LUẬN VĂN: Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp công nghiệp pot - Pdf 11


LUẬN VĂN:

Hạch toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm trong các
doanh nghiệp công nghiệp lời Mở đầu

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một xu thế tất yếu, là động lực
thúc đẩy sản xuất phát triển. Từ khi nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế
thị trường có sự định hướng của Nhà nước thì sự bao cấp không còn nữa, các

tượng và qui trình tính giá thành.
Như vậy, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm - trên cả góc độ lý luận và
thực tiễn luôn là đối tượng nghiên cứu của các nhà quản trị, nhà phân tích, nhà
kinh tế học , của các sinh viên trong và ngoài ngành. Với khuôn khổ và thời gian
hạn hẹp, em xin mạnh dạn trao đổi về vấn đề:"Hạch toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp công nghiệp
A. Cơ sở lý luận của hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

I. Chi phí sản xuất
1. Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí
Sự phát sinh và phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình sản xuất.
Nền sản xuất xã hội của bất kỳ phương thức sản xuất nào cũng gắn liền với sự vận
động và tiêu hao các yếu tố cơ bản tạo nên quá trình sản xuất. Nói cách khác, quá
trình sản xuất hàng hoá là quá trình kết hợp của ba yếu tố: Tư liệu lao động, đối
tượng lao động và sức lao động. Đồng thời, quá trình sản xuất hàng hoá cũng
chính là quá trình tiêu hao của chính bản thân các yếu tố trên. Như vậy, để tiến
hành sản xuất hàng hoá, người sản xuất phải bỏ chi phí sản xuất về thù lao lao
động, về tư liệu lao động và đối tượng lao động. Vì thế, sự hình thành nên các chi
phí sản xuất để tạo ra giá trị sản phẩm sản xuất là tất yếu khách quan, không phụ
thuộc vào ý chí chủ quan của người sản xuất.
Cần chú ý phân biệt giữa chi phí và chi tiêu. Chi phí là biểu hiện bằng tiền của
toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá cần thiết cho quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp phải chi ra trong một kỳ kinh doanh. Như vậy, chỉ được tính là chi phí của kỳ hạch toán những hao phí về lao động có
liên quan đến khối lượng sản phẩm sản xuất ra trong kỳ chứ không phải mọi khoản

Theo quy định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ chi phí được chia thành 7 yếu tố
sau:
- Yếu tố nguyên, vật liệu: Bao gồm toàn bộ nguyên, vật liệu chính, vật lệu phụ, phụ
tùng thay thế, công cụ, dụng cụ…sử dụng vào sản xuất – kinh doanh (loại trừ giá
trị dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi cùng với nhiên liệu, động lực).
- Yếu tố nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất – kinh doanh trong kỳ
(trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi).
- Yếu tố tiền lương và các khoản phụ cấp lương: Phản ánh tổng số tiền lương và
phụ cấp mang tính chất lương phải trả cho công nhân viên chức.
- Yếu tố BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương và
phụ cấp lương phải trả CNVC.
- Yếu tố khấu hao TSCĐ: Phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích trong kỳ của
tất cả TSCĐ sử dụng cho SXKD trong kỳ.
- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài
dùng vào SXKD.
- Yếu tố chi phí khác bằng tiền: Phản ành toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phản
ánh váo các yếu tố trên dùng vào hoạt động SXKD trong kỳ.

2.2. Phân theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm
Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm và để thuận tiện cho
việc tính giá thành toàn bộ, chi phí được phân theo khoản mục. Cách phân loại này
dựa vào công dụng của chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng. Theo
quy định hiện hành, giá thành công xưởng sản phẩm ở Việt Nam bao gồm 3 khoản
mục chi phí sau:
- Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp.
- Chi phí nhân công trực tiếp.
- Chi phí sản xuất chung.
Ngoài ra, khi tính chỉ tiêu giá thành sản phẩm toàn bộ thì chỉ tiêu giá thành
còn bao gồm khoản mục chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng.


thành sản phẩm, chi tiết sản phẩm theo đơn vị tính giá thành quy định. Việc phân
chia này xuất phát từ yêu cầu quản lý, kiểm tra và phân tích chi phí, yêu cầu hạch
toán kinh doanh nội bộ và theo đặc điểm tổ chức sản xuất, đặc điểm quy trình công
nghệ của từng doanh nghiệp và yêu cầu tính giá thành sản phẩm theo đơn vị tính giá thành quy định. Có thể nói, việc phân chia quá trình hạch toán thành hai giai
đoạn là do sự khác nhau cơ bản vê giới hạn tập hợp chi phí trong hạch toán chi phí
sản xuất – tức là đối tượng hạch toán chi phí sản xuất – và sản phẩm hoàn thành
cần phải tính giá thành một đơn vị – tức là đối tượng tính giá thành.
Như vậy, xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất chính là việc xác định
giới hạn tập hợp chi phí mà thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và chịu chi
phí. Trên cơ sở đối tượng hạch toán chi phí, kế toán lựa chọn phương pháp hạch
toán (tập hợp) chi phí thích ứng. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là một
phương pháp hay hệ thống các phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại
các chi phí sản xuất trong phạm vi giới hạn của đối tượng hạch toán chi phí. Về cơ
bản , phương pháp hạch toán chi phí sản xuất bao gồm các phương pháp hạch toán
chi phí theo sản phẩm, theo đơn đặt hàng, theo giai đoạn công nghệ, theo phân
xưởng, theo nhóm sản phẩm v.v… Nội dung chủ yếu của các phương pháp hạch
toán chi phí sản xuất là kế toán mở thẻ (hoặc sổ) chi tiết hạch toán chi phí sản xuất
theo từng đối tượng đã xác định, phản ánh các chi phí phát sinh có liên quan đến
đối tượng, hàng tháng tập hợp chi phí theo từng đối tượng. Mỗi phương pháp hạch
toán chỉ thích ứng với một loại đối tượng hạch toán chi phí nên tên gọi của các
phương pháp này là biểu hiện đối tượng mà nó cần tập hợp và phân loại chi phí.

II. Giá thành sản phẩm
1. Bản chất và nội dung của giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về
lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng công tác, sản
phẩm, lao vụ đã hoàn thành.

quyết chúng.
 Giá thành định mức:
Giá thành định mức được xây dựng trước khi sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên khác
với giá thành kế hoạch được xây dựng dựa trên các định mức bình quân tiên tiến
và không biến đổi trong suốt kỳ kế hoạch, giá thành định mức được xác định dựa
trên các định mức về chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định (thường là
ngày đầu tháng) nên giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của
các định mức chi phí đạt được trong quá trình thực hiện kế hoạch giá thành.
ý nghĩa: Giá thành định mức là thước đo chính xác để xác định kết quả sử dụng tài
sản, vật tư, tiền vốn của doanh nghiệp trong sản xuất giúp cho đánh giá đúng đắn các giải pháp kinh tế mà doanh nghiệp áp dụng trong quá trình sản xuất nhằm
nâng cao hiệu quả của chi phí.
 Giá thành thực tế:
Giá thành thực tế được xác định khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm dựa trên
cơ sở các chi phí phát sinh trong kỳ.
ý nghĩa: Giá thành thực tế là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả phấn đấu
của doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các giải pháp kinh tế - tổ chức -
kỹ thuật để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm. Giá thành thực tế là căn cứ xác
định giá trị thực của sản phẩm, lao vụ doanh nghiệp thực hiện trong kỳ, là căn cứ
quan trọng để xác định kết quả kinh doanh thực tế kỳ báo cáo. Hơn nữa, giá thành
thực tế còn là đối tượng phân tích, đánh giá của các nhà quản trị doanh nghiệp, của
khách hàng và những người quan tâm khác.
 Theo phạm vi phát sinh chi phí:
 Giá thành sản xuất (giá thành công xưởng): Phản ánh tất cả các khoản chi
phí liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm phát sinh trong kỳ trong phạm vi
phân xưởng sản xuất.
ý nghĩa: Giá thành sản xuất là đối tượng quan tâm của kế toán và ban quản trị
doanh nghiệp .

 Phương pháp trực tiếp (hay phương pháp giản đơn)
 Phương pháp tổng cộng chi phí
 Phương pháp hệ số
 Phương pháp tỷ lệ
 Phương pháp loại trừ
 Phương pháp liên hợp
Ngoài ra, tuỳ từng loại hình doanh nghiệp cụ thể mà có các phương pháp khác
nhau (thực chất là sự phối hợp của các phương pháp trên).

B/ Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh
nghiệp công nghiệp

I. Đặc điểm các doanh nghiệp công nghiệp
Công nghiệp là ngành sản xuất vật chất hàng đầu của nền kinh tế. Sản phẩm
do ngành công nghiệp sản xuất ra phục vụ hầu hết trên các mặt sản xuất và đời sống của xã hội, không những thế còn có một bộ phận quan trọng được xuất khẩu
nhằm phục vụ cho sự phát triển của nền kinh tế, góp phần hội nhập quốc tế.
Ngành công nghiệp được chia thành hai ngành lớn: Ngành khai thác và chế
biến gia công. Sản phẩm do ngành công nghiệp sản xuất ra rất đa dạng, bao gồm
tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất. Trong một doanh nghiệp công nghiệp có thể
sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau, có thể thực hiện theo qui
trình sản xuất giản đơn hay phức tạp, công việc sản xuất có thể được thực hiện ở
một hoặc nhiều phân xưởng, ngoài sản xuất tập trung thì cũng có những doanh
nghiệp bao gồm nhiều phân xưởng nằm trên những địa bàn khác mà mỗi phân
xưởng có thể thực hiện một hoặc một số chức năng sản xuất độc lập nào đó.
Tính chất đa dạng về sản xuất, về qui trình sản xuất và loại sản phẩm chi phối
trực tiếp đến việc tổ chức chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.


TK 621 cuối kỳ không có số dư
 Tài khoản 622 “Chi phí nhân công trực tiếp”: Tập hợp tất cả các khoản chi
phí liên quan đến bộ phận lao động trực tiếp sản xuất sản phẩm, lao vụ. Tài khoản
này mở chi tiết cho từng đối tượng hạch toán chi phí hoặc đối tượng tính giá thành
(nếu được).
Kết cấu:
Bên Nợ: - Chi phí nhân công trực tiếp thực tế phát sinh
Bên Có: - Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp
TK 622 cuối kỳ không có số dư
 Tài khoản 627 “Chi phí sản xuất chung”: Tập hợp chi phí quản lý, phục vụ
sản xuất ở phân xưởng, bộ phận sản xuất kinh doanh và phân bổ chi phí này vào
các đối tượng hạch toán chi phí hoặc tính giá thành. Tài khoản này được mở chi
tiết theo phân xưởng hoặc bộ phận sản xuất kinh doanh. Theo qui định, tài khoản
này được mở cho các tài khoản cấp 2:
- TK6271 “Chi phí nhân viên phân xưởng”
- TK6272 “Chi phí vật liệu”
- TK6273 “Chi phí dụng cụ sản xuất”
- TK6274 “ Chi phí khấu hao TSCĐ”
- TK6277 “ Chi phí dịch vụ mua ngoài”
- TK6278 “ Các chi phí bằng tiền khác”
Kết cấu: Bên Nợ: - Chi phí sản xuất chung thực tế phát sinh trong kỳ
Bên Có: - Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung
- Kết chuyển (hay phân bổ) chi phí sản xuất chung vào chi phí sản
phẩm hay lao vụ, dịch vụ
TK 627 cuối kỳ không có số dư
 Tài khoản 154 và 631:
 Nếu doanh nghiệp hạch toán theo phương pháp kê khai thường xuyên:

- Giá trị thu hồi ghi giảm chi phí từ sản xuất
TK631 cuối kỳ không có số dư

2. Phương thức phân bổ chi phí
 Đối với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Đối với những nguyên vật liệu trực tiếp sử dụng để sản xuất ra nhiều loại sản
phẩm (chủ yếu là nguyên vật liệu chính) và không thể xác định trực tiếp mức tiêu
hao thực tế cho từng loại sản phẩm (hoặc đối tượng chịu chi phí) thì kế toán phải
tiến hành phân bổ theo tiêu thức phù hợp các tiêu thức có thể sử dụng: định mức
tiêu hao cho từng loại sản phẩm, hệ số phân bổ . . .

Công thức phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:  Đối với chi phí nhân công trực tiếp
Nếu tiền lương công nhân trực tiếp xản xuất liên quan đến nhiều đối tượng chịu
chi phí thì cần tiến hành phân bổ theo các tiêu thức như: mức tiền lương của các
đối tượng, hệ số phân bổ, số giờ hoặc ngày công tiêu chuẩn, . . .
Công thức phân bổ: Mức phân bổ
chi phí NVL
trực tiếp
Khối
lượng
phân bổ
của từng
đ
ối
=

x

 Đối với chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung được tập hợp theo từng phân xưởng hoặc bộ phận sản xuất
kinh doanh. Việc tập hợp diễn ra hàng tháng, đến cuối tháng tiến hành phân bổ và
kết chuyển vào đối tượng hạch toán chi phí.
Nếu phân xưởng (bộ phận) sản xuất ra 2 loại sản phẩm trở lên thì cần phân bổ theo
một trong các tiêu thức như: tỷ lệ tiền lương công nhân sản xuất, tỷ lệ chi phí NVL
trực tiếp, tỷ lệ với số giờ máy chạy…
Công thức phân bổ:


xuất
chung
cần phân
b


=

x
Tập hợp
chi phí

611(1)

621

611(1)

154

631

154

334,338,622

627

ển

K
ết chuyển

K
ết chuyển

SD:xxx

SD:xxx

3.2. Theo phương pháp kê khai thường xuyên
152

154

155

157

632

152,111, Tập hợp
chi phí
NVL tr
ực
Tập hợp chi
phí nhân công
tr
ực tiếp

Tập hợp
chi phí
s
ản xuất
NVL thừa
nhập kho

Kết

SD:
xxx
IV. Kế toán tính giá thành sản phẩm của hoạt động sản xuất chính
1. Đặc điểm hoạt động sản xuất chính
Sản xuất chính là hoạt động sản xuất cơ bản, chủ yếu của doanh nghiệp nhằm tạo
ra các loại sản phẩm hàng hoá. Kết quả kinh doanh của sản xuất chính quyết định
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Tính đa dạng và phức tạp của sản xuất chính về loại sản phẩm, qui trình công
nghệ, tổ chức quá trình sản xuất, về yêu cầu kiểm tra và đánh giá hiệu quả sản xuất
chi phối trực tiếp và thường xuyên đến việc tổ chức kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm.
Chi phí sản xuất cấu tạo nên giá thành sản phẩm của sản xuất chính bao gồm 3 bộ
phận: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản
xuất chung. Các khoản mục chi phí này được tổ chức theo dõi riêng và cuối mỗi
kỳ mới tiến hành tổng hợp để tính giá thành sản phẩm hoàn thành.
Công thức tổng quát để tính giá thành:

2. Đánh giá sản phẩm dở dang
Đánh giá sản phẩm dở dang là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc tính
toán giá thành và xác định đúng đắn kết quả kinh doanh trong kỳ. Để đánh giá,
doanh nghiệp sử dụng một trong các phương pháp sau (nếu doanh nghiệp sử dụng


+

-

-
 Đặc điểm: Phương pháp này chỉ tính cho sản phẩm làm dở khoản chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp (nguyên vật liệu chính), còn chi phí chế biến (gồm chi phí
nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung) được tính hết cho sản phẩm hoàn
thành trong kỳ. Đồng thời coi mức NVL trực tiếp (NVL chính) dùng cho đơn vị
sản phẩm dở dang và hoàn thành là như nhau.
 Công thức tính:

hay:
2.2. Phương pháp đánh giá theo sản lượng ước tính tương đương

ối
=

+

+

x

=

Số lượng
sản phẩm dở
dang cu
ối
Số lượng
thành phẩm
Số lượng
sản phẩm dở
dang

+

x

Toàn bộ
giá trị
NVL trực
ti
ếp

 Điều kiện áp dụng: Cách đánh giá này phù hợp với những sản phẩm mà chi
phí chế biến chiếm tỷ trọng thấp trong tổng chi phí. Thực chất đây là một dạng của
phương pháp ước tính sản lượng tương đương trong đó giả định sản phẩm dở dang
đã hoàn thành ở mức độ 50% so với thành phẩm.
Phương pháp này ít được sử dụng vì tính không chính xác của nó (vì phải giả
định mức độ dở dang là 50%, không phản ánh được mức dở dang thực tế của sản
phẩm).
 Công thức tính toán tương tự phương pháp đánh giá theo sản lượng ước
tính tương đương song giả định sản phẩm dở dang ở mức độ 50%.
Giá trị NVL
chính nằm
trong SP d

Số lượng SP
dở dang
cuối kỳ
Số lượng

thành
ph
ẩm

Số lượng SP
dở dang
cu
ối kỳ

Toàn bộ
giá trị
NVL chính

=

+

x

Tổng chi
phí chế
bi
ến

Giá trị
SP dở
dang cu
ối
Giá trị NVL
chính nằm
trong SP d

Chi phí chế
biến nằm
trong SP dở
dang
(t
ổng các
=

+
giản đơn, số lượng mặt hàng ít, khối lượng sản xuất lớn, chu kỳ sản xuất ngắn, sản
phẩm dở dang không có hoặc có không đáng kể như các doanh nghiệp sản xuất động lực (điện, nước, hơi nước, khí nén, khí đốt, ); các doanh nghiệp khai thác
(than, quặng, hải sản, ).
 Cách xác định: Theo công thức tổng quát :

3.2. Phương pháp cộng chi phí
 Điều kiện: áp dụng đối với các doanh nghiệp mà quá trình sản xuất sản
phẩm được thực hiện ở nhiều bộ phận sản xuất, nhiều giai đoạn công nghệ, đối
tượng tập hợp chi phí sản xuất là các bộ phận chi tiết sản phẩm hoặc giai đoạn
công nghệ hay bộ phận sản xuất. Phương pháp này được áp dụng phổ biến trong
các doanh nghiệp khai thác, dệt nhuộm, cơ khí chế tạo, may mặc,
 Cách xác định: Giá thành được xác định bằng cách cộng chi phí sản xuất
của các bộ phận, chi tiết sản phẩm hay tổng chi phí sản xuất của các giai đoạn, bộ
phận sản xuất tạo nên thành phẩm:
Giá thành sản phẩm =Z1 + Z2 + + Zn
Trong đó: n là số giai đoạn hay bộ phận sản xuất tạo nên sản phẩm.
3.3. Phương pháp loại trừ
 Điều kiện: áp dụng trong trường hợp cùng một qui trình sản xuất vừa
tạo ra sản phẩm chính, vừa tạo ra sản phẩm phụ (sản phẩm phụ không phải là
đối tượng tính giá thành mà được định giá theo mục đích tận thu). Do vậy, cần
loại trừ trị giá sản phẩm phụ ra khỏi tổng chi phí. Phương pháp này được áp
dụng phổ biến trong các doanh nghiệp chế biến đường, rượu, bia, mỳ ăn liền
 Cách xác định:
Trước hết, xác định giá trị sản phẩm phụ theo các phương pháp như: giá ước tính,

+

-

-

Tổng giá
thành sản
phẩm
chính

Giá trị
sản
phẩm
chính
Tổng
CPSX
phát
sinh

Giá trị
sản
phẩm
chín
h
Giá trị
sản phẩm
phụ thu
h
ồi

Trong đó:
- Tính giá thành từng loại sản phẩm : 3.5. Phương pháp tỷ lệ
 Điều kiện áp dụng: Tương tự phương pháp hệ số, nhưng doanh nghiệp
không xác lập hệ số qui đổi mà sử dụng tỷ lệ giữa thực tế và định mức (hoặc kế
hoạch).
Tổng số
sản
ph
ẩm

(
Số lượng
hoàn thành
c
ủa loại
Hệ số
qui đổi
c
ủa
i=1

n

x

sinh
Giá
trị
sản
ph
ẩm
=

+

-

Giá thành đơn vị
c
ủa

Giá thành
đơn vị sản
ph
ẩm gốc

Hệ số qui
đổi từng
lo
ại sản
=

x
hàng ít nên đối tượng hạch toán chi phí được tiến hành theo sản phẩm, mỗi mặt
hàng sản xuất được mở một hoặc một số sổ (thẻ) hạch toán chi phí sản xuất. Công
Tỷ
lệ
chi
Tổng giá thành
thực tế
c
ủa các loại sản
Tổng giá thành định
mức( hoặc kế hoạch) của
các lo
ại sản phẩm=

100

x

Tổng giá thành
thực tế
c
ủa từng loại
=

Tổng giá thành định mức
(hoặc kế hoạch) của
t

tiếp cho đơn đặt hàng đó theo các chứng từ gốc. Riêng chi phí sản xuất chung, do
không thể tách riêng cho từng đơn nên tập hợp chung, sau đó phân bổ cho từng
đơn theo tiêu thức phù hợp (chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, giờ công sản
xuất, ).
- Tính giá thành: Giá thành được tính cho từng sản phẩm của từng đơn đặt
hàng. Giá thành chỉ được tính khi đơn đặt hàng hoàn thành nên kỳ tính giá thành
thường không thống nhất với kỳ báo cáo. Đối với những đơn đến cuối kỳ báo cáo
chưa hoàn thành thì toàn bộ chi phí coi như giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ
chuyển sang kỳ sau (số dư của TK154 – chi tiết theo đơn đặt hàng). Phương pháp
tính giá thành thích hợp là phương pháp trực tiếp hay hệ số  Ví dụ: Có thể thấy điển hình của loại doanh nghiệp này là các doanh
nghiệp sản xuất để xuất khẩu. Vì sản phẩm xuất khẩu phù hợp với điều kiện
nước xuất sang, đồng thời không hoặc khó thích hợp (ví dụ xuất khẩu sản phẩm
áo jacket cho Đông Âu) với điều kiện trong nước nên chỉ có thể sản xuất theo
đơn đặt hàng từ khách hàng. Nếu sản xuất thừa so với đơn đặt hàng hoặc sản
xuất không theo đơn đặt hàng thì khó có thể tiêu thụ được sản phẩm, dẫn đến ứ
đọng vốn và trì trệ sản xuất.

4.3. Doanh nghiệp áp dụng hệ thống hạch toán định mức
 Đặc điểm: Đây là các doanh nghiệp đã xác lập được hệ thống giá định mức
cho từng loại sản phẩm trên cơ sở các định mức tiêu hao hiện hành.
 Phương pháp xác định: Theo dõi riêng biệt từng khoản mục chi phí gắn liền
với từng đối tượng chịu chi phí ở cả 3 chỉ tiêu: định mức, chênh lệch do thay đổi
định mức (khi xác lập định mức mới), chênh lệch do thực hiện định mức (sử dụng
tiết kiệm hay lãng phí các yếu tố đầu vào, khoản này liên quan đến cả sản phẩm đở
dang và hoàn thành nên cần phân bổ cho sản phẩm dở dang và hoàn thành theo tỷ
lệ chi phí định mức). Khi đó giá thành thực tế được xác định:


=

+

+ _ _

Trích đoạn Phục vụ công tác kế toán và quản trị trong doanh nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status