TIỂU LUẬN: TIỀM NĂNG VÀ THÁCH THỨC CHO NỀN CNSH VIỆT NAM - Pdf 12

Trang 1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG…………………

TIỂU LUẬN TIỀM NĂNG VÀ THÁCH THỨC
CHO NỀN CNSH VIỆT NAM Trang 2 LỊCH SỬ CỦA NGÀNH CÔNG NGHỆ SINH HỌC ĐỘNG VẬT
Ngành công nghệ sinh học động vật có nhiều phân ngành nhỏ mỗi phân ngành lại có một
lịch sử phát triển riêng. Sau đây là hai phân ngành nổi bật:

tiêm dna vào tiền nhân của hợp tử là phương pháp có hiệu quả nhất được sử dụng rộng rãi
nhất để tạo động vật chuyển gen sử dụng phương pháp này các gen chuyển có chiều dài
50kb của virus sinh vật tiền nhân thực vật động vật không xương sống hoặc động vật có
xương sống có thể được chuyển vào genome của động vật có vú và chúng có thể được
biểu hiện ỏ cả tế bào sinh dưỡng và tế bào sinh sản
1.2. Lịch sử của công nghệ tế bào gốc
Vào giữa thế kỷ XIX nhiều nhà nghiên cứu thực nghiệm của châu âu đã nhận thấy rằng
một số tế bào động vật và với tác động nào đó chúng có thể tạo ra các loại té bào khác
trong suốt quá trình phát triển của mình
Vào nhứng năm đầu thế kỷ XX tế bào gốc thực sự đầu tiên được khám phá khi người ta
nhận thấy một số tế bào đã có thể tạo ra tế bào máu
Lịch sử khoa học tế bào gốc gắn liền với tiến trình các nghiên cứu tế bào gốc ở người và
động vật. dựa vào tiềm năng biệt hóa đa dạng của tế bào, các nhà nghiên cứu đã chia tế
bào gốc thành một số loại khác nhau! Trong đó được đề cập nhiều hơn là tế bào gốc toàn
năng, chúng có nhìu trong giai đoạn phát triển phôi sớm. với tế bào gốc toàn năng, mỗi tế
bào ban đầu có thẻ hình thành hẳn một cỏ thể hoàn chỉnh
Vào thời kỳ đầu những năm 1900:một dấu ấn nổi bật của quá trình nghiên cứu ứng dụng
của té bào gốc là cấy ghép tủy xương thông qua việc sử dụng tế bào gốc trưởng thành
Vào năm 1958 Jean Dausset lần đầu tiên phát hiện kháng nguyên tương hợp tổ chức mô
ở người.
Trang 4

II. THÀNH TỰU
2.1. Ở nước ngoài
Một thành tựu khoa học gây tiếng vang lớn vào cuối TK 20.
- Ngày 5/7/1996 cừu Dolly ra đời là kết quả công trình tạo dòng đầu tiên của
Wilmut, Keith Campbell.
- Cừu Dolly là ĐV có vú đầu tiên được nhân bản từ TB soma ( TB tuyến vú) của cơ
thể trưởng thành.
- Cho thấy sự thành công về kỹ thuật dung hợp TB nhờ “ nhân cho” đã được làm

Viện điều trị phục hồi Wake Forest (Mỹ) đã nuôi cấy
gan trong phòng thí nghiệm từ máu của dây rốn trẻ sơ
sinh và sử dụng chất collagen được lấy từ gan động vật để giúp kết nối các tế bào gan lại
với nhau.
Các nhà khoa học thuộc Đại học Kyoto (Nhật Bản) cấy thành công tế bào thần kinh
thính giác nguyên bản trên cơ sở lợi dụng tế bào gốc đa chức năng (iPS) từ da
chuột. Giáo sư Ito Shoua và Shinya Yamanaka thuộc Đại học Kyoto dẫn đầu nhóm
nghiên cứu đã thực hiện công tác nuôi cấy tế bào thần kinh thính giác nguyên bản trên cơ
sở tế bào iPS được tạo ra từ tế bào da của chuột.
2.2. Ở Việt Nam
Trong giai đoạn đầu tiên của nghiên cứu tế bào gốc có sự hỗ trợ từ phía Singapore
thông qua Tiến sĩ Phan Toàn Thắng, một chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực tế bào gốc.
Hiện TS. Thắng đang điều hành một công ty công nghệ sinh học tại Singapore chuyên về
công nghệ tách tế bào gốc từ dây cuống rốn. Tại TP.HCM, kế hoạch xây dựng một trung
tâm nghiên cứu hiện đại về y học tái sinh (regenerative medicine) trong đó có tế bào gốc
cũng đang được triển khai.
Nuôi cấy gan người
Trang 6

Thạc sĩ Phan Kim Ngọc thuộc Đại học Khoa học Tự nhiên TP.HCM là người đã đi
tiên phong trong việc tạo ra các dòng tế bào gốc phôi người, nhằm thực hiện các nghiên
cứu lâm sàng và điều trị cho bệnh nhân. Ông cũng đã nghiên cứu việc tách tế bào gốc từ
sinh thiết của các bệnh nhân ung thư sử dụng các marker (dấu ấn) kháng thể đặc biệt;
những tế bào này được phân loại là các tế bào ung thư (Cancer Stem Cell- CSC) và công
trình này đang ở giai đoạn nghiên cứu tế bào gốc trên phạm vi thế giới. Nhóm của TS
Ngọc đang tìm hiểu các đặc điểm gây ra ung thư của các tế bào này, nhằm tìm ra cách
điều trị ung thư mới. Các dự án này đã đặt ra nền tảng cho việc thương mại hóa tế bào
gốc trong tương lai tại Việt Nam.
Ngoài công trình nghiên cứu của mình, TS. Ngoc và các cộng sự của ông đã xuất bản
nhiều cuốn sách giáo khoa về các kỹ thuật phòng thí nghiệm và nghiên cứu tế bào gốc để

khoa học tiêm cho phôi của gà ác tiềm( gà có long trắng
hoàn toàn). Gà con nở ra là gà Khảm( con gà ác với bộ
lông của gà Lương Phượng)
Một nghiên cứu khác là những con chuột được chiếu xạ liều 900 Rơnghen. Chỉ sau 1
tuần, chúng bị chế hết do tủy xương, hồng cầu, bạch cầu và các tế bào máu bị phá hủy.
Nhưng khi lấy tế bào gốc từ phôi chuột tiêm vào những con chuột bị chiếu xạ đó thì
chúng được cứu sống – chứng minh được tế bào gốc có thể tạo máu, hay nói cách khác ,
có thể thay thế tế bào bị chết trong cơ thể bằng tế bào gốc.
Từ năm 2007, nhóm các nhà khoa học của bộ môn sinh lý học và công nghệ sinh học
động vật, phòng thí nghiệm nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc của Trường ĐH Khoa học
Tự nhiên TP.HCM bắt đầu nghiên cứu nuôi cấy tế bào mô từ nhung hươu.
Dùng tế bào gốc trong điều trị các bệnh lý huyết học tại Bệnh viện Truyền máu và
Huyết học:Ca ghép tủy xương đầu tiên của Việt Nam được Bệnh viện Truyền máu huyết
học thực hiện vào tháng 7/1995 và thực hiện truyền tế bào gốc máu ngoại vi lần đầu từ
Những chú gà Khảm 1 ngày tuổi
được các nhà khoa học VN tạo
ra với mục đích dùng để sản
xuất thuốc
Trang 8

tháng 10/1997. Sau đó, cũng chính Bệnh Viện Truyền máu và Huyết học TPHCM đã tiến
hành ghép tế bào gốc lấy từ máu cuống rốn đầu tiên ở Việt Nam.
Hiện tại, trong kỹ thuật cấy ghép, Bệnh viện Truyền máu huyết học có 3 loại sản phẩm
ứng dụng tế bào gốc từ tủy xương, tế bào gốc máu ngoại vi và tế bào gốc từ máu cuống
rốn. Bệnh viện đã thực hiện thành công trên 100 ca cấy ghép, trong đó gần một nửa là ở
trẻ em, và chuyển giao thành công kỹ thuật này cho một số bệnh viện trong nước.
III. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CHO NGÀNH CÔNG NGHỆ SINH
HỌC ĐỘNG VẬT
3.1. Thuận lợi:
Trước đây để lấy tế bào gốc người ta thường phải lấy từ tủy, xương và máu, rồi lấy từ dây

những người cùng huyết thống) mà không phải sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch.
Ứng dụng tế bào gốc trong điều trị sẽ tạo được bước đột phá lớn ở những bệnh mà lâu
nay y học bó tay, còn những người khỏe mạnh sẽ trẻ lâu hơn nhờ khả năng chống lão hóa
của tế bào gốc. “Tuổi già” chính là sự “suy tế bào gốc”.
Chống lão hóa bằng tế bào gốc được coi là tương lai của y học hiện đại. Cuống rốn
chính là món quà của tạo hóa tặng cho con người như một nguồn dự trữ để duy trì sự
sống và “sửa chữa” kịp thời các tế bào “quá đát”
Nay ta đã có phòng nuôi cấy đạt chuẩn( tại trường DHKHTN Hà Nội), có nguồn nhân
lực, đội ngũ cán bộ có trình độ
Có ngân hang gửi tế bào gốc như MekoStem
Mở ra con đường trị bệnh như :cấy ghép các mô, tế bào, cơ quan để chữa bệnh: tim,
bệnh máu trắng, thoái hóa thần kinh….

Trang 10

Thúc đẩy nhanh thời gian chữa bệnh: ngày xưa bị hư giác mạc, thì ta phải chờ người
hiến tặng giác mạc mới có thể thay thế, nhưng nay ta có thể nuôi cấy giác mạc để chữa
trị.
Giúp cho những gia đình hiếm muộn có những hy vọng mới.
Vì sử dụng máy móc, công nghệ hiện đại nên tỉ lệ thành công trong quá trình nuôi cấy
tạo mô, tế bào, cơ quan là rất lớn.
Được sự giúp đỡ, ủng hộ của 1 số nước trên thế giới trong hướng nghiên cứu và nuôi
cấy tế bào gốc để mở ra các liệu pháp chữa trị bệnh và ứng dụng của con người.
Chúng ta phát triển sau các nước khác sẽ có cái lợi là tránh được những thất bại của
người đi trước. Ví dụ việc ra đời ngân hàng TBG MekoStem, là nơi lưu giữ cả TBG
màng dây rốn và máu dây rốn. Trong khi đó, các nước phát triển trước đây chỉ có ngân
hàng lưu giữ máu dây rốn và gần đây mới lưu giữ thêm màng dây rốn.
3.2. Khó khăn
Hạn chế về nguồn nhân lực: Ở nước ta, số lượng cán bộ nghiên cứu và nhân viên kỹ
thuật CNSH động vật còn quá ít. Mặt khác, các đề tài nghiên cứu liên quan đến CNSH

Tế bào gốc trưởng thành (adult stem cells) và tế bào gốc nhũ nhi (infant stem cells)
được coi là an toàn hơn cả. Hai loại này không tạo khối u ác và đã được sử dụng trong
lâm sàng điều trị rất nhiều năm mà không có tai biến tạo u ác tính. Do đó, ứng dụng tế
bào gốc từ màng dây rốn được coi là phương pháp an toàn nhất. Vì màng dây rốn và dây
rốn phát triển từ phôi thai ở tháng thứ 1 và được thu giữ lại ở tháng thứ 9 nên tính chất tế
bào gốc còn rất tốt. Những người khoẻ mạnh thì sẽ trẻ lâu hơn vì khả năng chống lão hóa
của tế bào gốc.
Trong trường hợp cần thay tim ngay do tai nạn chẳng hạn, thì không thể chờ nhận
nuôi và phát triển cả một quả tim từ tế bào gốc được. nhưng ứng dụng sẽ dễ dàng thành
Trang 12

công trong trường hợp các bệnh có thời gian để . . chờ, như các bệnh suy tủy xương, hay
vá da do bỏng, ghép giác mạc chẳng hạn…, nói tóm lại là những bệnh không có sức ép
thời gian…
3.3.Khắc phục
Bước đầu xây dựng được hệ thống tổ chức nghiên cứu, đào tạo về CNSH động vật.
Một số cán bộ được đào tạo tương đối chính quy, có khả năng tiếp cận những công nghệ
mới.
Xây dựng được một số phòng thí nghiệm CNSH động vật tiếp cận một cách chọn lọc
những thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại và từng bước vận dụng chúng trong điều
kiện cụ thể của Việt Nam.
Đã bước đầu ứng dụng CNSH động vật vào sản xuất trong lĩnh vực công nghệ tế bào,
công nghệ phôi, hàng chục ngàn con giống được tạo ra nhờ CNSH.
Sự cần thiết kết hợp giữa các đơn vị nghiên cứu và các đơn vị kinh doanh: nghiên cứu
trong lĩnh vực CNSH (và cả những lĩnh vực khác) đòi hỏi phải có sự đầu tư lớn và lâu
dài. Đa số công việc thực hiện tại các cơ quan nghiên cứu đều nhận sự đầu tư từ các cơ
quan nhà nước nên sẽ có cạnh tranh giữa các nhà khoa học để có thể nhận được nguồn
kinh phí. Tuy nhiên, khả năng đạt lợi nhuận cao từ các nghiên cứu CNSH đã hình thành
sự liên kết giữa các cơ quan nghiên cứu và các đơn vị kinh doanh và đây cũng là cơ hội
tốt để tạo ra một nguồn đầu tư mới cho lĩnh vực nghiên cứu này. Sự liên kết này là cơ hội

Việc ra đời ngân hàng tế bào gốc đầu tiên ở VN và có khả năng đứng vững khi thương
mại hoá cho thấy một mốc tiến bộ của lĩnh vực này. Ngoài ra các hoạt động khác như sử
dụng công nghệ tế bào gốc ứng dụng vào việc chăm sóc bệnh nhân bị tổn thương, chăm
sóc sắc đẹp công ty Cổ phần Sinh học và y học tái tạo FBM đang triển khai… Một số
hoạt động khác trên lĩnh vực nghiên cứu TBG như ở ĐHQG TP.HCM, ĐH Y Hà Nội,
Trang 14

Học viện Quân Y…. đều có những nghiên cứu có khả năng ứng dụng cao, có ý nghĩa
thực tiễn, được phản hồi tích cực.
Đây là những tín hiệu rất tốt cho thấy TBG ở VN đã có sự quan tâm tích cực từ chính
phủ, người dân, nhà khoa học, doanh nghiệp. Chúng ta đã có ít nhiều văn hoá kinh doanh,
nghiên cứu TBG ở VN.
Khoảng độ 3 năm lại đây vì chúng ta có hệ thống hơn, nguồn nhân lực phát triển hơn,
nguồn kinh phí được đầu tư nhiều hơn khi có sự quan tâm thúc đẩy từ chính phủ và
doanh nghiệp. Đặc biệt nhiều nghiên cứu công nghệ tế bào gốc đã đưa vào ứng dụng;
nhiều nghiên cứu đang được tiếp tục triển khai đã làm nên phong trào nghiên cứu ứng
dụng TBG. Đó là những yếu tố để các nhà khoa học nghiên cứu tế bào gốc có đà hơn
trong lĩnh vực này.
Trước đó, từ năm 1994 chúng ta đã bắt đầu với một số nghiên cứu nhưng hiệu quả chưa
cao về mặt ứng dụng như công nghệ nuôi cấy tế bào gốc từ biểu bì da điều trị cho bỏng
vào những năm 90.
Đã có sản phẩm thương mại
Có những ý kiến cho rằng chúng ta đang có những nghiên cứu tế bào gốc lặp lại những
nghiên cứu đã lâu của nước ngoài là một sự lãng phí?
Vì công nghệ lạc hậu mà lặp lại những thí nghiệm của họ cách đây 20 năm là tư duy rất
kì lạ, chắc chắn sẽ kìm hãm sự phát triển!
Singapore chỉ đi trước chúng ta một vài năm nhưng có một khoảng cách lớn với chúng ta
trong lĩnh vực TBG?
Đúng là Singapore chỉ bắt đầu trước chúng ta 4,5 năm. Ban đầu, họ cũng chỉ có một số
ứng dụng như sử dụng TBG tạo máu đìêu trị cho bệnh nhân bị ung thư, dùng TBG da

năm, sự kiện này đã gây chấn động giới nghiên cứu tế bào gốc trên toàn thế giới.
Và thế là nghiên cứu tế bào gốc được nhiều nhà khoa học đeo đuổi với hy vọng đạt được
những bước đột phá lớn trong y học. Họ luôn nỗ lực để tìm tòi những liệu pháp khôi phục
hoặc thay thế các tế bào tổn thương nhờ những tế bào tạo ra từ tế bào gốc; đồng thời
mang hy vọng đến cho những người đang phải chịu đựng căn bệnh ung thư, tiểu đường,
các bệnh tim mạch, chấn thương cột sống cũng như các chứng rối loạn khác. Cả tế bào
gốc phôi và tế bào gốc trưởng thành đều là những cơ sở để các nhà khoa học phát triển
những phương thức mới, có giá trị nhằm sản xuất dược phẩm và xét nghiệm.
Từ những năm 1980, các nhà khoa học đã tách chiết thành công tế bào gốc phôi của
chuột. Nhưng chỉ đến năm 1998, một nhóm các nhà khoa học thuộc đại học Winsconsin
tại Madison dưới sự chỉ đạo của giáo sư James Thomson lần đầu tiên đã thành công tách
biệt tế bào gốc phôi người. Họ biết họ đã tách được tế bào gốc, là vì những tế bào đó
không biệt hóa trong khoảng thời gian dài; chúng cũng vẫn giữ nguyên khả năng có thể
biến đổi thành nhiều loại tế bào chuyên biệt trong đó có tế bào cơ, tế bào ruột, tế bào thần
kinh và tế bào sụn.
Nhà sinh học kiêm giáo sư ngành giải phẫu học, Prof. James Thomson đã ngưng làm việc
với chiếc laptop computer trong văn phòng tại đại học Wisconsin – Madison. Ông đã chỉ
đạo nhóm nghiên cứu và tuyên bố tách thành công dòng tế bào phôi của một loài động
vật linh trưởng vào năm 1995. Khởi đầu này đã đem đến thành tựu lần đầu tiên tách được
dòng tế bào gốc phôi người vào năm 1998.

Trang 17 The Promise of Stem Cell Research: Triển vọng của nghiên cứu tế bào gốc
Drug Development and Toxicity Tests: Nghiên cứu dược phẩm và xét nghiệm độc tính
Experiments to Study Development and Gene Control: Thử nghiệm nhằm phát triển
nghiên cứu và kiểm soát gen
Cultured Pluripotent Stem Cells: Tế bào gốc toàn năng đang được nuôi dưỡng
Tissues/Cells for Therapy: Tế bào ứng dụng trong điều trị

JuviGrows. Sản phẩm của FBM được đóng trong túyp eppendorf – loại tuýp chuyên dụng
trong phòng thí nghiệm, đảm bảo tính vô khuẩn, phù hợp với các môi trường bảo quản
nghiêm ngặt.
Juvian và JuviGrows là các sản phẩm chăm sóc da, dưỡng da, chống lão hoá da, hạn chế
xuất hiện nếp nhăn và làm giảm nếp nhăn trên da. Tăng cường sức đề kháng của da
chống lại các tác động từ môi trường. Hỗ trợ chăm sóc da sau điều trị một số bệnh lý về
da như sau điều trị trứng cá, sau điều trị nám da, sau điều trị dị ứng hoặc các tổn thương
trên da.
Đặc biệt, do sản phẩm có nguồn gốc sinh học và không có chất bảo quản nên rất phù hợp
với những bệnh nhân có làn da mẫn cảm với hóa chất và các loại hóa mỹ phẩm.
Trang 19

Hai sản phẩm Juvian và JuviGrows của công ty FBM hiện nay đã được sử dụng thành
công trong việc hỗ trợ điều trị các bệnh lí về da sau điều trị trứng cá, sau điều trị nám da,
sau điều trị dị ứng hoặc các tổn thương trên da tại các đơn vị tuyến đầu trong ngành da
liễu cũng như nhiều thẩm mỹ viện nổi tiếng tại Việt Nam. Đây là những sản phẩm được
đánh giá cao, cho kết quả tốt, giúp da khỏe, đẹp.
FBM cũng không ngừng nghiên cứu tìm tòi để tiếp tục nâng cao chất lượng sản phẩm của
mình, phát triển các dòng sản phẩm mới đáp ứng và chăm sóc tốt nhất nhu cầu của khách
hàng
4.2 TIỀM NĂNG CÔNG NGHỆ SINH HỌC HỖ TRỢ SINH SẢN
4.2.1.HỖ TRỢ SINH SẢN.
Lần đầu tiên vào năm 1959, Chang thành công khi thực hiện tụ tinh nhân tạo giữa trứng
và tinh trùng thỏ trong môi trường ống nghiệm; từ đó tới nay, các nhà khoa học không
ngừng nghiên cứu tìm kiếm những phương pháp mới cho việc điều trị vô sinh ở người.
IVF và ICSI là những kỹ thuật nhằm làm tăng tỷ lệ thụ tinh trong điều trị hiếm muộn đã
được báo cáo thành công trên thế giới từ những năm 1978 và 1992, cho tới nay đã có hơn
một triệu em bé ra đời từ những kỹ thuật trên.
ICSI (Intra-Cytoplasmic Sperm Injection) - tiêm tinh trùng vào bào tương trứng - là
phương pháp mang lại hiệu quả thụ tinh cao với tỷ lệ 60 – 85%. Khác với IVF (In Vitro

lãnh vực điều trị hiếm muộn cũng như sẵn sàng cung cấp thông tin có thể giúp cho việc
phục vụ bệnh nhân tốt hơn

4.2.2.Nhật Bản: Tạo ra tinh trùng từ tế bào gốc đa năng
Các nhà khoa học Nhật Bản mới đây đã lên kế hoạch chế tạo tế bào sinh sản từ tế bào
gốc đa năng (iPS) – loại tế bào có khả năng biến đổi thành nhiều tổ chức tế bào khác
nhau – trong môi trường phòng thí nghiệm.
Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ (MEXT) ngày 18/2 đã nghiệm
thu kế hoạch nghiên cứu khoa học của nhóm các nhà khoa học thuộc Đại học Keio.

Các nhà khoa học ở Đại học Keio đã tiến hành nghiên cứu trên nhằm xác định cơ chế
hình thành tế bào sinh sản ở động vật.
Các nhà khoa học Nhật Bản hy vọng có thể ứng dụng kết quả nghiên cứu trên nhằm tìm
ra phương thuốc hữu hiệu chữa trị chứng vô sinh, căn bệnh cướp đi niềm hạnh phúc của
hàng triệu cặp vợ chồng trên thế giới.
Tuy nhiên, hiện tại MEXT có quy định cấm mọi hoạt động cho thụ tinh trứng và tinh
trùng nhân tạo ở người.
Trang 22

Theo giáo sư Okano, ban đầu Đại học Keio có kế hoạch phối hợp cùng một cơ quan y tế
thuộc bộ để tiến hành nghiên cứu trên song do bị hiểu nhầm rằng đây là hoạt động nghiên
cứu tế bào phục vụ cho điều trị vô sinh nên đã tách ra làm riêng
4.2.3.Ứng dụng kỹ thuật OPU (Ovum Pick up) trong việc sản xuất phôi bò in vitro
Kỹ thuật OPU có hai yếu tố liên quan đến nó là yếu tố kỹ thuật và yếu tố sinh học. Yếu tố
kỹ thuật bao gồm kích thước hình học của kim chọc hút và áp suất chân không. Đã có
nhiều nghiên cứu nhằm cải tiến kỹ thuật này và một trong những cải tiến có ý nghĩa là
việc thay thế kim chọc hút bằng kim loại không rỉ dài 50 cm bằng một loại kim ngắn hơn,
sử dụng một lần giống như loại kim tiêm dưới da chuẩn. Điều này giúp làm giảm sự lây
nhiễm mầm bệnh từ bò này sang con bò khác. Yếu tố sinh học của kỹ thuật bao gồm các
yếu tố như tình trạng chính bản thân của con vật cho trứng, việc tiền xử lý hormone, thời

việc bảo tồn những nguồn gien quý, sắp tuyệt chủng… để phục vụ cho những yêu
cầu sử dụng trong tương lai.
b) Ứng dụng RB trên thế giới: Những kỹ thuật chính trong RB bao gồm:
 Thụ tinh nhân tạo (Artiicial Insemination): đây là công cụ chính trong
các chương trình cải thiện giống bò sữa/thịt, dê, cừu, heo, gà tây… ở
các nước chăn nuôi phát triển. Kỹ thuật này chủ yếu gia tăng tối đa khả
năng khai thác tiềm năng di truyền tốt của con đực giống. Với các
phương pháp thu tinh dịch, đánh giá, pha loãng và bảo quản (dưới dạng
tinh tươi hay đông lạnh ở -196
o
C), từ 1 lần xuất tinh của đực giống có
thể sử dụng phối giống cho hàng chục con cái khác nhau. Ngoài ra, tinh
đông lạnh sẽ giúp cho việc phân phối nguồn chất liệu di truyền tốt đến
khắp nơi trên thế giới. Ước tính, hàng năm trên toàn thế giới có khoảng
100 triệu lần TTNT trên bò, 40 triệu lầ TTNT trên heo, 3,3 triệu lần
TTNT trên cừu và 500.000 lần TTNT trên dê.
 Cấy truyền phôi (Embryo Transfer): kỹ thuật này cơ bản được dựa trên
kỹ thuật gây đa xuất noãn và động dục đồng loạt, từ đó giúp gia tăng tối
Trang 24

đa khả năng khai thác tiềm năng di truyền tốt của con cái giống. Đồng
thời, việc bảo quản đông lạnh trứng và phôi cũng giúp cho phân phối
chất liệu di truyền tốt được thuận lợi và rộng khắp hơn, cũng như giúp
bảo tồn những nguồn gien quý. Ước tính, có khoảng 440.000 ET trên
bò, 17.000 ET trên cừu, 2.500 ET trên ngựa và 1.200 ET trên dê hàng
năm. Ngoài ra, khoảng 80% bò đực giống trên khắp thế giới được sinh
ra từ ET.
 Thụ tinh trong vi giọt (Invitro Fertilization): nhằm sản xuất ra phôi in-
vitro từ những con cái giống không có khả năng sinh sản bình thường,
phục vụ cho kỹ thuật ET. Chỉ tính riêng ở Nhật, số bê sinh ra bằng kỹ

sản của vật nuôi phục vụ tốt cho công tác lưu giữ, bảo quản, bảo tồn các tế bào sinh dục
và đánh giá chất lượng vật nuôi; ứng dụng phương pháp cắt phôi và cải tiến phương pháp
thụ tinh trong ống nghiệm phục vụ lĩnh vực sinh sản động vật. ứng dụng rộng rãi các
công nghệ tinh, phôi đông lạnh trong việc lưu giữ, bảo quản và bảo tồn lâu dài quỹ gen
bản địa, quý hiếm ở vật nuôi. ứng dụng công nghệ gen để xác định giới tính phôi bò ở 7
ngày tuổi”
d) Định hướng nghiên cứu RB của Phòng CNSH
- Đào tạo nguồn nhân lực có khả năng thực hiện các kỹ thuật trong lĩnh vực RB.
- Ứng dụng các kết quả nghiên cứu ở nước ngoài đã thành công trong lĩnh vực
công nghệ sinh sản động vật, cụ thể trong thụ tinh nhân tạo, cấy chuyển phôi,
IVM-IVF-IVC, xác định giới tính phôi, sử dụng tinh đã phân tách để sản xuất gia
súc theo định hướng chăn nuôi, bảo quản và bảo tồn quỹ gien động vật… để xây
dựng các đề tài nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau nhằm sản xuất ra những gia
súc có khả năng sản xuất, sinh sản và tiềm năng di truyền cao; xây dựng hoàn
chỉnh các kỹ thuật có khả năng ứng dụng thực tiễn và chuyển giao cho kỹ thuật
viên, nông dân các vùng chăn nuôi.
e) Các đề tài đã và đang nghiên cứu trong lĩnh vực RB
- Sử dụng kỹ thuật miễn dịch phóng xạ và các kỹ thuật có liên quan để cải thiện
hiệu quả thụ tinh nhân tạo cho bò lai hướng sữa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status