1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ……………………
TIỂU LUẬN Chế độ BHXH của người lao động giải quyết
chưa thoả đáng, trách nhiệm thuộc về ai? Lời mở đầu
phương thức quản lý BHXH cho phù hợp với sự đổi mới nền kinh tế - xã hội. Thực
hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII cùng với việc cải cách chế độ tiền
lương, các chế độ chính sách về BHXH cũng được cải cách một bước cơ bản. Sau
ngày Bộ luật lao động có hiệu lực thi hành, Chính phủ đã có Nghị định số 12/CP 3
ngày 26/1/1995 và số 45/CP ngày 15/7/1995 ban hành Điều lệ BHXH áp dụng đối
với cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước, người lao động ở các thành phần kinh
tế và lực lượng vũ trang. Đồng thời cũng đã ban hành Nghị định số 19/CP ngày
16/2/1995 thành lập BHXH Việt nam để giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo công
tác quản lý Quỹ BHXH và thực hiện các chế độ BHXH theo quy định của Pháp
luật. BHXH Việt nam được hình thành theo một hệ thống dọc từ trung ương đến
tỉnh, Thành phố và quận, huyện, bắt đầu đi vào hoạt động từ ngày 01/10/1995 trên
phạm vi cả nước.
Kể từ đó đến nay, ngành Bảo hiểm xã hội không ngừng xây dựng, phát triển
và trường thành về mặt tổ chức cán bộ, các chế độ chính sách về Bảo hiểm xã hội
ngày càng được xây dựng, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện để đáp ứng kịp thời với xu
thế phát triển của thời đại.
. Xuất phát từ điều kiện thực tiễn Quốc Hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Vịêt nam đã ban hành Luật Bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH11 ngày 29 tháng 6
năm 2006 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2007; riêng đối với bảo
hiểm xã hội tự nguyện thì có hiệụ lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2008, đối
với Bảo hiểm thất nghiệp có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2009. Gần
đây, Quốc Hội đã ban hành Luật bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 ngày 14 tháng 11
năm 2008 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2009.
Trong những năm qua, ngành Bảo hiểm xã hội đã đạt được nhiều thành tựu
quan trọng góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho cán bộ, công chức, quân nhân
và người lao động, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây
dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc. Hoạt động hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Kính mong được sự giúp đỡ, hướng dẫn của các Thầy giáo, cô giáo Trường
Chính trị Trần Phú Hà Tĩnh góp ý kiến bổ sung để tôi có thể hoàn thiện, nâng cao
kiến thức của mình phục vụ thiết thực cho công việc chuyên môn.
Phần I: Mô tả tình huống: 5
Một sáng mùa hè oi ả, vừa mở cửa phòng làm việc ở bộ phận giao dịch một
cửa Bảo hiểm xã hội huyện Cẩm xuyên, tôi nhìn thấy một người đàn ông dáng vẻ
mệt nhọc bước vào. Trên tay ông là quyển sổ Bảo hiểm xã hội và một số giấy tờ
khác, gương mặt rất buồn, trán lấm tấm mồ hôi. Tôi liền bước lại gần để hỏi ông
cần giải quyết việc gì. Từng lời chậm rãi, nghẹn ngào pha lẫn những giọt nước mắt
ông kể lại toàn bộ sự việc liên quan đến việc giải quyết chế độ BHXH cho con trai
ông.
Ông tên là Nguyễn Văn Tuân trú quán tại Thôn 2, xã C, huyện Cẩm xuyên,
Tỉnh Hà Tĩnh có con trai tên là Nguyễn Văn Thành sinh ngày 20/7 1982 là công
nhân Công ty M.
Công nhân Nguyễn Văn Thành có thời gian tham gia BHXH như sau:
Từ tháng 01/2005 đến tháng 12/2006 hệ số lương: 1,67 + 0,4 phụ cấp khu vực;
Từ tháng 01/2007 đến tháng 3/2008 hệ số lương: 1,67 (Từ tháng 1/2007 BHXH
không đóng phụ cấp khu vực)
Theo lời kể của ông Tuân thì tháng 4/2008 anh Nguyễn Văn Thành chưa
thực sự nghỉ việc tại Công ty M, đến sáng ngày 27/4/2008 (ngày chủ nhật) trên
đường lên Công ty để sáng thứ 2 làm việc thì anh đã bị tai nạn giao thông và chết
vào lúc 7 h sáng 27/4/2008. Gia đình đã gọi điện báo cho Công ty M và Công ty đã
hỗ trợ cho gia đình một phần tiền để gia đình lo mai táng cho anh Nguyễn Văn
Thành.
Đến tháng 7/2009 vừa qua, gia đình nhận được thông báo của Công ty M lên
trực tiếp công ty để làm thủ tục giải quyết chế độ cho anh Thành. Ông Tuân một
mình lặn lội gần 100 km lên tận Công ty con trai làm việc thì được cán bộ phòng tổ
công bằng và dân chủ.
Công chức, viên chức nhà nước là những người đại diện cho Nhà nước quản
lý xã hội bằng pháp luật. Công cụ chính quản lý xã hội của họ là pháp luật và bản
thân họ cũng có nghĩa vụ phải tuân thủ pháp luật, không được làm trái với những
gì mà pháp luật qui định. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay có không ít một số cán 7
bộ công chức Nhà nước có chức có quyền đã lợi dụng chức quyền để sách nhiễu
nhân dân hoặc do trình độ chuyên môn thấp kém, thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu
hiểu biết về chính sách của Nhà nước dẫn đến ảnh hưởng quyền lợi của người dân,
thiếu công bằng xã hội, nhân dân mất lòng tin vào chính sách của Đảng và pháp
luật của Nhà nước.
2. Quan điểm của Đảng:
Bảo hiểm xã hội là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Nhà nước tham
gia Bảo hiểm xã hội với tư cách là người bảo hộ cho người lao động. Sự bảo hộ
của Nhà nước thể hiện ở việc đề ra chính sách Bảo hiểm xã hội tác động và điều
tiết các hoạt động Bảo hiểm xã hội đưa bảo hiểm xã hội vào quỹ đạo chung của
chính sách kinh tế xã hội.
Tại Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng Sản
Việt Nam, với quan điểm chỉ đạo của Đảng tiếp tục hoàn chỉnh thể chế thị trường
lao động, bảo đảm hài hoà lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động.
Đổi mới hệ thống bảo hiểm xã hội, đa dạng hoá hình thức bảo hiểm và phù hợp với
kinh tế thị trường; xây dựng chế độ bảo hiểm thất nghiệp, thực hiện tốt chế độ bảo
hộ lao động, an toàn lao động và vệ sinh lao động. Để tăng cường lãnh đạo thực
hiện các chế độ bảo hiểm xã hội theo luật định cần phát huy vai trò lãnh đạo của tổ
chức Đảng ở các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh trong việc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội đối với người lao
động, trọng tâm là thu nộp bảo hiểm xã hội, bảo đảm nguyên tắc có tham gia thì
mới hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội. Đồng thời, chỉ đạo thực hiện tốt công tác
Phần thứ III: Phân tích xử lý tình huống:
1/ Phân tích sự đúng, sai của tình huống:
Qua việc nghiên cứu tình huống ta thấy đây là một vấn đề cần nghiên cứu
kỹ, phân tích cụ thể để tìm ra sự đúng, sai trong tình huống này. 9
Rõ ràng, ông Nguyễn Văn Tuân thắc mắc tại sao con ông chết vào ngày 27
tháng 4 năm 2008 (Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động ngày 02 tháng 4 năm
2008) lại không được giải quyết chế độ tử tuát là có cơ sở. Như vậy, anh Nguyễn
Văn Thành thuộc đối tượng bảo lưu thời gian đóng Bảo hiểm xã hội theo qui định
tại điều 57 Luật bảo hiểm xã hội số 71/QH ngày 29 tháng 6 năm 2006 và bị chết
trong thời gian bảo lưu. Gia đình đã thông báo cho Công ty M và đã được Công ty
hỗ trợ một phần chi phí mai táng phí. Như vậy, mọi sự việc về cái chết của anh
Nguyễn Văn Thành, Công ty M biết rõ. Vậy thì tại sao người làm công tác chế độ
bảo hiểm xã hội của đơn vị không hướng dẫn ông Tuân làm thủ tục đề nghị giải
quyết chế độ tử tuất cho anh Thành mà lại hướng dẫn ông Tuân làm thủ tục giải
quyết chế độ trợ cấp một lần? Điều đó, chứng tỏ Công ty M cũng có trách nhiệm
với quyền lợi của người lao động là đã đề nghị giải quyết trợ cấp một lần nhưng do
thiếu hiểu biết về chế độ chính sách bảo hiểm xã hội dẫn đến việc quyền lợi của
người lao động chưa được đảm bảo mà đúng ra là được giải quyết chế độ tử tuất
theo qui định tại điều 63, điều 66, điều 67 Luật bảo hiểm xã hội số 71/QH11 ngày
29 tháng 6 năm 2006; điều 35, điều 38, điều 39 Nghị định số 152/NĐ-CP ngày 22
tháng 12 năm 2006.
Vấn đề thứ hai: Ông Nguyễn Văn Tuân do không hiểu biết về chế độ chính
sách bảo hiểm xã hội nên hoàn toàn thụ động khi được Công ty M hướng dẫn làm
thủ tục đề nghị giải quyết trợ cấp một lần nên ông đã tự mình ký tên Nguyễn Văn
Thành vào mục người làm đơn và đề nghị Uỷ ban nhân dân xã C ký xác nhận.
Vấn đề thứ ba: Uỷ ban nhân dân xã C cấp đơn đề nghị hưởng trợ cấp một lần
cho anh Nguyễn Văn Thành vào ngày 10 tháng 8 năm 2009 (trong khi đó anh
thần.
3/ Hậu quả của tình huống:
Việc nghiên cứu hậu quả của tình huống nhằm giúp ta tránh được sự cứng
nhắc, nguyên tắc, giáo điều trong việc thực hiện chế độ chính sách của người lao 11
động. Đồng thời, lường trước được hậu quả của tình huống giúp ta có thể đề ra giải
pháp hợp lý, phù hợp với điều kiện thực tế nhằm giải quyết đúng, kịp thời, đảm
bảo quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm xã hội. Từ đó, có biện pháp xử lý việc
chấp hành không đúng qui định trong việc thực hiện chế độ chính sách của Nhà
nước và đề ra những biện pháp phù hợp tránh lạm dụng quỹ bảo hiểm xã hội.
Tôi xin nêu một số hậu quả xảy ra với tình huống trên.
- Nếu xử lý giải quyết một cách máy móc thì người lao động sẽ bị thiệt thòi
về quyền lợi chính đáng do sự thiếu hiểu biết của cán bộ làm công tác chuyên môn
tại đơn vị sử dụng lao động.
- Nếu không điều chỉnh kịp thời những sai sót trên thì dẫn đến người dân có
thể bị mất niềm tin vào chính sách của Nhà nước ta. Trong khi đó, Đảng ta chủ
trương quan tâm đúng mức tới quyền lợi của người lao động, một ưu việt của Chủ
nghĩa xã hội so với chủ nghĩa tư bản.
- Có thể dẫn đến đổ lỗi trách nhiệm cho nhau.
- Nếu quá chủ quan trong việc tiếp nhận hồ sơ giải quyết có thể dẫn đến việc
lợi dụng lập hồ sơ để được xét hưởng trợ cấp Bảo hiểm xã hội có lợi hơn về mặt
kinh tế.
Phần thứ IV: Xây dựng và lựa chọn phương án xử lý tình huống
1 . Xây dựng phương án :
Cơ sở để xây dựng phương án:
- Theo qui định điều 63 Luật bảo hiểm xã hội số 71/QH ngày 29 tháng 6
năm 2006, điều 35 nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 qui
+ Đảm bảo quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm xã hội, không mất nhiều
thời gian của đối tượng, không còn sự khiếu kiện.
+ Tạo được niềm tin của nhân dân.
Nhược điểm : 13
+ Nếu thực hiện theo phương án này thì còn chủ quan, thiếu sự kiểm tra thực
tế có thể dẫn tới thực hiện xét duyệt chế độ sai quy định, gây hậu quả lâu dài. Có
thể gây thất thoát nghiêm trọng ảnh hưởng đến nền kinh tế của đát nước.
c. Phương án 3:
Bảo hiểm xã hội huyện Cẩm xuyên mời ông Nguyễn Văn Tuân trực tiếp
trình bày lại toàn bộ sự việc nhằm làm rõ thêm đơn đề nghị của ông. Từ đó, tư vấn
để ông hiểu hơn về chế độ chính sách Bảo hiểm xã hội và quyền lợi, nghĩa vụ của
người tham gia bảo hiểm xã hội. Đồng thời, hiểu rõ hơn trách nhiệm của chủ sử
dụng lao động đối với người lao động. Hướng dẫn ông nộp đầy đủ hồ sơ trợ cấp
một lần đã được Bảo hiểm xã hội tỉnh Hà Tĩnh giải quyết và kèm theo giấy chứng
tử của anh Nguyễn Văn Thành đã được Uỷ ban nhân dân xã C cấp ngày 01 tháng
09 năm 2009.
Tiếp theo, Bảo hiểm xã hội huyện sẽ trực tiếp làm việc với Công ty M tìm ra
nguyên nhân từ đó đưa ra hướng giải quyết đúng qui định. Đồng thời, Bảo hiểm xã
hội huyện Cẩm xuyên sẽ trực tiếp xuống tận địa bàn nơi gia đình ông Tuân sinh
sống để xác minh ngày, tháng, năm chết thực tế của anh Nguyễn Văn Thành. Từ
đó, có cơ sở để làm việc với Uỷ ban nhân dân xã C. Nếu thực tế anh Thành chết
đúng với ngày tháng năm đã ghi trên giấy chứng tử Uỷ ban nhân dân xã C đã cấp
thì Bảo hiểm xã hội huyện sẽ phối hợp với chính quyền địa phương hướng dẫn ông
Tuân làm các thủ tục tiếp theo để trình Bảo hiểm xã hội tỉnh xem xét giải quyết.
Ưu điểm:
+ Làm rõ được trách nhiệm của ủy ban nhân dân xã C là phải thường xuyên
cập nhật sổ quản lý hộ khẩu các đối tượng đã chết, tăng cường công tác kiểm tra
đề nghị Bảo hiểm xã hội huyện Cẩm xuyên, Bảo hiểm xã hội tỉnh Hà Tĩnh xem xét
giải quyết. Đồng thời, có trách nhiệm xử lý vi phạm hành chính đối với cán bộ
chuyên môn đã tham mưu cho lãnh đạo ký xác nhận. 15
Bước 3: Yêu cầu Công ty M làm tờ trình gửi Bảo hiểm xã hội tỉnh Hà Tĩnh,
Bảo hiểm xã hội huyện Cẩm xuyên giải trình sự việc đã lập hồ sơ đề nghị giải
quyết sai chế độ cho người lao động và đề nghị Bảo hiểm xã hội các cấp xem xét,
giải quyết lại chế độ BHXH cho anh Thành.
Bước 4: Bảo hiểm xã hội huyện Cẩm xuyên có trách nhiệm hướng dẫn ông
Tuân lập đầy đủ thủ tục hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ tử tuất cho anh Thành
hoàn chỉnh gồm các giấy tờ sau:
- Sổ BHXH và quyết định hưởng trợ cấp một lần của anh Nguyễn Văn
Thành;
- Đơn đề nghị không nhận trợ cấp một lần và đề nghị được hưởng chế độ tử
tuất: 01 bản;
- Tờ khai hoàn cảnh gia đình: 04 bản;
- Giấy chứng tử: 4 bản (1 bản chính +3 bản sao hoặc công chứng)
Bước 5: Ông Tuân trực tiếp đến bộ phận giao dịch một cửa Bảo hiểm xã hội
huyện Cẩm xuyên nộp toàn bộ hồ sơ nêu trên. Cán bộ chuyên trách tại bộ phận
giao dịch một cửa Bảo hiểm xã hội huyện kiểm tra hồ sơ đầy đủ tiếp nhận, lập
phiếu hẹn trả kết quả trong thời gian là 15 ngày làm việc theo Quyết định số
02/QĐ-BHXH ngày 15 tháng 02 năm 2009 của Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện
Cẩm xuyên và Quyết định số 132/QĐ-BHXH ngày 11 tháng 02 năm 2009 của
Giám đốc bảo hiểm xã hội tỉnh Hà Tĩnh.
Bước 6 : Bộ phận giao dịch một cửa Bảo hiểm xã hội huyện Cẩm xuyên
chuyển bàn giao cho bộ phận chế độ bảo hiểm xã hội xử lý nghiệp vụ. Tiếp theo,
bộ phận chế độ bảo hiểm xã hội phối hợp với bộ phận kế toán đối chiếu với danh
sách chuyển nguồn tháng 8 năm 2009 để xem số tiền trợ cấp một lần của anh
quam tâm đối với quyền lợi của người lao động .Việc thực hiện các chế độ chính
sách Bảo hiểm xã hội theo cơ chế mới phù hợp với cơ chế thị trường, dựa trên
nguyên tắc có đóng BHXH mới được hưởng các chế độ BHXH là hoàn toàn đúng . 17
1. Gần 3 năm thực hiện Luật bảo hiểm xã hội số 71/QH 11 ngày 29 tháng 6
năm 2006 chúng ta thấy rằng: Luật bảo hiểm xã hội là hành lang pháp lý cao nhất
để mọi tổ chức, cá nhân chấp hành qui định về chính sách bảo hiểm xã hội theo qui
định của Pháp luật. Trong quá trình thực hiện công tác ngành Bảo hiểm xã hội đã
góp phần quan trọng trong việc thực hiện chính sách Bảo hiểm xã hội của Đảng và
Nhà nước đề ra, góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình thực
hiện vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại và bất cập.
- Về qui định mức đóng vào quỹ ốm đau và thai sản bằng 3%; trong đó
người sử dụng lao động giữ lại 2% để chi trả kịp thời cho người lao động đủ điều
kiện hưởng các chế độ ốm đau, thai sản. Thực tế, hiện nay ở Hà Tĩnh phần lớn các
đơn vị sử dụng lao động có số lao động ít, số 2% tổng quỹ lương để lại hàng quý là
rất nhỏ, không đủ để chi trả cho người lao động khi họ hưởng chế độ thai sản.
Trong khi đó, nhiều đơn vị nguồn kinh phí hạn hẹp nên họ không chủ động được
nguồn kinh phí để thanh toán cho người lao động mà phải chờ đến đầu quý sau
quyết toán xong với cơ quan Bảo hiểm xã hội mới có tiền để trả cho người lao
động. Như vậy, chúng ta không thể nói là chi trả kịp thời chế độ ốm đau, thai sản
cho người lao động. Xuất phát từ những bất cập đó Nhà nước chúng ta cần phải có
giải pháp khắc phục tình trạng trên để đảm bảo quyền lợi cho người lao động khi
tham gia bảo hiểm xã hội.
- Về chế độ trợ cấp tuất hàng tháng cho các đối tượng là con từ 15 tuổi trở
lên; vợ, cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ, cha chồng, mẹ vợ, mẹ chồng nếu dưới 60 tuổi đối
nam, dưới 55 tuổi đối với nữ và bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên mới
được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng. Nhưng việc qui định thời hạn giới thiệu giám
định mức suy giảm khả năng lao động trong vòng 2 tháng kể từ khi người lao động
nhiệm, biết tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân. Luôn đấu tranh với tệ tham
nhũng, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, thiếu tinh thần trách nhiệm trong xử lý 19
nghiệp vụ hàng ngày. Làm được như vậy là chúng ta đã góp phần làm cho bộ máy
Nhà nước ta ngày càng vững mạnh.
Kết luận
Bảo hiểm xã hội có vị trí quan trọng đối với công tác an sinh xã hội của mỗi
quốc gia. Cùng với yêu cầu và nhiệm vụ của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa,
từng thời kỳ khác nhau, các quy định về chính sách Bảo hiểm xã hội được sửa đổi
bổ sung một cách linh hoạt, phù hợp nhằm đáp ứng, huy động tối đa về sức người,
sức của của nhân dân cho công cuộc Cách mạng, ổn định dần dần và ngày càng
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động.
Vấn đề mà tình huống đưa ra đã được phân tích đúng, sai, có phương án tối
ưu để thực hiện giải quyết chế độ Bảo hiểm xã hội cho người lao động, vừa đúng
với các qui định của nhà nước, vừa thấu tình đạt lý. Điều quan trọng nhất là chế độ
21