LUẬN VĂN:
Hạch toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm xây lắp xây
dựng cơ bản
Lời mở đầu
Trong mười năm trở lại đây Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể, nhà nước ta
thực hiện chính sách đổi mới, khuyến khích đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện cho các
thành phần kinh tế phát triển với mục đích dân giàu, nước mạnh. Nhưng để có thể ngang
tầm với các nước phát triển khác trong khu vực chúng ta cần phải đẩy mạnh hơn nữa việc
phát triển cơ sở hạ tầng, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào tất cả các ngành.
Đó chính là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh. chỉ số phát triển của Việt nam
Ngành xây lắp xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất quan trọng, nhằm tạo ra
cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế quốc dân. Đây là một ngành sản xuất mang tính chất công
nghiệp có nhiều điểm khác biệt so với các ngành sản xuất khác chi phối rất lớn đối với
công tác quản lý và hạch toán.
Sản phẩm xây lắp là những công trình, vật kiến trúc có quy mô lớn, kết cấu phức
tạp, mang tính chất đơn chiếc, thời gian sản xuất dài Đặc điểm này đòi hỏi công tác
hạch toán phải lập dự toán chi phí quá trình sản xuất, phải thường xuyên kiểm tra, so
sánh việc thực hiện chi phí dự toán, phải lấy chi phí dự toán là thước đo để từ đó xem xét
nguyên nhân vượt, hụt dự toán và đánh giá hiệu quả kinh doanh. Bên chủ đầu tư và bên
nhận thầu sẽ căn cứ vào giá trị dự toán của công trình, hạng mục công trình xây lắp để
xác định giá bán của công trình xây lắp, giá bán của công trình sẽ không quá giá dự toán.
Việc tiến hành xây dựng sẽ thông qua bản hợp đồng kinh tế giữa đôi bên.
Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất, còn các điều kiện sản xuất như máy
móc, thiết bị thi công, người lao động phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm, quá
trình thi công và điều kiện thi công không có tính ổn định, luôn biến đổi theo địa hình xây
dựng và giai đoạn thi công công trình. Ngoài ra, các công trình sản phẩm xây lắp còn chịu
ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu, thuỷ văn tại nơi thi công . Do đó việc quản lý nhân
công, bảo quản vật liệu, đảm bảo chất lượng công trình là hết sức khó khăn và phức tạp.
Quá trình thi công công trình được chia ra làm nhiều giai đoạn như: giai đoạn dọn
mặt bằng, thi công phần móng, phần thô, phần trần và phần hoàn thiện , mỗi giai đoạn
lại bao gồm nhiều công việc khác nhau. Các công trình xây lắp đều được tiến hành theo
nhứng đơn đặt hàng cụ thể, đáp ứng nhứng yêu cầu của khách hàng về mặt kỹ thuật và
kiến trúc của công trình đó. Khi thực hiện các đơn đặt hàng của khách hàng, đơn vị xây
1. Chi phí sản xuất:
a. Khái niệm:
Trong bất cứ một xã hội nào việc sản xuất và tái sản xuất là một điều tất yếu, chỉ
có vậy xã hội mới có thể tồn tại và phát triển được. Nhưng để tiến hành sản xuất và tái
sản xuất cần phải có đầy đủ 3 yếu tố cơ bản: lao động, đối tượng lao động và công cụ lao
động. Sự kết hợp giữa ba yếu tố này trong quá trình sản xuất sẽ tạo ra những sản phẩm,
dịch vụ để phục vụ nhu cầu của con người và của xã hội. Như vậy ta đã tiêu hao một
lượng nhất định về các yếu tố trên để sản sinh ra các sản phẩm, dịch vụ đó như thể người
ta nói sự tiêu hao đó là chi phí. Vậy ta có thể nói rằng chi phí sản xuất là lượng hao phí
về lao động sống và lao động vật hoá trong một thời kỳ nhất định để sản xuất và tái sản
xuất ra hàng hoá và dịch vụ.
Trong xây lắp xây dựng cơ bản, chi phí sản xuất cũng là sự tiêu hao về lao động
sống và lao động vật hoá trong một thời kỳ nhất định để thi công, lắp đặt các công trình
xây lắp và cấu thành nên giá thành sản phẩm xây lắp. b. Phân loại
* Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố: các yếu tố có cùng tính chất kinh tế được xếp
chung vào một yếu tố, không kể chi phí phát sinh ở đâu hay dùng vào mục đích gì trong
quá trình sản xuất. Đối với xí nghiệp xây dựng có các yếu tố chi phí sau:
- Chi phí nguyên vật liệu như xi măng, sắt thép, cát, gạch, vôi, sỏi, nửa thành
phẩm mua ngoài như bê tông đúc sẵn, panel, cửa gỗ và các loại phụ tùng thay thế
công cụ dụng cụ như găng tay, áo bảo hộ lao động, mũ, xẻng, búa, dao xây,
- Chi phí nhiên liệu và động lực mua ngoài như xăng dầu, mỡ, khí nén, điện,
- Chi phí nhân công trực tiếp là toàn bộ lương chính của công nhân trực tiếp xây lắp,
bao gồm lương trả theo thời gian, trả theo sản phẩm, trả làm thêm giờ, trả tiền thưởng
thường xuyên về tăng năng suất lao động.
- Chi phí sản xuất chung: Nội dung của chi phí sản xuất chung bao gồm tiền lương bộ
phận quản lý, thủ kho, đội bảo vệ công trình xây dựng, tiền trích BHXH, BHYT,
KPCĐ theo tỉ lệ quy định trên số tiền lương chính của công nhân trực tiếp xây lắp, bộ
phận quản lý, thủ kho và đội bảo vệ công trình. Chi phí máy móc thi công đó là
những khoản chi như khấu hao máy móc thiết bị, nguyên vật liệu sử dụng cho máy
chạy, tiền thuê máy móc thiết bị, tiền lương trả cho công nhân, vận hành, điều khiển
máy, chi phí lán trại tạm thời để bảo vệ máy, chi phí vận chuyển, chạy thử, nguyên
vật liệu, công cụ dụng cụ xuất dùng cho quản lý đội nói chung, chi phí dịch vụ mua
ngoài và các chi phí bằng tiền khác dùng vào các việc như: hội nghị, tiếp khách, sửa
chữa tài sản, của bộ phận sản xuất.
Việc phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục giá thành giúp doanh nghiệp biết
được cơ cấu chi phí sản xuất trong giá thành để quản trị nội bộ doanh nghiệp, giám sát
tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và hạ giá thành của doanh nghiệp.
2. Giá thành sản phẩm xây lắp XDCB:
a. Khái niệm
Trong sản xuất kinh doanh, chi phí thể hiện nên sự hao phí đi, còn chất lượng sản
xuất kinh doanh được xem xét thông qua mối quan hệ giữa chi phí chi ra và kết quả thu
được của quá trình sản xuất. Chính mối quan hệ so sánh này đã hình thành nên chỉ tiêu
dt
- Mức hạ giá thành dự toán.
* Giá thành thực tế (Z
H
): là toàn bộ các chi phí thực tế để hoàn thành bàn giao khối lượng
xây lắp mà đơn vị đã nhận thầu, giá thành thực tế được xác định theo số liệu kế toán.
Giá thành công trình lắp đặt thiết bị không bao gồm giá trị bản thân thiết bị do chủ
đầu tư đưa vào lắp đặt. Do vậy khi đơn vị xây lắp nhận thiết bị của đơn vị chủ đầu tư (do
chủ đầu tư mua hoặc được cấp) giao để theo dõi không tính vào giá thành công trình lắp
đặt. Giá thành công tác xây dựng và lắp đặt vật kết cấu gồm có giá trị vật kết cấu, giá trị
thiết bị kèm theo vật kiến trúc như thiết bị vệ sinh, thông gió, thiết bị sưởi ấm, điều hoà
nhiệt độ
Giá thành sản phẩm xây lắp xây dựng cơ bản phản ánh giá thành của một khối
lượng công tác xây lắp đạt đến một thời điểm kỹ thuật nhất định, nó cho phép chúng ta
xác định kiểm kê kịp thời, sát sao về chi phí phát sinh để kịp thời điều chỉnh cho thích
hợp ở những công đoạn sau, phát hiện những nguyên nhân tăng giảm chi phí.
Giá thành công trình, hạng mục công trình hoàn thành là toàn bộ chi phí dành cho
một công trình, hạng mục công trình từ khi khởi công cho tới lúc hoàn thành đưa vào sử
dụng và được bên A chấp nhận.
Chỉ tiêu giá thành thực tế luôn được so sánh với chi tiêu giá thành kế hoạch và
được kiểm tra lúc quyết toán. Hai chỉ tiêu này luôn bổ sung và liên quan chặt chẽ lẫn
nhau.
và hoàn thành một lượng công việc xây lắp nhất định được nghiệm thu, bàn giao thành
toán, nó không bao gồm những chi phí cho khối lượng dở dang cuối kỳ, những chi phí
không liện quan đến hoạt động sản xuất, những chi phí thực tế đã chi ra nhưng chờ phân
bổ cho kỳ sau, nhưng lại bao gồm những chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ trước chuyển
sang, những chi phí tính trước vào giá thành nhưng thực tế chưa phát sinh và những chi
phí của kỳ trước chuyển sang phân bổ cho kỳ này.
III. Tập hợp chi phí sản xuất và tính giá giá thành
1. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là các loại chi phí được tập hợp trong một giới
hạn nhất định nhằm phục vụ cho việc kiểm tra, phân tích chi phí và giá thành sản phẩm.
Giới hạn tập hợp chi phí sản xuất có thể là nơi phát sinh chi phí hoặc có thể là đối tượng
chịu phí. Thực chất của việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là xác định nơi
gây ra chi phí và đối tượng chịu phí.
Việc xác định đối tượng chi phí sản xuất phải căn cứ vào:
- Tính chất sản xuất và quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm: là sản phẩm giản đơn hay
phức tạp, quiy trình chế biến liên tục hay song song;
- Loại hình sản xuất là sản xuất đơn chiếc hay hàng loạt;
- Đặc điểm tổ chức sản xuất : có phân xưởng hay không có phân xưởng;
- Yêu cầu và trình độ quản lý của xí nghiệp.
2. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
Do có sự khác nhau về đối tượng tập hợp chi phí sản xuất nên để đáp ứng yêu cầu
theo mỗi đối tượng chịu phí như là hạng mục công trình, nhóm hạng mục công trình,
Cuối tháng tổng số chi phí sản xuất phát sinh ở từng đơn vị thi công được so sánh với dự
toán cấp phát để xác định kết quả hạch toán kinh tế nội bộ. Khi các công trình, hạng mục
công trình hoàn thành thì phải tính giá thành riêng cho từng công trình, hạng mục công
trình đó bằng phương pháp thích hợp.
3. Trình tự tập hợp chi phí sản xuất:
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại với tính chất và nội dung
khách nhau, phương pháp hạch toán và tính nhập chi phí vào giá thành sản phẩm cũng
khác nhau.
Việc tập hợp chi phí sản xuất phải được tiến hành theo một trình tự hợp lý, khoa
học thì mới có thể tính giá thành sản phẩm một cách chính xác, kịp thời được. Trong
ngành xây dựng cơ bản ta có thể khái quát các bước tập hợp chi phí sản xuất để tính giá
thành như sau:
Tập hợp các chi phí cơ bản có liên quan trực tiếp cho từng đối tượng sử dụng
Tính toán và phân bổ lao cụ của các nghành sản xuất kinh doanh phụ có liên quan trực
tiếp cho từng đối tượng sử dụng trên cơ sở khối lượng lao vụ phục vụ và giá thành
đơn vị lao vụ.
Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung cho các loại sản phẩm công trình, hạng
mục công trình có liên quan.
Xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
1. Nội dung tập hợp các chi phí
a. Tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao
Số
Đơn vị: ngày tháng năm 2001
Tên đơn vị lĩnh:
Lĩnh tại kho: Lý do lĩnh: Sổ danh
điểm
Tên vật tư Đơn vị
tính
Số lượng Đơn
gía
Thành
tiền
Ghi chú
Xin
lĩnh
Thực
lĩnh
1 2 3 4 5 6 7 8
Cộng
Cộng thành tiền (viết bằng chữ):
Tên và địa chỉ khách hàng
Theo hợp đồng số Ngày tháng năm 2001
Phương thức bán Xuất tại kho
Hình thức thanh toán
TT
Tên, nhãn hiệu quy
cách vật tư
Đơn vị
Mã
vật tư
Số
lượng
Đơn
giá
Thành
tiền
Ghi
chú
A B C D 1 2 3 4 Cộng
Cộng thành tiền (bằng chữ):
quyết định tới giá thành nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng công trình.
Trong trường hợp các chi phí nguyên vật liệu không áp dụng được phương pháp
phân bổ trực tiếp thì ta phải sử dụng phương pháp phân bổ gián tiếp. Tiêu thức phân bổ
được lựa chọn phù hợp với chi phí cần phân bổ, ta có công thức phân bổ như sau:
C
i
= C x t
i
\ T
Trong đó:
C - là tổng chi phí nguyên vật liệu cần phân bổ
T - là tổng tiêu thức phân bổ
C
i
- là phần chi phí nguyên vật liệu phân bổ cho đối tượng i
t
i
- là tiêu thức phân bổ thứ i cho đối tượng i
Để xác định chi phí nguyên vật liệu sử dụng trong kỳ, cuối kỳ kế toá n phải xác
định số nguyên vật liệu chưa sử dụng, số nguyên vật liệu, phế liệu thu hồi trong kỳ:
Chi phí nguyên vật Giá trị nguyên Giá trị nguyên Giá trị vật
liệu t.t chi = vật liệu, đưa vào - vật liệu chưa - liệu, phế
trong kỳ sản xuất thi công sử dụng đến liệuthu hồi
- Tài khoản sử dụng: TK 621 “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”. Tài khoản này được
mở chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình.
- Kết cấu của tài khoản:
Bên nợ: Giá trị nguyên vật liệu trực tiếp sử dụng cho thi công công trình.
phí nhân công liên quan tới nhiều hạng mục công trình, công trình thì có thể phân bổ cho
các đối tượng chịu phí theo các tiêu thức thích hợp như: định mức tiền lương của mỗi công
trình hoặc theo hệ số tỉ lệ với khối lượng xây lắp hoàn thành.
Trong xây dựng cơ bản có hai cách tính lương phổ biến đó là tính lương theo thời
gian và tính lương theo công việc giao khoán.
- Tài khoản sử dụng: TK 622 “Chi phí nhân công trực tiếp”.
- Kết cấu của tài khoản:
Bên nợ: Chi phí nhân công trực tiếp sản xuất thi công, thực hiện lao vụ, dịch vụ
Bên có: Kết chuyển chi phí nhân công vào TK 154
Cuối kỳ 622 không có số dư
- Hạch toán các nghiệp vụ:
Khi tính ra tiền lương chính phải trả cho công nhân trực tiếp xây lắp:
Nợ TK 622 ( chi tiết cho công trình, hạng mục công trình)
Có TK 334
* Kết chuyển lương khi công trình xây lắp hoàn thành:
Nợ TK 622
Có TK 141
Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp :
Nợ TK 154
Có TK 622
c. Tập hợp chi phí sản xuất chung:
Chi phí sản xuất chung là các chi phí sản xuất liên quan đến nhiều công trình gồm
trích theo lương của nhân viên trực tiếp)
Có TK 152, 153 ( vật liệu, công cụ dụng cụ xuất dùng chung )
Có TK 214 ( khấu hao tài sản cố định ở đội )
Có TK 111, 112, 331 ( dịch vụ mua ngoài và các chi phí khác )
Các khoản thu hồi ghi giảm chi phí sản xuất chung:
Nợ TK 152, 111, 112
Có TK 627
Phân bổ chi phí sản xuất chung:
Nợ TK 154
Có TK 627 - Chi phí sản xuất chung
Cuối kỳ kết chuyển chi phí sản xuất chung sang tài khoản tính giá thành sản phẩm xây
lắp:
Nợ TK 154
Có TK 627
d.Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công:
Chi phí sử dụng máy thi công là chi phí liên quan đến việc sử dụng máy thi công
để thực hiện sảnphẩm xây lắp, gồm có:
- Chi phí khấu hao máy thi công
- Tiền thuê máy thi công
- Chi phí về nhiên liệu, động lực phục vụ cho máy thi công
- Tiền lương và các khoản trích theo lương của công nhân vận hành máy thi công.
Việc hạch toán phụ thuộc hình thức tổ chức máy thi công:
*Nếu đội xây lắp có bộ phận máy thi công riêng:
-Tập hợp chi phí vật liệu:
- Phản ánh giá vốn dịch vụ bán bên ngoài
Nợ TK 632 ( phục vụ bên ngoài hay phục vụ cho các đội XL nội bộ)
Có TK 1543
- Phản ánh giá bán cho đối tượng bên ngoài
Nợ TK 131, 111, 112 : Tổng giá thanh toán
Có TK 511: Doanh thu bán hàng
Có TK 3331: Thuế VAT đầu ra phải nộp
* Nếu đội thi công không có máy phải thuê ngoài:
- Tập hợp chi phí liên quan đến thuê máy thi công :
Nợ TK 623 (công trình/ hạng mục công trình sử dụng máy thuê )
Nợ TK 133 ( thuế GTGT)
Có TK 111, 112, 331 ( tổng giá thanh toán )
- Kết chuyển chi phí sử dụng máy thi công:
Nợ TK 154
Có TK 623
iv. tính giá thành sản phẩm xây lắp xdcb:
1. Đối tượng tính giá thành trong xây lắp XDCB:
Đối tượng tính giá thành là sản phẩm, bán thành phẩm, công việc lao vụ hoàn
thành đòi hỏi phải xác định giá thành đơn vị.
Xác định đối tượng tính giá thành là công việc đầu tiên trong toàn bộ công tác tính
giá thành sản phẩm của kế toán. Bộ phận kế toán giá thành phải căn cứ vào đặc điểm sản
xuất của xí nghiệp, các loại sản phẩm, lao vụ mà xí nghiệp sản xuất ra, tính chất sản xuất
định.
Tuỳ theo đặc điểm của từng đối tượng tính giá thành, mối quan hệ giữa đối tượng tập
hợp chi phí sản xuất với đối tượng tính giá thành mà kế toán giá thành phải sử dụng phương
pháp tính khác nhau cho thích hợp.
Các phương pháp tính giá thành thông dụng ở các đơn vị xây lắp bao gồm các
phương pháp sau:
Phương pháp tính giá thành giản đơn ( hay còn gọi là phương pháp trực tiếp). Phương
pháp này áp dụng thích hợp với trường hợp đối tượng tính giá thành thống nhất với đối
tượng tập hợp chi phí sản xuất, kỳ tính giá thành phù hợp với kỳ trên báo cáo. Phương
pháp này được áp dụng ở một số công trình xây dựng. Do đối tượng tính giá thành thống
nhất với đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, kỳ tính giá thành phù hợp với kỳ báo cáo
thường không có chi phí sản phẩm dở dang hoặc nếu có thì có không đáng kể, do đó
tổng chi phí sản xuất đã tập hợp trong kỳ cho mỗi đối tượng cũng là tổng giá thành của
sản phẩm hoàn thành tương ứng trong kỳ.
Công thức tính như sau: Z = C
Trong đó: Z - là tổng giá thành sản xuất sản phẩm
C - là tổng chi phí sản xuất tập hợp theo đối tượng.
Còn nếu trong trường hợp mà có sản phẩm dở dang thì ta cần phải đánh giá sản
phẩm, dở dang theo phương pháp thích hợp. Khi đó công thức tính giá thành sẽ là:
Z = C + D
dk
- D
ck
Z
tti
= d
i
x H
Trong đó : H - là hệ số phân bổ
C - tổng chi phí tập hợp cho toàn bộ đơn đặt hàng
d
i
- giá dự toán của hạng mục công trình
Z
tti
- giá thành thực tế của hạng mục công trình i
Phương pháp cộng chi phí: Được áp dụng thích hợp với việc xây lắp các công trình
lớn và phức tạp, quá trình xây lắp có thể chia ra cho các đội sản xuất khác nhau cùng
tiến hành thi công. Đối tượng tập hợp chi phí là từng đội sản xuất còn đối tượng tính giá
thành là sản phẩm công trình cuối cùng. Để tính giá thành sản phẩm cuối cùng phải tổng