LUẬN VĂN: Biện pháp thúc đẩy mạnh mẽ Lực lượng sản xuất phát triển - Pdf 12


LUẬN VĂN:

Biện pháp thúc đẩy mạnh mẽ
Lực lượng sản xuất phát triển

lời nói đầu
Sản xuất vật chất trong mỗi giai đoạn lịch sử được biểu hiện ở mỗi phương thức
sản xuất (PTSX) nhất định. PTSX là cách thức mà con người làm ra của cải vật chất.
Đó là nhân tố quyết định tính chất, kết cấu của xã hội. Quyết định sự vận động và phát
triển của xã hội loài người, song sự phát triển của sản xuất phụ thuộc vào một PTSX.
PTSX là sự tổng hoà mối quan hệ giữa LLSX và QHSX tạo nên một nền kinh tế có
LLSX phát triển kéo theo một QHSX phát triển. Nếu một nền kinh tế có QHSX phát

"LLSX hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân là người lao động".
(1)
. Trình độ
phát triển CCLĐ vừa là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người vừa là
tiêu chuẩn phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại kinh tế kĩ thuật. Các mác viết:
"Thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ
chúng sản xuất bằng cách nào với những TLLĐ nào"
(2)
. Trong thời đại ngày nay khoa
học đã trở thành LLSX trực tiếp. Nó vừa là ngành sản xuất riêng vừa thâm nhập vào
các yếu tố cấu thành LLSX, đem lại sự thay đổi về chất của LLSX. Các yếu tố cấu
thành LLSX tác động lẫn nhau một cách khách quan làm cho LLSX là yếu tố độc nhất.
Nó là yếu tố khách quan là nền tảng vật chất của toàn bộ lịch sử nhân loại. LLSX được
kế thừa liên tục từ thế hệ này sang thế hệ khác. Mỗi một thế hệ sinh ra đều thích ứng
với trình độ LLSX của thế hệ trước để lại vì "LLSX là kết quả của năng lực thực tiễn
của con người. Nhưng bản thân năng lực này bị quyết định bởi điều kiện trong đó

(1)
Lênin toàn tập - NXB Tiến Bộ, trang 130
(2)
C. Mác Tư bản toàn tập - NXB Sự thật, trang 188 người ta sống bởi LLSX đã đạt được bởi hình thái trước họ không phải do họ mà do
thế hệ trước tạo ra"
(3)
.
Quan hệ sản xuất (QHSX)là quan hệ giữa người với nggười trong sản xuất vật
chất, thể hiện quan hệ sở hữu đối với TLSX, quan hệ tổ chức quản lí và trao đổi hoạt
động với nhau và quan hệ phân phối sản xuất. QHSX do con người tạo ra, song nó


2. 1: Tính chất và trình độ của LLSX
Tính chất của LLSX là tính chất của TLSX và lao động. Nó thể hiện tính chất
của TLSX là sử dụng công cụ thủ công và tính chất của lao động là lao động riêng lẻ,
những công cụ sản xuất như búa, rìu, cày. . . do một người sử dụng để sản xuất ra vật
dùng không cần đến lao động tập thể, LLSX có tính chất cá nhân. Khi máy móc ra đời
đòi hỏi phải có nhiều người mới sử dụng được, để làm ra một sản phẩm cần có sự hợp
tác của nhiều người, mỗi người phải làm một bộ phận công việc mới hoàn thành được
sản phẩm ấy thì LLSX mang tính chất xã hội hoá.
2. 2: LLSX quyết đinh QHSX
Xu hướng của sản xuất là không ngừng phát triển sự biến đổi bao giờ cũng bắt
đầu từ sự biến đổi của LLSX. Trong quá trình sản xuất để lao động bớt nặng nhọc và
đạt hiệu quả cao con người luôn tìm cách cải tiến công cụ lao động và chế tạo a những
công cụ lao động tinh xảo hơn. Cùng với sự biến đổi và phát triển của công cụ lao
động (CCLĐ) thì kinh nghiệm sản xuất thói quen lao động kĩ năng của sản xuất kiến
thức khoa học của con người cũng tiến bộ. LLSX trở thành yếu tố lao động nhất, cách
mạng nhất. Còn QHSX là yếu tố ổn định có khuynh hướng lạc hậu so với sự phát triển
của LLSX. LLSX là nội dung là phương thức, còn QHSX là hình thức xã hội của nó.
Trong mối quan hệ nội dung - hình thức thì nội dung quyết định hình thức, hình thức
phụ thuộc vào nội dung, nội dung thay đổi trước còn hình thức thay đổi sau. Tất nhiên
trong quan hệ nội dung với hình thức không phải là mức thụ động, nó cũng tác động
trở lại đối với sự phát triển của nội dung.
Cùng với sự phát triển của sản xuất thì QHSX cũng hình thành và biến đổi cho
phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX. Sự phù hợp đó là động lực cho sản xuất
phát triển. Nhưng LLSX thường phát triển nhanh còn QHSX có xu hướng ổn định, khi
LLSX đã phát triển lên một trình độ mới. QHSX không còn phù hợp với nó nữa sẽ nảy
sinh mâu thuẫn gay gắt giữa hai mặt của PTSX. Sự phát triển khách quan đó tất yếu
dẫn dến xoá bỏ QHSX cũ thay bằng QHSX mới phù hợp tính chất và trình độ LLSX
mở đường cho LLSX phá Sự hình thành, biến đổi của QHSX phụ thuộc vào tính chất
và trình độ phát triển của LLSX. Nhưng QHSX là hình thức xã hội mà LLSX phát

vậy quá trình sản xuất phải nhiều người tham gia, sản phẩm lao động là thành quả của
nhiều người. Ô đây LLSX đã mang tính chất xã hội hoá và tất yếu một QHSX thích
hợp là quan hệ sở hữu về TLSX. Ăng –ghen viết: "giai cấp tư sản không thể biến TLSX thành LLSX mạnh mẽ được. Không biến những TLSX cá nhân thành TLSX có
tính xã hội mà chỉ một số người cùng làm mới sử dụng được".
Quan hệ biện chứng giữa QHSX và LLSX biểu hiện ở chỗ: Xu hướng sản xuất
vật chất không ngừng biến đổi phát triển. Sự biến đổi đó bao giờ cũng bắt đầu từ sự
biến đổi LLSX mà trước hết là công cụ. Công cụ phát triển đến mâu thuẫn gay gắt với
QHSX hiện có và xuất hiện đòi hỏi khách quan phải xoá bỏ QHSX cũ thay bằng
QHSX mới. Như vậy QHSX là hình thức phát triển của LLSX (ổn định tương đối ),
QHSX trở thành xiềng xích kìm hãm sự phát triển của LLSX (không phù hợp ). Phù
hợp và không phù hợp là biểu hiện của mâu thuẫn biện chứng của LLSX và QHSX tức
là sự phù hợp trong mâu thuẫn bao hàm mâu thuẫn. Khi phù hợp cũng như lúc không
phù hợp với LLSX, QHSX luôn có tính độc lập với LLSX thể hiện trong nội dung sự
tác động trở lại đối với LLSX, quy định mục đích xã hội của sản xuất, xu hướng phát
triển của quan hệ lợi ích từ đó hình thành những yếu tố hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm
sự phát triển. Sự tác động trở lại của quan hệ nói trên của sản xuất bao giờ cũng thông
qua các quy luật kinh tế cơ bản. Phù hợp và không phù hợp giữa LLSX và QHSX là
khách quan và phổ biến của mọi phương thức sản xuất. Sẽ không đúng nếu quan niệm
trong chủ nghĩa tư bản luôn diễn ra: "không phù hợp" còn dưới chủ nghĩa xã hội "phù
hợp" giữa QHSX và LLSX.
II. THựC TRạNG QUá TRìNH PHáT TRIểN KINH Tế VIệT NAM áP DụNG
QUY LUậT qhsx PHảI PHù HợP VớI TíNH CHấT Và TRìNH Độ CủA llsx
1. Đường lối phát triển QHSX và LLSX theo định hướng xã hội chủ nghĩa:
Quá trình lãnh đạo đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội Đảng ta đã rút ra những kinh
nghiệm bổ ích và xác định rằng một trong những nguyên nhân làm cho sản xuất chậm
phát triển đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn là: "không nắm vững QHSX phù hợp
với tính chất và trình độ phát triển của LLSX". Từ đó Đảng ta đã rút ra được cốt lõi để

Tài nguyên thiên nhiên, tiền vốn, nhân lực là những nguồn lực vật chất nội tại, cơ
bản cho sự phát triển mỗi quốc gia. Ngày nay, lợi thế so sánh của sự phát triển nhanh
đang chuyển dần từ yếu tố giàu tài nguyên tiền vốn, giá nhân công càng rẻ sang lợi thế
về trình độ trí tuệ tri thức cao của con người. Chất xám trở thành nguồn vốn lớn và quý
giá là nhân tố quyết định sự tăng trưởng và phát triển của mọi quốc gia, sự giàu có về
tri thức là thước đo trình độ phát triển giữa các nước. Việt Nam là một trong những nước đông dân, dân số trẻ, số người trong độ tuổi từ 16-> 34 chiếm 60% trong tổng số
35. 9 triệu người lao động, nguồn bổ sung hàng năm là 3% tức khoảng 1. 24 triệu
người. Tỉ lệ người lớn biết chữ khá cao 88%, số năm đi học trung bình của một người
dân là 5 năm, trình độ dân trí được xếp vào loại trung bình khá cao trong khu vực.
Người Việt Nam có truyền thống cần cù, ham học hỏỉ cầu tiến bộ, có ý trí và tinh thần
tự lực tự cường dân tộc phát triển khá về thế lực, trí lực có tính cơ động cao có thể tiếp
thu nhanh kiến thức khoa học công nghệ hiện đại. Có thể nói dây là một lợi thế so sánh
của ta trong quá trình hội nhập.
Việt Nam có nguồn lực dồi dào, nhưng chưa sử dụng hết mới chỉ sử dụng hết
50% tổng nguồn lực. Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị năm 1997 là 6. 01% ở một số thành
phố lớn tỷ l;ệ còn cao hơn là 7->8%và có khoảng 27. 65% lao động ở nông thôn thiếu
việc làm. Trong đội ngũ thất nghiệp 80% lại là thanh niên mà phần đông là chưa đào
tạo nghề. Tỷ lệ lao động được đào tạo chưa cao, số người lao động làm trong lĩnh vực
kĩ thuật và chân tay cao, số lao động trí thức chủ yếu tập trung ở thành phố nhiều. Hiện
nay rất dồi dào về số lượng nhưng do cơ cấu nhân lực còn nhiều bất hợp lí và mâu
thuẫn trong nội tạI nên chất lượng còn nhiều hạn chế. Trong khi đó xu hướng đào tạo
công nhân kĩ thuật đang giảm cả về giá trị tyệt đối và tương đối so với đào tạo đại học.
3. Quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam:
Tại Đại hội lần VI của Đảng tư tưởng giải phóng và phát triển trong đường lối
mới kinh tế phaỉ thực hiện thông qua 5 chính sách lớn. Đó là: chính sách bố trí lại cơ
cấu sản xuất và đIũu chỉnh lại về cơ cấu đầu tư, chính sách xây dựng nền kinh tế nhiều
thành phần chính sách phát huy mạnh mẽ khoa học kĩ thuật, chính sách mở rộng và

công hữu sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong đó kinh tế nhà nước đóng
vai trò chủ đạo. Chức năng trực tiếp quản lí kinh doanh được chuyển giao cho các
doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế theo kế hoạch định hướng vĩ mô, phù
hợp với cơ chế thị trường. áp dụng chế độ phân phối theo lao động hết hợp với phân
phối theo vốn, tài sản đóng góp vào kết quả quá trình kinh doanh phân phối phúc lợi
đã khuyến khích hướng làm giàu hợp pháp đồng thời bảo đảm lợi ích chính đáng của
người lao động.
Những kết quả đạt được mới chỉ là bước đầu còn rất khiêm tốn xong mấy năm
qua nhà nước và nhân dân ta sớm xây dựng được ý thức tư duy mới và có nhiều hành
động thực tế kết hợp tăng trưởng kinh tế với phát triển mối quan hệ giữa con người với
con người hướng tới sự tiến bộ bình đẳng và công bằng xã hội.

(5)
Văn kiện Đại hội, Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII iii. Một số vấn đề của nền kinh tế việt nam hiện nay
1. Những khó khăn trên con đường phát triển đất nước:
Khó khăn thứ nhất là tiềm lực kinh tế nước ta còn quá nhỏ bé, đầu tư cho phát
triển còn ít "Chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế còn thấp, nguy cơ tụt hậu còn
lớn". Kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu hiện tại còn cách xa yêu cầu phát
triển kinh tế hiện đại. Trình độ thiết bị máy móc công nghệ lạc hậu chắp vá không
đồng bộ. Vốn và vấn đề huy động vốn đang và sẽ còn gặp rất nhiều khó khăn. Khả
năng cạnh tranh hàng hoá của ta do nhiều nguyên nhân vẫn trong tình trạng thấp, cán
cân xuất nhập khẩu mất cân đối.
Khó khăn thứ hai là việc lãnh đạo xây dựng QHSX mới có phần lúng túng vừa
buông lỏng, vừa nhiều bất hợp lí trong đIều tiết và phân phối thu nhập.
Khó khăn thứ ba là tình hình xã hội còn nhiều tiêu cực làm tổn hại nghiêm trọng
đến kỉ cương phép nước và trật tự xã hội.
Khó khăn thứ tư là sự phân hoá giàu nghèo tăng nhanh đặt mối quan hệ giữa các

đẻ tránh lặp lại những khuyết điểm đã qua. Cần xây dựng một QHSX phù hợp với tính
chất và trình độ của LLSX
3. Mục tiêu phát triển kinh tế ở Việt Nam:
Trong tình hình đất nước đang bước vào thế kỉ XXI, để phát triển một nền kinh tế
vững mạnh về mọi mặt Đảng và Nhà nước cần chú trọng phát triển trình độ LLSX,
luôn luôn phải điều chỉnh QHSX sao cho phù hợp với trình độ phát triển của LLSX
hiện hành.
Tình hình thực tế và yêu cầu cuộc sống đặt cho năm 2001 mục tiêu tổng quát về
kinh tế là chặn đà giảm sút nhịp độ tăng trưởng phát triển kinh tế với tốc độ cao hơn
năm 2000, xúc tiến việc hoạch định và chuẩn bị thực hiện chiến lược phát triển kinh tế
xã hội 10 năm 2001->2010 nhằm mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá,
hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, chủ động hội nhập và nâng cao vị thế của nước ta
trên thị trường quốc tế. IV. Một số giảI pháp để vận dụng quy luật QHSX phảI phù hợp với tính chất và
trình độ của LLSX vào nền kinh tế nước ta hiện nay.
1. Tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ hữu hiệu cho sản xuất kinh doanh của mọi
tầng lớp nhân dân.
Nhiệm vụ hàng đầu của bộ máy chính quyền các cấp là phải tạo điều kiện thuận
lợi cho nhân dân thực hiện quyền tự do kinh doanh theo pháp luật. Yêu cầu trước mắt
về chính sách về tháo gỡ vướng mắc trong quy định của thế chế, thứ tự đang gây phiền
hà khó khăn cho dân, tìm kiếm thị trường tiếp cận các nguồn vốn, kĩ thuật, được cung
cấp thông tin đào tạo nghề nghiệp …, đồng thời thiết lập kỉ cương theo pháp luật trong
hoạt động kinh tế xã hội.
Đây chính là động lực quan trọng nhất thúc đẩy kinh tế và kinh tế nông thôn đạt
được thành tựu to lớn trong thời gian qua và nay cần tiếp tục phát huy mạnh hơn nữa
đẻ đạt được sự phát triển toàn diện với chất lượng cao hơn. Phải thực hiện tốt chính
sách nhất quán của
Đảng và Nhà nước ta là khuyến khích kinh tế hộ nông dân, các hình thái kinh tế

chỉnh của thế chế trước khi ban hành, không chỉ đối với luật, pháp lệnh, nghị định mà
cả các văn bản pháp quy do các bộ, ngành, địa phương ban hành. Có quy chế bảo đảm
cho dân được thông tin đầy đủ về các văn bản pháp quy đã ban hành.
Đề cao kỷ luật, chấp hành luật pháp, thế chế đã ban hành. Tăng cường hoạt động
của các tòa kinh tế, toà hành chính, toà lao động để xét xử các tranh chấp có thể giải
quyết theo quan hệ dân sự. Đẩy mạnh việc phân cấp cho chính quyền địa phương. Việc
gì giao cho chính quyền cấp dưới chịu trách nhiệm thì phải giao đủ quyền hạn và đIều
kiện thực hiện, đặc biệt là quyền sắp xếp tổ chức, bố trí nhân sự và thu chi ngân sách.
Cơ quan cấp trên có nhiệm vụ kiểm tra việc thực hiện của cấp dưới, không can thiệp,
làm thay, làm hộ cho cấp dưới. Cần soát xét sự phân công trách nhiệm trên các lĩnh
vực giưã các cấp hành chính, trước hết là giữa cấp trung ương và cấp tỉnh. Việc nào có
thể giải quyết và giao cho chính quyền địa phương thì phân cấp ngay. Công việc này
đi liền với việc đưa nhanh bộ máy chính quyền các cấp, địa phương mới được bầu vào
vận hành một cách đồng bộ, nâng cao trách nhiệm và tăng hiệu quả hoạt động. Trên cơ
sở đổi mới thế chế, đẩy mạnh phân cấp, phân biệt cơ quan hành chính công quyền với
đơn vị sự nghiệp làm dịch vụ công, cần soát xét chức năng nhiệm vụ của bộ máy hành chính, khắc phục sự chồng chéo, để tinh giảm tổ chức và biên chế theo nghị quyết TW
VII. Tiếp tục cải tiến công tác đIều hành của chính phủ. Tăng cường công tác thông tin
sát thực nhanh nhạy hơn. Bên cạnh việc sử dụng các cơ quan chức năng trong bộ máy
hành chính. Chính phủ sẽ phát huy khả năng của các tổ chức khác và các nhà nghiên
cứu vào việc phân tích tình hình kinh tế xã hội. Đánh giá hiệu quả của việc thực hiện
các thế chế, các giải pháp đIều hành của nhà nước. Dự báo tình hình đất nước và đề
xuất các giải pháp về chủ trương, chính sách, thăm dò dư luận xã hội, phân tích tâm
trạng của dân chúng. Chính phủ cố gắng dành nhiều thời gian hơn cho việc nắm thực
tế kiểm tra công tác ở địa phương, tổng kết thực tiễn và nghiên cứu, hoạch định chính
sách …

1. Tạp chí Triết học (1999-2000).
2. Giáo trình triết học Mác – Lenin (NXB giáo dục).
3. Giáo trình triết học Mac – Lenin (chương trình cao cấp) (NXB tư tưởng văn hoá).
4. Văn kiện đại hội đại biểu lần 8(NXB chính trị quốc gia).
5. Cacmac-Anghen toàn tập (NXB chính trị quốc gia).
6. Tạp chí cộng sản(năm 1994, 1995, 1996, 1997, 1998, 1999, 2000).
7. Báo thông tin lý luận (1999 – 2000).
Mục lục
lời nói đầu 1
B – Nội dung 3
I. Quan điểm và lí luận của Các- Mác 3
1. Quan điểm về QHSX và LLSX 3
2. Quy luật về sự phù hợp của QHSX và tính chất và trình độ của LLSX 4
2. 1: Tính chất và trình độ của LLSX 5
2. 2: LLSX quyết đinh QHSX 5
2. 3: QHSX tác động trở lạI LLSX: 6
2. 4: Mối quan hệ biện chứng giữa QHSX và LLSX 6
II. THựC TRạNG QUá TRìNH PHáT TRIểN KINH Tế VIệT NAM
áP DụNG QUY LUậT qhsx PHảI PHù HợP VớI TíNH CHấT
Và TRìNH Độ CủA llsx 7
1. Đường lối phát triển QHSX và LLSX theo định hướng xã hội chủ nghĩa: 7
2. Thực trạng nguồn lực của LLSX nước ta hiện nay: 8
3. Quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam: 9
iii. Một số vấn đề của nền kinh tế việt nam hiện nay 11
1. Những khó khăn trên con đường phát triển đất nước: 11
2. Bài học từ sự bất hợp lí trong mối quan hệ QHSX và LLSX: 12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status