Mục lục
Phần I: Mở đầu
I. Tính cấp thiết của đề tài
II. Mục đích của đề tài
Phần II
Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
I. Sơ lược tình hình chăn nuôi Bò sữa ở Việt Nam và trên Thế giới
1.1. Tình hình chăn nuôi Bò sữa trên thế giới
1.2. Tình hình chăn nuôi Bò sữa ở Việt Nam
II. Những đặc điểm chính về cấu tạo và chức năng của cơ quan sinh dục Bò cái
2.1. Buồng trứng
2.2. ống dẫn trứng
2.3. Tử cung
2.4. âm đạo
2.5. Các bộ phận khác
III. Đặc điểm sinh lý, sinh sản của Bò cái
3.1. Sự thành thục về tính
3.2. Chu kỳ tính (Chu kỳ động dục)
3.3. Sự điều tiết thần kinh thể dịch đến hoạt động sinh dục của bò cái
3.4. Một số nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của bò cái
IV. Một số bệnh sản khoa thường gặp trên bò sữa tại Trung tâm
4.1. Bệnh trong thời gian gia súc mang thai.
4.2. Bệnh trong thời gian gia súc sinh đẻ
4.3. Bệnh trong thời gian gia súc không mang thai
V. các hormone sinh sản chính và một số chế phẩm đặt âm đạo.
5.1 Các hormone sinh sản chính
5.1.1.GnRH
5.1.2.Các hormone Gonadotropin
1
5.1.3.Estrogen.
5.1.4.Progesterone
IV.Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Phần IV
Kết quả và thảo luận
I. Kết quả điều tra một số chỉ tiêu sinh sản trên đàn bò lai hướng sữa nuôi tại TTNC Bò
và đồng cỏ Ba Vì
1.1. Cơ cấu đàn bò của TTNC Bò và đồng cỏ Ba Vì năm 2004 - 2005
1.2. Kết quả điều tra một số chỉ tiêu sinh sản
II. Kết quả điều tra một số bệnh sản khoa thường gặp trên đàn Bò lai hướng sữa nuôi tại
TTNC Bò và đòng cỏ Ba Vì
III. kết quả sử dụng một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng s inh sản trên
đàn bò lai hướng sữa nuôi tại TTNC Bò và đồng cỏ Ba Vì
3.1.Nhận xét chung.
3.2.Kết quả sử dụng pgf
2
α
trên bò chậm động dục do thể vàng tồn lưu bệnh lý
3.3.Kết quả gây động dục của pgf
2
α
hai liều cách nhau 11 ngày trên bò chậm
sinh
3.4.Kết quả sử dụng HCG động dục mà không rụng trứng.
3.5.Kết quả sử dụng dụng cụ đặt âm đạo để điều hoà chu kỳ động dục
5.6.Kết quả sử dụng dung dịch thụt rửa đối với bò sau khi đẻ
3
Phần V
Kết luận, tồn tại và đề nghị
I. Kết luận
1.1. Về khả năng sinh sản
hướng sữa (HF X LS). Nhưng phương thức chăn nuôi thường phân tán ở các
nông hộ và các trại nhỏ với điều kiện nuôi dưỡng khác nhau, do đó thường dẫn
đến các chỉ tiêu sinh sản không ổn định và ở mức cao như: tuổi động dục lần đầu
cao (24-36 tháng), khoảng cách giữa hai lứa đẻ kéo dài (14-18 tháng)... Ngoài ra
tỷ lệ viêm nhiễm đường sinh dục cũng như mắc một số bệnh sản khoa lớn (đặc
biệt là hiện tượng chậm sinh).
Trước tình hình đó, đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ cấp thiết là phải làm thế
nào để nâng cao khả năng sinh sản của đàn bò cũng như tăng hiệu quả về kinh
tế, phát huy tối đa tiềm năng sinh học của đàn bò sữa, tăng nhanh, tăng mạnh về
cả số lượng và chất lượng để đáp ứng nhu cầu về sản xuất và tiêu dùng.
Xuất phát từ những yêu cầu trên và góp phần đánh giá thực trạng đàn bò
lai hướng sữa của Trung tâm NC bò và ĐC Ba Vì nói riêng và nước ta nói chung
để tứ đó đưa ra một số biện pháp nhằm cải thiện khả năng sinh sản của đàn bò
sữa chúng tôi tiến hành đề tài: " Khảo sát một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh
5
sinh sản thường gặp trên đàn bò lai hướng sữa nuôi tại Trung tâm nghiên
cứu bò và đồng cỏ Ba Vì"
II. Mục đích của đề tài
2.1. Đánh giá một số chỉ tiêu sinh sản của đàn Bò lai hướng sữa tại TTNC Bò
và đồng cỏ Ba Vì
2.2.Đánh giá tỷ lệ mắc bệnh sản khoa trên đàn bò lai hướng sữa nuôi tại
TTNC bò và ĐC Ba Vì
2.3. ứng dụng một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng sinh sản tên
đàn bò lai hướng sữa tại Trung tâm
phần II
Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
I. Sơ lược tình hình chăn nuôi Bò sữa trên thế giới cũng như ở Việt Nam
1.1.Sơ lược tình hình chăn nuôi bò sữa trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới có 1.500 triệu con Bò sữa nhưng được phân bố
không đều giữa các châu lục. Sự phân bố này phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và
khác như: Trung Quốc, ấn Độ, Mehico, Thổ nhĩ kỳ... chỉ đạt 4-71kg sữa/đầu
người (Giáo trình chăn nuôi Bò sữa).
1.2. Sơ lược tình hình chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam
Với chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước ta về phát triển ngành
chăn nuôi: " Chăn nuôi phải nhanh chóng trở thành ngành sản xuất chính nhằm
cung cấp đầy đủ số lượng và chất lượng về thịt, trứng và tiến tới cung cấp
sữa".Với mục tiêu đó, năm 1958 nước ta đã nhập bò lang trắng đen Bắc Kinh về
nuôi thử tại Ba Vì (Hà Tây), SaPa(Lào Cai), Đồng Giao(Ninh Bình). Đến năm
1968 đã nhập tiếp bò lang trăng đen Bắc Kinh thích nghi nuôi ở Ba Vì. Nhưng
các đàn bò sữa này phát triển kém, tỷ lệ loại thải cao, năng suất sữa thấp. Sau
đó, đàn bò được chuyển lên Mộc Châu(Sơn la), nơi có điều kiện khí hậu, thời
tiết thích hợp hơn và đã thu được kết quả tốt hơn.
Từ năm 1970-1978 nước ta đã nhập thêm 883 con bò sữa HF từ CuBa về
nuôi thích nghi ở Mộc Châu. Dưới sự hướng dẫn của chuyên gia CuBa và áp
dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mà đàn bò sữa gốc CuBa nuôi ở Mộc Châu
đã đạt tới 3900-4200kg/chu kỳ. Năm 1977, chuyển 255 con từ Mộc Châu vào
Lâm Đồng và một số nơi khác để nhân rộng nhưng do chưa được chú trọng
nhiều nên ngành chăn nuôibò sữa ở nước ta phát triển còn chậm.
Từ năm 1986, do chuyển đổi cơ cấu quản lý tập trung bao cấp sang cơ chế
thị trường, các nông trường chăn nuôi bò sữa đã gặp rất nhiều khó khăn do đòi
hỏi phải chuyển đổi hình thức, cơ cấu, mục tiêu sản xuất kinh doanh. Vì vậy,
chăn nuôi bò sữa đã mất dần vị trí và giảm số lượng đáng kể. Nhưng từ năm
2001, ngành chăn nuôi bò sữa ở nước ta đã được khôi phục và phát triển với
chính sách đầu tư và khuyến khích của Đảng. Các địa phương đã chú trọng đầu
tư, tăng cường nâng cấp cơ sở vật chất, kỹ thuật và phát triển đàn bò sữa bằng
8
cách vừa lai tạo vừa nhân dàn bò thuần, đồng thời nhập nội đàn bò thuần và tinh
bò cao sản. Kết quả là đến cuối năm 2003, tổng đàn bò sữa cả nước có khoảng
80.000 con. Dự tính đến năm 2010 tổng đàn bò sữa nước ta khoảng 300.000
con.
phồng ống dẫn trứng và đoạn eo của ống dẫn trứng (Nguyễn Tấn Anh,1995).
ống dẫn trứng được cấu tạo bởi 3 lớp:
- Lớp ngoài là lớp sợi liên kết
- Lớp giữa là lớp cơ
- Lớp trong là lớp niêm mạc
Chức năng của ống dẫn trứng là vận chuyển trứng và tinh trùng theo chiều
ngược nhau và đồng thời một lúc. Dịch ống dẫn trứng cung cấp điều kiện thích
hợp cho sự thụ tinh và phân chia của phôi bào gồm chất dinh dưỡng và bảo vệ
cho tinh trùng, noãn bào và hợp tử - phôi sau đó.
Ngoài ra niêm mạc ống dẫn trứng và tử cung còn tiết ra men
hyaluronidaza tham gia vào quá trính thụ tinh (Xukhaep, 1975, V.S.Sipilep,
1976).
2.3. Tử cung (Uteus)
Tử cung của bò hình sừng cừu, nhìn từ ngoài vào trong gồm cổ tử cung,
thân tử cung và sừng tử cung. Đối với bò cái tơ thì toàn bộ tử cung nằm trong
xoang chậu, khi đẻ nhiều lứa thì tử cung nằm trong xoang bụng.
10
a. Cổ tử cung
Là phần cuối cùng của tử cung, cổ tử cung tròn thông với âm đạo và luôn
đóng, chỉ mở khi hưng phấn cao độ, lúc sinh đẻ hay khi bị bệnh lý.
b. Thân tử cung
ở bò thân tử cung ngắn, và được nối giữa sừng tử cung và cổ tử cung
c. Sừng tử cung
Sừng tử cung ở bò gồm 2 sừng : trái và phải, 2 sừng này gắn với thân tử
cung và dính lại với nhau tạo thành một lõm hình lòng máng phía trên của tử
cung gọi là rãnh đầu tử cung.
Tử cung cũng được cấu tạo bởi 3 lớp:
- Lớp ngoài cùng là lớp liên kết sợi mỏng
- Lớp giữa là lớp cơ trơn: đây là lớp cơ khoẻ nhất trong cơ thể, nó giữ vai
trò quan trọng trong việc đẩy thai ra ngoài.
dinh dưỡng, ngoại cảnh... Nếu bò lai hướng sữa nuôi dưỡng tốt thì sự thành thục
12
về tính lúc 12 tháng tuổi, còn thể vóc đảm bảo cho cho sự phối giống thì từ 15
tháng tuổi trở lên (Theo Sipilop, 1967) và (TXL,1999). Đối với bò HF nếu cho
ăn đầy đủ, chăm sóc tốt thì có thể thành thục lúc 10-12 tháng tuổi.
3.2. Chu kỳ tính (Chu kỳ động dục)
Khi đã thành thục về tính thì những biểu hiện tính dục của bò được diễn
ra liên tụcvà có tính chu kỳ. Các noãn bào trên buồng trứng phát triển đến độ
chín nổi cộm lên trên bề mặt buồng trứng gọi là nang Graaf. Khi nang Graaf vỡ
thì trứng rụng gọi là sự rụng trứng. Mỗi lần rụng trứng con vật có những biểu
hiện tính dục ra bên ngoài gọi là chu kỳ động dục. Trứng rụng có tính chu kỳ
nên động dục cũng có chu kỳ, 1 chu kỳ động dục của Bò thường là 21 ngày và
dao động 17-24 ngày. Quá trình trứng chín và rụng chịu sự điều hoà chặt chẽ
của hormone. Trên cơ sở đó có nhiều tác giả chia chu kỳ sinh dục ra làm 2 pha:
- Pha Folliculin: gồm toàn bộ biểu hiện trước khi rụng trứng
- Pha Lutein: Gồm những biểu hiện sau khi rụng trứng và hình thành thể
vàng
Trong các chu kỳ động dục của bò có nhiều tác giả đã đề cập đến các đợt
sóng nang (Foliculas Ware).
Sóng nang là sự phát triển đồng loạt của một số bao noãn ở cùng một thời
gian. Các công trình nghiên cứu theo dõi sự phát triển buồng trứng Invivo bằng
phương pháp nội soi và siêu âm được nhiều tác giả công bố. Các tác giả cho
thấy ở bò trong một chu kỳ thường có 2-3 sóng nang phát triển (một số ít có 4
đợt). Đợt 1 bắt đầu diễn ra sau khi rụng trứng, vào ngày thứ 3-9 của chu kỳ. Đợt
2 vào ngày 11-17 và đợt 3 vào ngày 18-20. Mỗi đợt sóng nang có thể huy động
tới 15 nang, kích thước từ 5-7mm. Sau này có một số nang phát triển hơn gọi là
nang trội (nang khống chế), kích thước của nang khống chế ở đợt 1, 2, 3 có thể
13
đạt tới 12-15mm và các kích thước nang tương ứng quan sát thấy vào ngày thứ
6,13,21 (Salin,1987,Monget,Inter-Ag,1994)[]
buồng trứng đã có nang phát triển ở các giai đoạn khác nhau, trong cơ thể đã có
sẵn một lượng nhất định về oestrogen. Chính hormone này tác động lên trung
khu vỏ đại não và ảnh hưởng đến vỏ đại não tạo điều kiện cho sự xuất hiện và
lan truyền các xung động thần kinh gây tiết GnRH chu kỳ (Gonadotrapin
Realising Hormone hay là hormone giải phóng FRH và L.R.H)
FRH (Folliculin Realising Hormone)
LRH (Lutein Realising Hormon)
FRH và LRH gọi chung là GnRH
FRH kích thích thuỳ trước tuyến yên tiết FSH (Folicullin Stimulating
Hormone). Kích tố này kích thích sự phát triển của noãn nang buồng trứng, noãn
nang phát triển trứng chín, lượng oestrogen tiết ra nhiều hơn, Oestrogen tác
động vào các bộ phận sinh dục thứ cấp đồng thời tác động lên trung tâm
Hypothalamus, vỏ đại não gây nên hiện tượng động dục, LRH kích thích thuỳ
trước tuyến yên tiết ra hormone kích thích hoàng tố LH (Lutein hormone). LH
tác động vào buồng trứng làm trứng chín muồi. Kết hợp với FSH làm noãn bào
vỡ ra va gây ra hiện tượng thải trứng, hình thành thể vàng và PRH (Prolactin
Realising Hormone) kích thích thuỳ trước tuyến yên phân tiết LTH (Lutein
tropin hormon), LTH tác động vào buồng trứng duy trì sự tồn tại của thể vàng,
kích thích thể vàng phân tiết Progesterone. Progesterone tác động lên tuyến yên,
ức chế tuyến yên phân tiết FSH và LH làm cho quá trình động dục chấm dứt.
Progesterone tác động vào tử cung làm cho tử cung dày lên tạo cơ sở tốt
cho việc làm tổ hợp tử - phôi lúc ban đầu (tạo sữa tử cung), nên con vật có chửa
thể vàng tồn tại suốt thời gian mang thai, có nghĩa là lượng progesteron được
16
duy trì với nồng độ cao trong máu. Nếu không có chửa thì thể vàng tồn tại đến
ngày thứ 15-17 của chu kỳ sau sau đó teo dần, cũng có nghĩa là hàm lượng
Progesterone giảm dần , giảm đến mức nhất định nào đó rồi nó lại cùng với một
số nhân tố khác kích thích vở đại não, Hypothalamus, tuyến yên, lúc này tuyến
yên ngừng phân tiết LTH, tăng cường phân tiết FSH và LH, chu kỳ sinh dục mới
lại hình thành.
Khí
h uậ
GnRH
Th v ngàể
Tr ng r ngứ ụ
Prostaglandine
T cungử
Noãn b o chínà
PRH
Oestradiol
3.4. Một số nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của bò cái
3.4.1. Nhân tố bên trong: (nhân tố di truyền)
Các tính trạng sinh sản thường có hệ số di truyền (h
2
) rất thấp. ở bò hệ số
di truyền về khoảng cách giữa hai lứa đẻ h
2
= 0,05 - 0,10, khả năng đẻ sinh đôi
h
2
= 0,08 - 0,10 và độ dài sử dụng bò có h
2
= 0,15 - 0,2 (Venge, 1961).
Hầu hết các biến đổi quan trọng quan sát thấy về khả năng sinh sản đều
do ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh. Nhìn chung nhiều công trình nghiên
cứu về gen ảnh hưởng đến sinh sản chưa được đề cập đến nhiều, mặc dù gen ảnh
hưởng đến sinh sản bằng 3 con đường:
- Có thể những gen gây chết, nửa gây chết, làm trứng không thụ tinh rồi
chết.
- Do rối loạn nội tiết di truyền làm ảnh hưởng đến các hormon hướng sinh
Thiếu Mg nội bào làm giảm hoạt tính bắp thịt từ đó làm kéo dài quá trình
sinh đẻ của gia súc làm nhau thai ra chậm sinh ra viêm tử cung từ đó chậm sinh.
Đồng và sắt trong cơ thể nằm ở những liên kết chức năng. Đồng giúp hấp
thu sắt và tổng hợp Hemoglobin tham gia vào chyển huyết sắc tố điều tiết chức
phận da, lông. Những hợp chất của đồng kích thích trung tâm sinh dục bằng
cách thay đổi hoạt lực oxytoxin vào đảm bảo một biểu hiện động dục hoàn
chỉnh.
19
Khi thiếu Mn, sự thành thục về tính ở bò chậm, có những chu kỳ không
rụng trứng. ở động vật có chửa có thể gây chết thai trong bụng, đẻ con chết hoặc
thai sinh ra có sức sống kém (Nguyễn Trọng Tiến, 1991)
* Quản lý, chăm sóc
đây là khâu rất quan trọng trong sinh sản đặc biệt là công tác tổ chức phối
giống, nó ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ thai và đẻ của gia súc cái. Các nhà nghiên cứu
đã chứng minh được rằng: sau khi giao phối hoặc thụ tinh nhân tạo từ 3-4h tinh
trùng trong đường sinh dục của bò cái đã di chuyển đến ống dẫn trứng và giữ
khả năng thụ tinh trong vòng 20-30h (Theo A.A.Xưkhaep,1975[ ])
Còn theo Paplop.V.A(1976) [ ], Sipilop.V.S(1976) [ ] cho rằng thời
gian di chuyển của trứng từ khi rụng đến vị trí thụ tinh trong khoảng vài giờ.
Thời điểm rụng trứng của bò cái nằm trong khoảng 10-15h sau khi kết thúc động
dục. Nên cần chọn thời gian phối phù hợp để đạt tỷ lệ thụ thai cao.
* Thời tiết khí hậu
Thời gian chiếu sáng, nhiệt độ không khí, độ ẩm không khí ... là những
yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến chức năng sinh sản của động vật. Thí nghiệm
thời gian chiếu sáng trong ngày bằng phương pháp nhân tạo có tác dụng kích
thích rõ rệt chức năng sinh sản và làm thay đổi mùa sinh dục ở thú cho lông và
gia cầm đẻ trứng. Sinh sản theo mùa biểu hiện rõ rệt ở động vật hoang dã và một
số loài gia súc như cừu, trâu, ngựa. đó là quãng thời gian trong năm đưa lại
nhiều điều kiện thuận lợi cho đời sống sinh sản. đối với bò, nếu được nuôi
dưỡng phù hợp, đảm bảo thức ăn đủ số lượng, chất lượng thì chu kỳ động dục
trình sinh đẻ, bệnh có thể xuất hiện ở hai thời kỳ:
- Thời kì thứ nhất (thể nguyên phát): thể này xuất hiện vào thời gian đầu
của quá trình sinh đẻ. Đối với những gia súc đẻ lứa đầu thì đây là hiện tượng
bình thường.
- Thời kì thứ hai (thể thứ phát): ở giai đoạn đầu của quá trình sinh đẻ,
những cơn co bóp thành bụng, của tử cung, sức rặn của cơ thể mẹ nói chung
bình thường nhưng giai đoạn sau những cơn co bóp, sức rặn của mẹ yếu và giảm
dần nên bào thai không được đẩy ra khỏi cơ thể mẹ.
b - bệnh rặn đẻ quá mạnh
Rặn đẻ quá mạnh là quá trình bệnh lý xuất hiện trong quá trình sinh đẻ với
các đặc điểm tử cung co bóp rất mạnh hoặc tử cung co bóp liên tục.
c - Sát nhau:
Trong quá trình sinh đẻ bình thường, sau khi sổ thai một thời gian nhất
định nhau thai sẽ ra phụ thuộc từng loại gia súc. Đối với bò sữa từ 1 - 4 giờ
(không quá 14 giờ). Quá thời gian trung bình kể trên nhau thai không được đẩy
ra khỏi tử cung thì được gọi là bệnh sát nhau. Căn cứ vào mức độ của bệnh có
thể chia ra 3 thể sau:
- Thể sát nhau hoàn toàn: Toàn bộ hệ thốngnhau thai còn dính với niêm
mạc tử cung ở cả hai sừng tử cung.
- Thể sát nhau không hoàn toàn: Phía sừng tử cung không chứa thai thì
nhau thai con đã tách khỏi niêm mạc tử cung. Sừng tử cung bên có thai thì nhau
thai con còn dính chặt với niêm mạc tử cung mẹ.
22
- Thể sát nhau từng phần: Một phần của màng nhung hay ít núm nhau con
còn dính với niêm mạc tử cung, còn đa phần màng thai đã tách khỏi niêm mạc tử
cung.
d - Đẻ khó.
Trong quá trình sinh đẻ của gia súc, thời gian sổ thai bị kéo dài những bào
thai khôngđược đẩy ra khỏi cơ thể mẹ gọi là hiện tượngđẻ khó. hiện tượng đẻ
khó do rất nhiều nguyên nhân dẫn tới và được biểu hiện dưới nhiều hình thức
Đặc điểm của bệnh là gây nên tình trạng con vật mất cảm giác,tê liệt ở các chi,
ruột, họng và gây rrối loạn các phản xạ có và không có điều kiện. Bệnh nay rất
hay gặp ở những bò sữa cao sản.
b - Hiện tượng rối loạn sinh sản ở bò sữa.
Gia súc cái đã đến tuổi sinh sản hoặc sau khi sinh đẻ mà đến thời kì hưng
phấn và động dục lại nhưng không xuất hiện chu kì sinh dục, sinh lý bình
thường hoặc gia súc biểu hiện các trạng thái bệnh lý trong quá trình sinh lý sinh
dục được gọi là hiện tượng rối loạn sinh sản.
24
Hiện tượng này là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm giảm tỷ lệ
sinh sản của gia súc nói chung và bò sữa nói riêng đồng thời cũng làm hạn chế
tốc độ gia tăng đàn gia súc và gây thiệt hại lớn trong chăn nuôi.
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiện tượng rối loạn sinh sản nhưng
nói chung người ta thường chia hiện tượng rối loạn sinh sản của trâu bò ra làm
mấy loại như sau:
- Trâu bò chậm sinh: là những trâu bò cái tơ từ 20 - 30 tháng tuổi chưa
động dục, trâu bò sau khi đẻ từ 6 - 8 tháng không động dục và trâu bò phối
giống 2 - 3 chu kì không có thai.
- Trâu bò cái vô sinh tạm thời: là những trâu bò tơ mà trên 30 tháng tuổi
chưa động dục, trâu bò sau khi đẻ mà phối giống trên 4 chu kì không thụ thai.
Sở dĩ gọi là vô sinh tạm thời là vì nếu được tác động bằng những biện pháp kĩ
thuật thì chúng có thể trở lại sinh đẻ bình thường.
- Trâu bò cái vô sinh tuyệt đối (tuyệt sinh): là những trâu bò cái vô sinh
tạm thời, sau khi tác động các biện pháp kĩ thuật mà chúng không trở lại sinh đẻ
bình thường hoặc những trâu bò cái có những khuyết tật bẩm sinh ở cơ quan
sinh dục.
V. các hormone sinh sản chính và một số chế phẩm đặt âm đạo
5.1. Các hormone sinh sản chính
5.1.1.Oestrogen.
Trong buồng trứng hormone được tao ra bởi toàn bộ tế bào trứng và tổ