Luận văn: Một số biện pháp tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm - Pdf 12

Dương Văn Hùng - 037
1 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOA
TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG Đề tài: Một số biện pháp tăng cường huy động vốn tại
Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm

Dương Văn Hùng - 037
2

LờI NóI đầu
Nền kinh tế nước ta có nhiều thay đổi lớn, sự nghiệp công nghiệp hoá

Phần II : Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Công
thương Hoàn Kiếm.
Phần III : Một số biện pháp tăng cường huy động vốn tại
Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo
trong khoa Ngân hàng và nhất là thầy Nguyễn Văn Nam, đội ngũ cán bộ
công nhân viên Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm, mà đặc biệt là sự giúp
đỡ tận tình của các cô chú, anh chị đang công tác tại phòng kinh doanh trong
việc làm quen với hoạt động của Ngân hàng và trong việc thu thập và tổng
hợp số liệu cho bài viết này.
Dương Văn Hùng - 037
4

đề cương luận văn
Đề tài :
Một số biện pháp tăng cường huy động vốn tại
Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm.

Phần I
Vai trò của nguồn vốn trong hoạt động
của Ngân hàng thương mại.
I - khái quát về Ngân hàng thương mại:
Ngân hàng là một trong những ngành công nghiệp lâu đời nhất. Trải
qua quá trình phát triển của xã hội loài người Ngân hàng và nghề Ngân hàng
không ngừng được hoàn thiện và phát triển. Nếu như trong thời kỳ sơ khai
hoạt động của Ngân hàng chỉ giới hạn trong việc giữ hộ của cải hoặc thanh
toán hộ thì cho đến nay hoạt động của Ngân hàng đã được mở ra trên rất
nhiều các lĩnh vực với công nghệ ngày càng hoàn thiện. Thực tế nhiều năm
qua đã chứng tỏ cho thấy rằng : Ngân hàng là một ngành nghề không thể
thiếu được trong nền kinh tế, nó đóng vai trò làm môi giới, làm trung gian

NHTM đã có mạng lưới rộng khắp địa bàn sản xuất phân phối lưu
thông, tiêu dùng trong cả nước. Hơn thế nữa, nó còn có quan hệ rộng rãi và
có vai trò quan trọng về tiền tệ, tín dụng, thanh toán giữa nước ta với nước
ngoài.
Với mô hình tổ chức trên, hoạt động của NHTM bao gồm những nội
dung chủ yếu sau :
Dương Văn Hùng - 037
6

+ Tạo nguồn vốn thông qua các hoạt động như : huy động vốn nhàn
rỗi trong dân cư, trong các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước dưới các hình
thức:
- Tiền quỹ tiết kiệm có kỳ hạn.
- Tiền quỹ tiết kiệm không kỳ hạn.
- Phát hành kỳ phiếu Ngân hàng.
- Hậu tiền ký gửi
v.v
Vay từ các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước : vay các Ngân hàng
Nhà nước, nhận vốn điều hoà trong hệ thống.
+ Sử dụng vốn tự có và vốn vay thông qua hoạt động tín dụng thực
hiện các dự án đầu tư dưới hình thức ghóp vốn hay mua trái phiếu kho bạc,
tài trợ xuất nhập khẩu, đầu tư kinh doanh bất động sản, kinh doanh vàng bạc
đá quý
+ Thực hiện các dịch vụ Ngân hàng : thanh toán hộ, thu hộ, bảo hành
thực hiện các dịch vụ tư vấn khách hàng.
Ngân hàng thương mại hoạt động theo nguyên tắc tự chủ trong kinh
doanh, thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, tuân thủ các chế độ, chính sách
của Ngân hàng Nhà nước và chính phủ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính
với Bộ Tài Chính, bảo toàn vốn và có lãi.
Thực tế đã chứng tỏ rằng, với mô hình tổ chức trên, thì đây là mô hình

cầu về vốn vay trong một thời hạn nhất định chứ không trực tiếp đầu tư vào
sản xuất do sự giới hạn và khả năng thu hồi tiền mặt. Tuy nhiên điều này hầu
như rất khó thực hiện được. Do vậy, trong xã hội luôn luôn tồn tại mâu thuẫn
này. Xét về mặt kinh tế thì lượng tiền này nếu được tập trung lại để cho vay
Dương Văn Hùng - 037
8

với những người đang có nu cầu sẽ đem lại lợi ích kinh tế cho cả người có
tiền nhàn rỗi và người có nhu cầu về vốn nói riêng và đem lại hiệu quả kinh
tế cho cả nền kinh tế nói chung, Ngân hàng thương mại chính là người thực
hiện chức năng cầu nối này.
2) Ngân hàng thương mại với hoạt động của mình ghóp phần tăng cường
hiệu quả hoạt động của sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và của
nền kinh tế nói chung.
Đặc trưng cơ bản của Ngân hàng là cho vay có hoàn trả với một mức
lãi suất nhất định và với một thời hạn nhất định, chính điều này đã bắt buộc
mọi cá nhân và doanh nghiệp khi vay vốn của Ngân hàng phải cân nhắc và
phải sử dụng vốn đó một cách có hiệu quả nhất, để có thể bảo toàn vào sinh
lợi được vốn đó, sau đó phải trả vốn vay và lãi đúng thời hạn. Đây chính là
động lực thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cường công tác hạch toán, giảm chi
phí sản xuất nhưng phải tăng chất lượng sản phẩm và tăng vòng quay của
vốn. Qua đó, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh. Mặt khác, trước khi quyết
định một món vay Ngân hàng thường tiến hành thẩm định tín dụng, chỉ thực
hiện cho vay đối với những cá nhân, doanh nghiệp phải có sự sắp xếp, bố trí
tổ chức sản xuất phù hợp, để có cơ hội vay vốn của Ngân hàng, đây chính là
động lực, là cơ sở giúp cho việc tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp trong nền kinh tế, qua đó tăng hiệu quả nền kinh tế.
3) Ngân hàng thương mại là tổ chức thực hiện phân bổ vốn giữa các
vùng qua đó tạo điều kiện cho việc phát triển đồng đều giữa các vùng khác
nhau trong cùng một quốc gia.

nhập khẩu. Ngân hàng có thể làm đại lý cho các tổ chức tài chính, tín dụng
nước ngoài qua đó giúp các tổ chức kinh tế trong nước có thể vau vốn các tổ
chức này để nhập công nghệ cao, nang cao chất lượng sản phẩm đủ sức cạnh
trạnh với thị trường quốc tế.
Dương Văn Hùng - 037
10

Trên đây, là toàn bộ khái quát về vài trò của hệ thống Ngân hàng
thương mại hoạt động trong cơ chế thị trường. Trên góc độ một sinh viên
nghiên cứu về hoạt động đầu vào của một ngân hàng, mà chủ yếu là hoạt
động huy động vốn ta sẽ xem xét kỹ hơn vấn đền này thông qua việc huy
động vốn của một Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường.
Iii - cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng thương mại :
Cũng giống như mọi hoạt động kinh tế khác, Ngân hàng muốn hoạt
động được trước hết phải có vốn. Nhưng vì mặt hàng kinh doanh của Ngân
hàng rất đặc biệt, vì vị trí và vai trò của nó cho nên nhu cầu về vốn của Ngân
hàng thương mại là rất lớn, do vậy nguồn vốn của Ngân hàng thương mại
bao gồm :
1) Nguồn vốn tự có :
Nguồn vốn này được hình thành từ hai bộ phần là :
+ Vốn điều lệ: Đây là số vốn ban đầu của một Ngân hàng thương mại,
là tiêu chuẩn được thành lập và đi vào hoạt động của NHTM. Về mặt quy
mô thì vốn điều lệ lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định.
Vốn điều lệ có thể do ngân sách Nhà nước cấp (đối với vốn NHTM
quốc doanh), có thể do các thành viên đóng góp dưới hình thức mua cổ
phiếu (đối với NHTM cổ phần) hoặc vốn điều lệ có thể do cá nhân tự bỏ vốn
ra (đối với Ngân hàng tư nhân).
Loại vốn này nói lên quy mô hoạt động và khat năng cạnh tranh ban
đầu của Ngân hàng. Các Ngân hàng thương mại có trách nhiệm bảo toàn và
phát triển vốn này (đối với NHTM quốc doanh).

+ Nguồn vốn vay Ngân hàng nhà nước:
Dương Văn Hùng - 037
12

NHTM thực hiện việc vay tiền của Ngân hàng Nhà nước thông qua
hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá. Khi Ngân hàng có nhu cầu rút tiền
mặt của khách hàng, họ có thể mang các giấy tờ có giá như : tín phiếu, trái
phiếu kho bạc Nhà nước, tiền triết khấu. Nguồn vốn này hình thành chủ yếu
là để đảm bảo kảh năng thanh toán của Ngân hàng.

+ Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng quốc tế :
Đây là loại vốn vay chiếm tỷ trọng không lớn ở nhữn nước đang phát
triển, bởi vì ở các nước này Ngân hàng muốn có được vốn ở nguồn này phải
được phép của Ngân hàng Nhà nước và thường dưới hình thức vay theo hiệp
định.
5) Nguồn vốn huy động:
Đây là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất để Ngân hàng có thể
hoạt động để cho vay. Đây là số tiền Ngân hàng nhận được dưới nhiều hình
thức khác nhau.
- Nhận tiền gửi của khách hàng.
- Vốn đi vay của các tổ chức tín dụng.
- Vốn phát hành.
Ngân hàng có quyền sử dụng số tiền này để phục vụ cho các mục đích
của mình. Nếu như trong thời kỳ bao cấp, việc huy động vốn của Ngân hàng
theo quy chế tập trung toàn ngành và phụ thuộc vào chủ tiêu do trên giao thì
này chuyển sang hạch toán kinh doanh, huy động vốn đuợc thực hiện một
cách linh hoạt căn cứ vào các chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước và nhu
cầu vay vốn của nền kinh tế.
Chi tiết về các hình thức này sẽ được trình bầy trong phần “ Các hình
thức huy động vốn của Ngân hàng”

14

tham gia hoàn thành một chu kỳ sản xuất để trở về hình thái tiền tệ thì ngân
hàng hoàn trả cho các tổ chức kinh tế và dân cư.
Mác viết: “ Tiền chẳng qua chỉ rời khỏi tay người sở hữumột thời
gian và chẳng qua chỉ là tạm thời chuyển từ tay người sở hữu sang tay nhà
tư bản hoạt động. Tiền chỉ đem nhượng lại với một điều kiện là sẽ quay trở
về điểm xuất phát sau một thời gian nhất định”
( Các Mác- tư bản quyển 3 tập 2 trang 57).
Như vậy, hoàn trả là đặc trưng thuộc về bản chất vận động của vốn tín
dụng. Mặt khác sự hoàn trả của mỗi nguồn vốn huy động là quá trình quay
trở về giá trị. Hình thái vật chất của sự hoàn trả là sự vận động dưới hình
thức giá trị. Tuy nhiên sự vận động đó không phải vơí tư cách là phương tiện
lưu thông mà với tư cách là một lượng giá trị vận động. Chính vì lý do đosự
hoàn trả luôn được bảo tồn về mặt giá trị và phần tăng thêm dưới hình thức
lợi tức. Ngay cả trong điều kiện lạm phát sự hoàn trả về mặt giá trị cũng phải
được bảo đảm và tôn trọng thông qua cơ chế điều tiết bằng lãi xuất.
2. Những nhân tố ảnh hưởng đến quy mô nguồn vốn huy động.
Vốn huy động của ngân hàng chủ yếu được hình thành thông qua quá
trình tập trung một bộ phận tiền tệ của dân cư, của các đơn vị kinh tế . Do
vậy hoạt động huy động vốn của một ngân hàng thương mại chịu tác động
của rất nhiều yếu tố, từ các yếu tố mang tính chất vĩ mô đến các yếu tố ở tầm
vi mô. Trong đó các yếu tố chính yếu được phân tích như sau:
a. Yếu tố lãi xuất huy động:
Không phải ngân hàng cứ đưa ra được mức lãi xuất cao là có thể thu
hút được vốn nhàn rỗi của dân cư mà vấn đề là ở chỗ với mức lãi xuất cụ thể
do ngân hàng đưa ra sẽ đem lại cho người gửi tiền mức lợi tức thực tế là bao
nhiêu, điều đó có nghĩa là mức lãi xuất mà ngân hàng đưa ra phải đảm bảo
luôn lớn hơn tỉ lệ lạm phát.
Dương Văn Hùng - 037

16

một Ngân hàng chịu ảnh hưởng rất lớn của yếu tố tiết kiệm. Nếu có tiết kiệm
sẽ làm tăng khối lượng tiền nhàn rỗi trong xã hội, qua đó có thể làm tăng quy
mô và chất lượng công tác huy động vốn của Ngân hàng. Tuy nhiên, bản
thân yếu tố tiết kiệm chịu sự tác động của các yếu tố khác như :
 Tâm ly người tiêu dùng trong dân cư : Yếu tố này ảnh hưởng rất
lớn đến yếu tố tích kiệmm, bởi vì tâm lý tiêu dùng của dân rất khác nhau
giữa các vùng, các địa phương và các quốc gia. Có thể với cùng một mức thu
nhập, cùng một giá sinh hoạt như nhay nhưng ở nơi này lượng tiền bỏ ra vào
tiết kiệm rất lớn nhưng ở nơi khác lại rất nhỏ do tâm lý thích tiêu dùng của
dân cư ở đây. Chính vì lẽ đó thu nhập cao chưa hẳn tiết kiệm đã cao.
 Thu nhập của dân cư : Dân cư có thu nhập càng cao thì khối
lượng tiền dành cho tiết kiệm có thể cũng tăng nhiều, bởi vì với mức thu
nhập lớn thì khả năng thoả mãn các nhu cầu thiết yếu sẽ cao hơn và do đó sẽ
có nhiều khoản tiết kiệm hơn
d) Một số yếu tố khác:
 Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng : Nếu hình thức này
mà Ngân hàng đưa ra càng phong phú, đa dạng, linh hoạt và thuận tiện thì
khả năng thu hút vốn đầu tư từ trong nền kinh tế càng lớn. Tuy nhiên, mức
độ đa dạng của các hình thức huy động mà Ngân hàng đưa ra còn phụ thuộc
rất lớn vào đặc điểm kinh tế khu vực, vào khả năng của Ngân hàng, chính vì
vậy mà Ngân hàng cần phải lựa chọn xem hình thức huy động nào là mang
tính hiệu quả cao nhất.
 Các dịch vụ kèm theo : Ngân hàng cũng là hoạt động dịch vụ,
nhưng dịch vụ kèm theo các nghiệp vụ chính của nó không vì thế mà mất đi
séc hấp dẫn, trong công tác huy động vốn Ngân hàng nào tổ chức tốt được
công tác dịch vụ kèm theo các hình thức tổ chức huy động của mình sẽ có
khả năng thu hút được nhiều khách hàng hơn và việc tổ chức tốt công tác
Dương Văn Hùng - 037


3.1 Tiển gửi của khách hàng:
Tiền gửi của khách hàng bao gồm : tiền gửi tiết kiệm và tiền ký gửi.
a) Tiền ký gửi:
Tiền ký gửi gồm các khoản tiền gửi vào Ngân hàng có kỳ hạn và
không kỳ hạn. Lịch sử phát triển hoạt động Ngân hàng cho thấy để bảo quản
tốt tiền vàng, người ta đã thuê sở đúc tiền giữ hộ và sở này sẽ có một khoản
thu nhập từ việc bảo quản tiền vàng. Đây là hình thức ban đầu của nghiệp vụ
ký gửi.
Vốn đi vay của tài
chớnh tớn dụng

Tiền gửi của
khỏch hàng

Vốn phỏt hành

Nguồn vốn huy động của
Ngõn hàng thương mại

Tiền tiết
kiệm

Tiền ký

loại chính đó là :
 Tiền gửi không kỳ hạn : đây là số tiền nằm trong tài khoản vãng
lai hoặc tài khoản thanh toán và có thể rút ra vào kỳ lúc nào.
Pháp luật một số nước không cho phép tính lãi đối với tiền tạm thời
nhãn rỗi trong tài khoản cơ quan xn. Tuy nhiên, cũng có nước cho phép tính
lãi nhưng rất thấp.
Tiền gửi không kỳ hạn trước hết được dùng để thanh toán vãng lai,
vịec thanh toán vãng lai này có thể tiến hành dưới dạng tiền mặt, séc hoặc uỷ
nhiệm chi. Sau khi mở tài khoản thanh toán tại Ngân hàng, chủ tài khoản
phải giao cho Ngân hàng quyền ghi chép, theo dõi các nghiệp vụ phát dinh
trên tài khoản của họ ở Ngân hàng. Chi phí hoạt động này của Ngân hàng
khá lớn nhưng trên thực tế Ngân hàng có thể bù đắp được khoản chi phí này
qua việc sử dụng số dư các tài khoản này để cho vay lại, và đây chính là
nguồn mang lại lợi nhuận lớn cho Ngân hàng.
Tiền gửi không kỳ hạn có thể để ở tài khoản vãng lai hay tài khoản tiền
gửi. Hai loại tài khoản này khác nhau ở chỗ nếu để ở tài khoản tiền gửi thì
chủ tài khoản được sử dụng số thực của mình nghĩa là tài khoản khách hàng
phải luôn luôn dư có. Loại tài khoản này thuận lợi, an toàn, tuy có lãi suất
thấp, thuận tiện trong thanh toán (có thể chuyển đổi thành tiền mặt 100%)
nên đây là loại tài khoản rất hấp dẫn khách hàng, tạo ra một lượng vốn lớn
phục vụ hoạt động tín dụng của Ngân hàng.
Dương Văn Hùng - 037
20

Nếu ở tài khoản vãng lai thì chủ tài khoản có thể rút tài khoản ra bất
cứ lúc nào hoặc tạm vay trong thời hạn nhất định vì tài khoản có thể dư nợ
hoặc dư có. Nhưng trên thực tế hiện này trong các tài khoản tiền gửi cũng có
thể dư nợ nếu có sự thoả thuận trước giữa khách hàng và Ngân hàng.
Đối với tài khoản vãng lai có hai loại lãi suất được áp dụng đồng thời:
lãi suất mà đơn vị phải trả cho Ngân hàng (nếu dư nợ trên tài khoản) và lãi

họ cần, sau đó khi đến hạn trả tiền sẽ sử dụng tiền đó để hoàn trả cho Ngân
hàng.
 Hoặc thoả thuận với Ngân hàng rút trước thời hạn nhưng hưởng lãi
suất thấp.
Ta thấy trong mọi trường hợp thì Ngân hàng luôn tự chủ được về thời
hạn hoàn trả tiền ký gửi cho khách hàng, vì vậy đấy là một nguồn rất quan
trọng, có độ ổn định cao của Ngân hàng.
b) Tiền gửi tiết kiệm:
ở các nước trên thế giới, nhất là các nước công nghiệp hoá phát triển
tiền tiết kiệm là loại tiền có số lượng lớn thứ hai trong số các loại tiền gửi
vào Ngân hàng. Đặc điểm của loại tiền gửi này là người gửi tiền được giao
cầm sổ tiết kiệm, sổ này được coi như là giấy chứng nhận việc gửi tiền vào
Ngân hàng của khách hàng. Gửi tiết kiệm là những người có được một số
tiền tích luỹ bằng ngoại tệ hay nội tệ nhất định và muốn tích luỹ số tiền này
theo kiểu “tích tiểu thành đại”, Hoặc do số tiền của họ không đủ lớn để đầu
tư sản xuất kinh doanh, hoặc người chủ không có khả năng hoặc không thích
kinh doanh, khi đó họ sẽ đến Ngân hàng để gửi tiền.
Tiền gửi tiết kiệm chia làm 2 loại :
- Gửi tiền có kỳ hạn.
- Gửi tiền không kỳ hạn.
Dương Văn Hùng - 037
22

 Gửi tiền có kỳ hạn : nghĩa là gửi tiền theo một thời gian nhất định
đến một ngày mới trả lại cho người gửi tiền. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn 3
tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng
Với loại tiền gửi này tuỳ theo pháp luật của từng nứoc mà sẽ có những
quy định cụ thể khác nhau về việc rút tiền. Đối với loại gửi tiền này thì người
gửi tiền và quỹ tiết kiệm không phải thoả thuận trước về thời hạn rút tiền mà
cả hai bên đều phải tuân thủ những quy định của pháp luật. Ví dụ như : trong

được nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư sẽ có tiền cấp phát cho phát triển công
nghiệp, nông nghiệp, góp phần phát triển kinh tế xã hội.
Bên cạnh các hình thức huy động vốn như trên, Ngân hàng thương mại
còn một số hình thức huy động tiền tiết kiệm của dân cư như :
+ Tiết kiệm xây dựng nhà ở : đây là hình thức “đi vay để cho
vay” của Ngân hàng. Hình thức đưa ra nhằm mục đích tạo vốn cho Ngân
hàng nhưng đồng thời giúp dân cư có tiền để giải quyết vấn đề nhà ở, thông
qua đó giảm bớt thời gian vốn bị ứ đọng. Theo hình thức này thì khách hàng
phải gửi đủ tiền theo hợp đồng đã ký kết với Ngân hàng, sau một thời gian
tối thiểu là 1 năm khách hàng được rút tiền gửi cả gốc và lãi đồng thời được
Ngân hàng cho vay một số vốn tối đa bằng số tiền đã gửi và Ngân hàng phải
chịu trách nhiệm về việc huy động vốn và chuẩn bị đủ vốn để thanh thanh
toán với khách hàng theo quy định.
+ Tài khoản séc dùng cho cá nhân : thủ tục mở tài khoản này giống
như thủ tục gửi tiền tiết kiệm nhứng thay vì được phát một quyển sổ tiết
kiệm người mở tài khoản sẽ được cấp một tập séc. Mọi khoản thanh toán của
họ có thể thực hiện dưới hình thức phát séc.
3.2. Vốn đi vay của các tổ chức tín dụng :
Trong thực tế , các Ngân hàng thương mại luôn có sự không cân đối
giữa nguồn vốn huy động và nguồn vốn sử dụng, vì vậy khi thiếu vồn đột
Dương Văn Hùng - 037
24

xuất Ngân hàng thương mại có thể vay của các tổ chức tín dụng khác thông
qua thị trường liên Ngân hàng.
Thị trường này giúp cho Ngân hàng thương mại bổ sung nguồn vốn
cho nhau, giải quyết nhanh nhu cầu thiếu hụt trong thanh toán vủa nền kinh
tế. Hoạt động của thị trường này nhằm tận dụng đến mức cao nhất các khả
năng sẵn có một cách triệt để trước khi cần yêu cầu đến tiền trung ương.
Tỷ trọng của nguồn này trong tổng nguồn vốn phản ánh quan hệ của

Tuy nhiên, tuỳ theo đặc điểm của nền kinh tế, đặc điểm của từng khu
vực hoạt động và đặc điểm của từng Ngân hàng mà các hình thức huy động
này đuợc biến đổi và thực hiện cho phù hợp.
Để thấy rõ hơn được hoạt động này tại Việt Nam, ta sẽ đi sâu vào xem
xét thực tế của hoạt động huy động vốn tại một Ngân hàng thương mại cụ
thể, đó là Ngân hàng công thương Hoàn Kiếm.

Trích đoạn Về phớa Ngõn hàng Nhà nước và Ngõn hàng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status