LUẬN VĂN: Hạch toán chi phí sản xuất và tính gía thành sản phẩm tại nhà máy cơ khí Hồng Nam potx - Pdf 11


LUẬN VĂN:

Hạch toán chi phí sản xuất và tính gía
thành sản phẩm tại nhà máy cơ khí
Hồng Nam
PHần mở đầu

Trong những năm qua với quá trình mở cửa đất nước, nền kinh tế cuả nước ta cũng
có nhiều đổi mới ngày càng sâu sắc và toàn diện.
Theo đà phát triển đó công tác kế toán với tư cách là công cụ phục vụ quản lý kinh tế
cũng đã có sự đổi mới và phát triển không ngừng về nội dung phương pháp để đáp ứng
yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế đất nước.

Với kiến thức còn hạn chế, chưa có điều kiện tiếp xúc thực tế, em mong đựoc sự giúp
đỡ của thầy cô và các anh ,chị, cô, bác phòng kế toán chuyên đề được hoàn thiện hơn.

Phần I
Những vấn đề lý luận cơ bản về hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành trong các
doanh nghiệp sản xuất.
I.Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao

doanh.
Gía thành sản phẩm.
Gía thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao
động và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm, lao vụ đã
hoàn thành.
Qúa trình sản xuất là một quá trình thống nhất bao gồm hai mặt: mặt hao phí sản
phẩm và mặt kết quả sản xuất. Tất cả những khoản chi phí phát sinh (phát sinh trong kỳ,
kỳ trước chuyển sang) và các chi phí trích trước có liên quan đến khối lượng sản phẩm,
lao vụ đã hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm. Nói cách khác, giá
thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra
có liên quan đến khối lượng công việc, sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ.
Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với gía thành sản phẩm.
Về thực chất, chi phí và giá thành là hai mặtkhác nhau của quá trình sản xuất. Chi phí
sản xuất phản ánh mặt hao phí sản xuất, còn giá thành sản phẩm phản ánh mặt kết quả
sản xuất.
Có thể phản ánh mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm qua sơ đồ
dưới đây:
CPSX dở dang đầu kỳ CPSX phát sinh trong kỳ
Tổng giá thành sản phẩm CPSX dở dang cuối kỳ
Qua sơ đồ ta thấy:
T
ổng giá
thành s
ản
phẩm
=

Chi phí s
ản
xu

các quan hệ hàng hoá- tiền tệ, không xác định được hiệu quả kinh doanh và không thực
hiện được tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng.
II. Phân loại CPSX và giá thành sản phẩm.
1. Phân loại CPSXKD.
Chi phí sản xuất kinh doanh có rất nhiều khoản khác nhau về nội dung, tính chất
công dụng,vai trò, vị trí và yêu cầu quản lý đối với từng loại cũng khác nhau. Quản lý
chi phí không thể dựa vào số liệu cụ thể của từng loại chi phí riêng biệt mới có thể đáp
ứng được yêu cầu kiểm tra, phân tích chi phí sản xuất phân loại chi phí sản xuất theo
những tiêu thức thích hợp sẽ đáp ứng được yêu cầu công tác quản lý vừa đáp ứng được
yêu cầu của kế toán tập hợp chi phí sản xuất, lập dự toán chi phí và thúc đẩy công ty
không ngừng tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, phát huy hơn nữa vai trò
của công cụ kế toán đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Phân loại chi phí sản xuất là
việc sắp xếp chi phí sản xuất vào từng loại, từng nhóm khác nhau theo những đặc trưng
nhất định. Vì vậy, nó có ý nghĩa quan trọng đối với công tác hạch toán cũng như công
tác kế hoạch hoá, kiểm tra, phân tích chi phí sản xuất của toàn doanh nghiệp và từng bộ
phận cấu thành trong công ty.
Xét về mặt lý luận cũng như trên thực tế có rất nhiều cách phân loại khác nhau như
phân loại theo nội dung kinh tế, theo công dụng , theo vị trí, theo quan hệ của chi phí
với quá trình sản xuất Mỗi cách phân loại đều đáp ứng ít nhiều cho mục đích quản lý,
hạch toán, kiêm tra kiểm soát chi phí phát sinh ở các độ khác nhau. Và ở cách phân
loại nào cũng dựa trên một số chỉ tiêu như: đặc điểm của chi phí theo ngành , theo đơn
vị. Vì thế các cách phân loại đều tồn tại, bổ sung cho nhau và giữ vai trò nhất định
trong quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Trên góc độ tài chính, CPSX thường được phân theo những tiêu thức sau:
a) Phân theo yếu tố chi phí (theo nội dung kinh tế) của chi phí sản xuất.
Theo cách phân loại này, những khoản chi phí có nội dung kinh tế được xếp chung
vào một yếu tố,không kể chi phí đó phát sinh ở địa điểm nào, dùng vào mục đích gì

mục. Cách phân loại này dựa vào công dụng của chi phí và mức phân bổ chi phí cho
từng đối tượng.Theo qui định hiện hành, giá thành sản xuất (giá thành công xưởng) ở
Việt nam bao gồm 3 khoản mục chi phí:
 Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (CPNVLTT): Phản ánh toàn bộ chi phí về
nguyên vật liệu chính, phụ, nhiên liệu tham gia trực tiếp vào việc sản xuất, chế tạo sản
phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ.
 Chi phí nhân công trực tiếp (NCTT): Gồm tiền lương, phụ cấp lương và các
khoản trích cho các quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ của tiền lương phát sinh.
 Chi phí sản xuất chung (CPSXC): Là những chi phí phát sinh trong phạm vi phân
xưởng sản xuất nhưng có tính chất phục vụ chung cho quá trình sản xuất sản phẩm (trử
CPNVLTT,CPNCTT).
Ngoài ra, khi tính chỉ tiêu giá thành toàn bộ (giá thành đầy đủ) thì chỉ tiêu giá thành
còn bao gồm khoản mục chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng.
Mặc dù việc phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố chi phí có ý nghĩa rất quan trọng,
nhưng trong thực tế khó tính giá theo yếu tố. Vì doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản
phẩm nên tính giá thành theo yếu tố phải tính toán phân bổ nhiều lần và như vậy rất
phức tạp. Do đó người ta dùng cách tập hợp những khoản chi phí cần phân bổ vào
những nhóm riêng có cùng một công dụng kinh tế để phân bổ một lần. Do vậy việc
phân loại chi phí theo khoản mục ngoài tác dụng kiểm tra tình hình sử dụng chi phí
trong phạm vi doanh nghiệp cũng như theo từng loại sản phẩm riêng biệt, còn đáp ứng
nhu cầu tính giá thành sản phẩm.
c) Phân loại chi phí theo chức năng sản xuất kinh doanh
Dựa vào chức năng hoạt động trong quá trình sản xuất kinh doanh và chi phí liên
quan đến việc thực hiện các chức năng chi phí sản xuất kinh doanh gồm 3 loại:
 Chi phí thực hiện chức năng sản xuất: gồm những chi phí liên quan đến việc chế
tạo sản phẩm hay thực hiện các lao vụ, dịch vụ trong phạm vi phân xưởng.
 Chi phí thực hiện chức năng tiêu thụ: gồm tất cả các chi phí phát sinh liên quan

Chi phí trực tiếp là những chi phí tự bản thân chúng có quan hệ trực tiếp tới quá trình
sản xuất và có thể chuyển trực tiếp cho sản phẩm hay đối tượng chịu chi phí.
Chi phí gián tiếp là những chi phí chung, không phân định được cho từng đối tượng
nên cần phân bổ.
Cách phân loại này có ý nghĩa đối với việc xác định phương pháp kế toán và phân bổ
chi phí cho các đối tượng một cách đúng đắn và hợp lý.
g ) Phân loại theo khả năng kiểm soát.
Theo cách này toàn bộ chi phí bao gồm chi phí kiểm soát được và chi phí không
kiểm soát được. Đây là khoản mục chi phí phản ánh phạm vi quyền hạn của các nhà
quản trị các cấp đối với các chi phí đó.
Bên cạnh các cách phân loại trên, trong quản lý kinh tế người ta còn sử dụng một số
thuật ngữ khác như chi phí khác biệt, chi phí cơ hội, chi phí tới hạn
Chi phí khác biệt là những chi phí được đem so sánh các phương án khác nhau.
Trước khi ra quyết định, nhà quản lý phải so sánh chi phí và kết quả các phượng án tối
ưu. Khi so sánh, sẽ thấy một số khoản chi phí xuất hiện trong phương án này nhưng chỉ
xuất hiện một phần hay biến mất ở phương án khác và chúng được goị là chi phí khác
biệt.
Chi phí thời cơ là khoản chi phí hoàn toàn không xuất hiện trên sổ sách kế toán. Đó
chính là khoản lợi nhuận tiềm tàng bị mất khi chọn một phương án kinh doanh này để
thay một phương án kinh doanh khác. Nói cách khác, khoản thu nhập thực sự của
phương án kinh doanh bị huỷ bỏ sẽ trở thành chi phí cơ hội của phương án được chọn.
Chi phí tới hạn là khoản chi phí mà doanh nghiệp đầu tư bổ sung để làm thêm số sản
phẩm ngoài dự kiến. Đây là một chìa khoá để doanh nghiệp số lượng sản phẩm cần sản
xuất, tiêu thụ nhằm đạt lợi nhuận tối đa hoặc hạn chế số lỗ tới mức thấp nhất (nếu đang
bị lỗ).
Như vậy mỗi cách phân loại nói trên đều có tác dụng và ý nghĩa riêng. Đồng thời, có
mối quan hệ mật thiết với nhau, tác dụng bổ sung với nhau và nhằm mục đích chung là
quản lý tốt chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Qua cách phân loại chi phí sản xuất
trong doanh nghiệp cho phép xác định một cơ cấu chi phí khác nhau và hiểu được cặn


+

Chi phí
tiêu thụ
sản phẩm

b) Xét về thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành , gồm:
 Gía thành kế hoạch: là gía thành được xác định trước khi bước vào kinh doanh
trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức , dự toán chi phí thời kỳ kế hoạch.
 Gía thành định mức: cũng như giá thành kế hoạch, giá thành định mức cũng được
xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên, khác với giá thành kế hoạch
được xác định trên cơ sở các định mức bình quân tiên tiến và không biến đổi trong suốt
cả kỳ kế hoạch, giá thành định mức lại được xây dựng trên cơ sở các định mức chi phí
hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch (thường là ngày đầu tháng)
nên giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phí
đạt được trong quá trình sản xuất sản phẩm.
 Gía thành thực tế: giá thành thực tế là chỉ tiêu được xác định sau khi kết thúc quá
trình sản xuất sản phẩm trên cơ sở các chi phí phát sinh trong qúa trình sản xuất sản
phẩm.
Việc xem xét chỉ tiêu giá thành sản phẩm trên các góc độ khác nhau là cần thiết. Bởi
vì mỗi loại giá thành có ý nghĩa khác nhau trong quá trình quản lý kinh tế và quá trình
kinh doanh. Chẳng hạn, giá thành công xưởng dùng để đánh giá hạch toán kinh tế nội
bộ, giá thành tiêu thụ xác định kết quả kinh doanh.
Thông tin về hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là thông tin chủ yếu,
mang tính quyết định và là cơ sở để ra các quyết định kinh doanh cụ thể như sản lượng
hoà vốn, tối đa lợi nhuận Vì thế muốn tập hợp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm,
đáp ứng đầy đủ trung thực, kịp thời yêu cầu quản lý chi phí và giá thành của doanh

 Đối tượng tính giá thành sản phẩm
Đối tượng tính giá thành sản phẩm là sản phẩm, bán thành phẩm , dịch vụ, lao vụ
hoàn thành đòi hỏi phải tính giá thành. Đối tượng đó có thể là sản phẩm cuối cùng của
quá trình sản xuất hay đang trên dây truyền sản xuất hay tuỳ theo yêu cầu của hạch toán
kinh tế nội bộ và tiêu thụ sản phẩm.
Đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành giống nhau ở bản chất chung
chúng đều là phạm vi giới hạn để tập hợp chi phí theo đó và cùng phục vụ cho công tác
quản lý, phân tích, kiểm tra chi phí và giá thành. Nhưng chúng cũng có điểm khác nhau:
 Xác định đối tượng tập hợp chi phí là xác định phạm vi phát sinh chi phí để tập
hợp chi phí phát sinh trong kỳ. Xác định đối tượng tính giá thành có liên quan đến kết
quả sản xuất.
 Một đối tượng tập hợp chi phí có thể có nhiều đối tượng tính giá thành.
Tuy nhiên ở nhiều trường hợp đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể trùng với đối
tượng tính gía thành. Do đó để phân biệt đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối
tượng tính giá thành ngay cả khi chúng đồng nhất là một cần căn cứ vào:
 Đặc điểm qui trình công nghệ sản xuất: sản xuất giản đơn hay phức tạp.
Với sản xuất giản đơn, đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là sản phẩm hay
toàn bộ quá trình sản xuất (nếu sản xuất một thứ sản phẩm) hoặc có thể là nhóm sản
phẩm (nếu sản xuất nhiều thứ sản phẩm cùng tiến hành trong một quá trình lao động).
Đối tượng tính giá thành ở đây là sản phẩm cuối cùng. Với sản xuất phức tạp,
đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là bộ phận, chi tiết sản phẩm, các giai đoạn
chế biến, phân xưởng chế biến, phân xưởng sản xuất hoặc nhóm chi tiết, bộ phận sản
phẩm Còn đối tượng tính giá thành là sản phẩm ở bước chế tạo cuối cùng hay bán
thành phẩm ở từng bước chế tạo.
 Loại hình sản xuất: đơn chiếc, sản xuất hàng loạt với khối lượng lớn.
Với sản xuất đơn chiếc và sản xuất hàng loạt nhỏ, đối tượng hạch toán chi phí là các
đơn đặt hàng riêng biệt, còn đối tượng tính giá thành là sản phẩm của từng đơn.

Trong đó :
H :Hệ số phân bổ.
C :Tổng chi phí cần phân bổ.
T :Tổng đại lượng của tiêu thức phân bổ của các đối tượng.
+Tính mức phân bổ cho từng đối tượng. Ci =H x Ti.
Trong đó : Ci : Chi phí phân bổ cho từng đối tượng i.
H :Hệ số phân bổ.
Ti : Đại lượng của tiêu chuẩn phân bổ của đại lượng i.
 Phương pháp tính giá thành sản phẩm (GTSP).
Phương pháp tính GTSP là một phương pháp hoặc hệ thống phương pháp được sử
dụng để tính giá thành của đơn vị sản phẩm, nó mang tính thuần tuý, kỹ thuật tính toán
chi phí cho từng đối tượng tính giá thành. Về cơ bản, phương pháp tính giá thành bao
gồm phương pháp trực tiếp, phương pháp tổng cộng chi phí, phương pháp tỷ lệ,v v
Việc tính GTSP trong từng doanh nghiệp cụ thể, tuỳ thuộc vào đối tượng hạch toán chi
phí và đối tượng tính giá thành nói trên hoặc áp dụng kết hợp một số phương pháp với
nhau:
Tuỳ theo đặc điểm qui trình công nghệ sản xuất sản phẩm cũng như yêu cầu và trình
độ của công tác quản lý, công tác kế toán của từng doanh nghiệp, từng loại hình sản
xuất cụ thề, kế toán có thể sử dụng một trong các phương pháp tính giá thành mang tính
kỹ thuật- nghiệp vụ sau:
H =
C

T

 Phương pháp trực tiếp (còn gọi là phương pháp giản đơn): phương pháp này áp
dụng trong các doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất giản đơn, số lượng mặt hàng ít,

Tổng số sản phẩm gốc qui đổi
Gía thành đơn
vị sản phẩm
=
Gía thành đơn vị
sản phẩm gốc


Hệ số qui đổi sản
phẩm từng loại
Trong đó:
Sản lượng sản
phẩm qui đổi
=
Tổng số lượng sản
phẩm loại i


Hệ số qui đổi sản
phẩm loại i


giá thành
SX của các
loại sản phẩm

=

với chi phí kế hoạch hoặc
định mức
 Phương pháp loại trừ giá trị sản phẩm phụ: đối với doanh nghiệp mà trong cùng
một quá trình sản xuất, bên cạnh các sản phẩm phụ (các doanh nghiệp chế biến đường,
rượu, bia, ),để tính giá thành sản phẩm chính, kế toán phải loại trừ giá trị sản phẩm phụ
có thể được xác định theo nhiều phương pháp như giá trị có thể sử dụng, giá trị ước
tính, gía kế hoạch, giá nguyên liệu ban đầu
Tổng giá
thành sản
phẩm chính

=
Gía trị sản
phẩm chính dở
dang đầu kỳ

+
Tổng chi phí
sản xuất phát
sinh trong kỳ

-

Gía trị sản
phẩm phụ
thu hồi

-

Gía trị sản phẩm
Hình thức nhật ký chung
Chứng từ
g
ốc

Nhật ký
chungCác bảng
phân bổ
Số 1,2,3
Sổ cái TK
621,622,6
Sổ chi tiết

TK
621,622,627

Bảng phân
bổ
SHình thức chứng từ ghi sổ
Hình thức nhật ký chứng từ Chứng từ

S
ổ chi tiết
TK 154,
631, 632

Chứng từ gốc
-Bảng phân bổ
-
Các ch
ứng từ chi
Bảng kê số
4 TK
621,622,627
Bảng kê số
5
TK
Nhật ký chứng từ

Phiếu
tính
giá thành
s
ản phẩm

S
ổ chi tiết
TK
lo
ại 6 và
Sổ chi tiết

phát sinh được cập nhật sổ sách thường xuyên liên tục. Đây là phương pháp được áp
dụng phổ biến cho mọi loại hình doanh nghiệp. Nó giúp cho việc theo dõi quản lý một
cách thường xuyên, liên tục mọi biến động về tài sản, công nợ về chi phí sản xuất kinh
doanh, đồng thời giúp cho việc tính được giá thành của bán sản phẩm( trong trường hợp
có bán thành phẩm tiêu thụ). Tuy nhiên chi phí cho bộ máy kế toán thường lớn.
Hạch toán nguyên vật liệu trực tiếp theo phương pháp kê khai thường xuyên
CPNVLTT bao gồm giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu được xuất
dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm. Đối với những vật liệu khi xuất dùng có liên
quan trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt( phân xưởng, bộ phận sản
xuất hoặc sản phẩm, loại sản phẩm, )thì hạch toán cho từng đối tượng đó.Trường hợp
nguyên vật liệu xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí, không thể
tổ chức hạch toán riêng được thì áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp để được phân
bổ chi phí cho các đối tượng có liên quan.
Tiêu thức phân bổ thường được sử dụng là phân bổ theo định mức tiêu hao, theo hệ
số, theo trọnglượng, số lượng sản phẩm.
Công thức phân bổ như sau:
CPNVL phân bổ
cho từng đối
tượng
=
Tổng tiêu thức
phân bổ của từng
đối tượng


Tỷ lệ
( hay hệ số)
phân bổ
Trong đó:
Tỷ lệ hay hệ số TK 151,
152, 331,
111,…

TK 621
TK 154
Vật liệu dùng trực
tiếp chế tạo sản
ph
ẩm
, ti
ến hành,lao
Kết chuyển chi
phí nguyên li
ệu ,
v
ật liệu trực
Vật liệu dùng
không hết nhập
kho hay chuy
ển kỳ
TK 152
TK 334
TK 338
TK 622


4. Hạch toán CPSXC (chi phi sản xuất chung) theo phương pháp KKTX.
CPSXC là những chi phí cần thiết còn lại để sản xuất sản phẩm sau CPNVLTT và
CNTT. Đây là những chi phí trong phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất trong doanh
nghiệp. Kế toán sử dụng TK627- “ CPSXC”, để theo dõi CPSXC, TK này mở chi tiết
theo từng phân xưởng, bộ phận sản xuất, dịch vụ.
TK này không có số dư và được mở chi tiết thành nhiều khoản để phản ánh chi tiết.
Do CPSX liên quan đến nhiều loại sản phẩm, lao vụ, dịch vụ trong phân xưởng nên cần
phải phân bổ chi phí này cho từng đối tượng theo tiêu thức phù hợp. Trên thực tế, các
tiêu thức chủ yếu dùng để phân bổ CPSXC là theo định mức, theo giờ làm việc thực tế
của công nhân sản xuất.TK này được chi tiết ra thành 6 tiểu khoản.
TK 6271: Chiphí nhân viên phân xưởng: phản ánh chi phí tiền lương chính , lương
phụ, các khoản phụ cấp phải trả cho nhân viên phân xưởng (quản đốc, phó quản đốc,
nhân viên hạch toán phân xưởng, thủ kho, bảo vệ của phân xưởng ) và các khoản đóng
góp cho các quỹ BHXH, BHYT,KPCĐ trích theo tỷ lệ với tiền lương phát sinh.
TK 6272: Chi phí nguyên vật liệu: bao gồm các khoản chi phí về vật liệu sản xuất
chung cho phân xưởng như xuất sửa chữa, bảo dưỡng máy móc, thiết bị nhà cửa, kho
tàng, vật kiến trúc (trường hợp tự làm), các chi phí vật liệu cho quản lý phân xưởng(
giấy bút, văn phòng phẩm )
TK 6273: Chi phí dụng cụ sản xuất: là những chi phí về công cụ, dụngcụ sản xuất
dùng trong phân xưởng.
TK 6274: Chi phí khấu hao TSCĐ: phản ánh khấu hao TSCĐ các phân xưởng sản
xuất kinh doanh chính sản xuất kinh doanh phụ như máy móc, thiết bị, nhà cửa, kho
tàng
TK 6277: Chi phí dịch vụ mua ngoài: bao gồm những chi phí dịch vụ thuê ngoài
phục vụ cho sản xuất kinh doanh của các phân xưởng, bộ phận như chi phí sửa chữa
TSCĐ, nước, điện thoại
TK 6278: Chi phí bằng tiền khác: là những chi phí còn lại ngoài các chi phí kể trên
như chi phí hội nghị, lễ tân, tiếp khách, giao dịch của phân xưởng, bộ phận sản xuất.
5. Hạch toán chi phí trả trước và chi phí phải trả
5.1 Hạch toán chi phí trả trước
Chi phí trả trước (chi phí chờ phân bổ) là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh
nhưng chưa tính hết vào CPSX KD của kỳ này,mà được tính cho 2 hay nhiều kỳ.
Đây là những khoản chi phí phát sinh một lần quá lớn hoặc do bản thân chi phí phát
sinh có tác dụng tới kết quả hoạt động của nhiều kỳ hạch toán. Thuộc chi phí trả trước
có thề gồm các khoản sau:
Gía trị CCDC nhỏ xuất dùng thuộc loại phân bổ nhiều lần (từ 2 lần trở lên).
Gía trị sửa chữa lớn TSCĐ ngoài kế hoạch.
Chi phí nhân viên

Chi phí v
ật liệu
TK 152,
153

TK 152,
111,.

Các khoản ghi
giảm
Chi phí SXC
(Phế liệu thu
h
ồi, v
ật t
ư

TK 142,
335

Để theo dõi các khoản chi phí trả trước, kế toán sử dụng TK142-chi phí trả trước và
TK 242 “chi phí trả trước dài hạn”
TK 1421 : chi phí trả trước
TK 1422: chi phí chờ kết chuyển.
-TK 242 là những chi phí có liên quan đến nhiều kỳ kế toán.
sơ đồ hạch toán chi phí trả trước ngắn hạn Sơ đồ hạch toán chi phí trả trước dài hạn
TK 153,
Chi phí tr

trước
th
ực tế phát
TK 142

TK 152, 1562,
TK 911
TK 641,
K

thuê phương tiện, mặt
bằng kinh doanh trả
trước nhiều năm; chi
phí đào t
ạo nhân
Phân b
ổ chi
phí trả
trư
ớc dài
Giá trị thu
hồi hay bồi
thư
ờng khi báo
h
ỏng mất, hết
h
ạn sử dụng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status