩ mô.
Thực tiễn không chỉ đối với Việt Nam mà còn rất nhiều nhà nước khác, để đạt
được mục tiêu kinh tế này thì lại bị ảnh hưởng mục tiêu kinh tế khác. Chẳng hạn, để
giảm lạm phát thì có thể thất nghiệp tăng, để kích cầu nền kinh tế có thể dẫn đến
thâm hụt ngân sách, lạm phát tăng, hay tăng thuế thì giảm thâm hụt ngân sách song
kinh tế lại trì trệ vv Chính vì vậy, cần chú ý rằng nhà nước đang theo đuổi mục
tiêu vĩ mô nào, và khi thực thi sẽ ảnh hưởng như thế nào đến TTTC - tiền tệ, vì hầu
hết các chính sách vĩ mô đều tác động đến TTTC: lạm phát, tỷ giá hối đoái thâm hụt
ngân sách, lãi suất chiết khấu.v.v
doanh song vẫn phải phục tùng các yêu cầu vĩ mô tài chính của nhà nước và chấp
hành chính sách tài chính.
+ Cải tiến phương thức phát hành các công cụ tài chính, tăng thêm hàng hoá
giao dịch và khuyến khích mua đi bán lại trên TTTC.
Các công cụ tài chính như trái phiếu chính phủ, doanh nghiệp, cổ phiếu, tín
phiếu kho bạc, kỳ phiếu, thương phiếu
Hầu như hình thức phát hành còn mang tính nội bộ, chưa công khai nhiều khi
gây nên những thái độ tiêu cực trong nhân dân và nhiều nhà đầu tư. Do đó, đối với
các trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc, cần được thông báo rộng rãi trên các
phương diện thông tin đại chúng: truyền hình, phát thanh, báo chí đến mọi người
dân. Đồng thời tránh các thủ tục rườm rà, đặc biệt là nên nâng cao, tính lỏng của các
công cụ tài chính này sẽ góp phần đắc lực cho việc trao đổi, mua đi bán lại trên thị
trường cấp II.
Về trái phiếu doanh nghiệp, tránh tình trạng không công khai hoá thông tin
doanh nghiệp. Điều này gây tâm lý e ngại cho công chúng cũng như các nhà đầu tư.
Đặc biệt hiện nay rất nhiều ngân hàng thương mại không có tình hình tài chính lành
mạnh, thiếu thông tin công khai làm giảm hiệu năng của ngân hàng và hạn chế việc
24
thanh toán ngoài thị trường bằng các công cụ nợ này. Do đó, đi đôi và việc xã hội
hoá phát hành (phát hành rộng rãi) là việc xã hội hoá thông tin.
Để tăng hàng hoá giao dịch, đặc biệt là trên TTCK, cần khuyến khích tăng
cường phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Đặc biệt là tăng số công ty niêm yết trên thị
trường chứng khoán từ 4 công ty như hiện nay, có thể giảm số vốn quy định để
nhiều công ty có cơ hội tham gia.
+ Phát triển, đẩy nhanh ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động tài chính
đảm bảo hoạt động chính xác, kịp thời, an toàn.
Việc điện tử hoá các hệ thống giao dịch, trao đổi đảm bảo xử lý công bằng và
hình thành hệ thống giá thị trường tốt nhất cho các nhà đầu tư, cho phép các trung
tâm lớn ( ) kết nối với nhau tạo nên một thị trường thống nhất trên cả nước. Đây là
được tính hấp dẫn cho các nhà đầu tư chân chính. Luật cần được điều chỉnh kịp thời
cho phù hợp với sự phát triển của TTTC, đặc biệt là luật kinh tế, doanh nghiệp, tuy
vậy vẫn phải đảm bảo sự thích ứng kịp thời từ các doanh nghiệp. Cần tham khảo hệ
thống luật kinh tế từ các nước phát triển đảm bảo phù hợp mặt bằng chung. Hạn chế
tối đa các kẽ hở pháp luật gây nhiều hiệu quả cho TTTC và hoạt động sản xuất kinh
doanh.
+ Từng bước đưa TTTC Việt Nam hội nhập vào quốc tế và khu vực. Hội nhập
từng bước qua nhiều hoạt động: Đầu tư nước ngoài, vay thương mại, viện trợ ODA,
đầu tư chứng khoán
Thực hiện hợp lý giữa bảo hộ và mở cửa, đảm bảo cho TTTC Việt Nam hội
nhập song tránh bị phụ thuộc, lũng đoạn từ thị trường quốc tế, đảm bảo tranh thủ
vốn, công nghệ khoa học kỹ thuật cũng như các kinh nghiệm từ bên ngoài. Đây là
điều bắt buộc với chúng ta hiện nay trong xu thế quốc tế hoá các TTTC, do đó bước
đầu chúng ta có thể tham gia tích cực vào hoạt động của TTTC khu vực ASEAN,
Châu á - Thái Bình Dương.
Để việc hội nhập đạt được kết quả, cần sớm hoàn thiện TTTC với các hoạt
động trong nước, tạo sân chơi bình đẳng cho các cá nhân, tổ chức trong nước tham
gia và sớm hoàn chỉnh hệ thống pháp luật đồng bộ.
Xây dựng, hoàn thiện TTTC Việt Nam không phải là một việc đơn giản mà
chúng ta có thể thực hiện được ngay. Cần hoàn thiện từng bước, áp dụng đồng bộ
các giải pháp và đặc biệt chú ý răng TTTC Việt Nam chỉ có thể phát triển hoàn
thiện trong một môi trường xã hội ổn định có nền kinh tế thị trường phát triển và
một Nhà nước vững mạnh.
3. Xây dựng một mô hình cho các loại thị trường ở Việt Nam.
a. Thị trường tiền tệ.
Cùng với sự đổi mới của đất nước chuyển sang cơ chế thị trường, thị trường
tiền tệ cũng có những căn bản cả về nhận thức cũng như thực tiễn. Hiện nay, thị
trường tiền tệ đã được thừa nhận về lý luận cũng như thực tiễn của nó trong nền
kinh tế.