LUẬN VĂN: Vai trò kinh tế của nhà nước trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay - Pdf 12

LUẬN VĂN:

Vai trò kinh tế của nhà nước
trong nền KTTT định hướng XHCN ở
nước ta hiện nay Đặt vấn đề

Cách đây khoảng 20 năm (trước cải cách kinh tế) người ta còn khá mơ hồ về
kinh tế thị trường (KTTT) và khái niệm này dường như không được nói đến nhiều và bị
tẩy chay trong xã hội. Những năm gần, từ sau cải cách kinh tế 1986, đây nhờ chính sách
của Đảng và nhà nước nhằm truyền bá sâu rộng đường lối phát triển KTTT định hướng

1) Thực trạng vai trò quản lý vĩ mô nền kinh tế của nhà nước ở nước ta 20
2) Giải pháp đổi mới và tăng cường vai trò kinh tế của nhà nước 22
Kết luận 24
Tài liệu tham khảo 25
Nội dung cơ bản.
Phần 1: Tính tất yếu khách quan,vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước đối với nền
kinh tế.
1) Tính tất yếu chuyển sang KTTT.
Cơ chế kế hoạch hoá tập trung đã tích góp những xu hướng tiêu cực, làm nảy sinh
sự trì trệ, hình thành cơ chế kìm hãm sự phát triển kinh tế _ xã hội. Cơ chế này chỉ hợp
với nền kinh tế còn thấp kém sau chiến tranh, càng ngày nó càng thể hiện sự không phù
hợp với sự phát triển kinh tế của đất nước. Như chúng ta đã biết tính tự cung tự cấp của
nền kinh tế ở nước ta nếu không có một cơ chế thay đổi thì không thể có dư thừa sản
phẩm để trao đổi và phát triển. Mặt khác nền kinh tế kế hoạch hoá mà chúng ta đang áp
dụng thực tế đưa nước ta vào tình trạng nghiêm trọng, cung không đủ cầu thậm chí
chúng ta phải nhập khẩu lương thực (thứ hàng hoá thế mạnh của một nước nông nghiệp)
từ nước ngoài.Lúc này nền kinh tế của các nước XHCN vận hành theo cơ chế cũ liên
tiếp tan vỡ. Các nước này phải chuyển sang cơ chế thị trường. Trên thực tế các nhân tố
thị trường đã có ở nước ta tuy nhiên còn nhiều ý kiến khác nhau về sự tồn tại của nó.
KTTT hình thành do phân công lao động xã hội và các hình thức sở hữu khác
nhau về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động. Đối chiếu hai điều kiện đó ở nước ta
hiện nay ta thấy :
Thứ nhất : Sự phân công lao động xã hội không những không mất đi mà còn tồn
tại và phát triển ở nước ta cả về chiều rộng và chiều sâu. ở nước ta ngày càng có nhiều
ngành nghề mới ra đời và phát triển, thêm vào đó trong nội bộ từng ngành và địa
phương phân công lao động ngày càng rõ rệt và chi tiết hơn.Cuối thập kỷ 70 đầu thập
kỷ 80 một loạt các hình thức phân công lao động ra đời như xí nghiệp đánh cá Vũng

tái sản xuất đều được tiền tệ hoá.(Kinh tế hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế _ xã hội
mà trong đó hình thái phổ biến của sản xuất là sản xuất ra sản phẩm để bán, để trao đổi
trên thị trường. Giáo trình Kinh tế chính trị )
*Ưu thế.
Kinh tế hàng hoá có những ưu thế như :
_ Thúc đẩy quá trình xã hội hoá sản xuất nhanh chóng, làm cho sự phân công lao
động, chuyên môn hoá sản xuất ngày càng sâu ssắc, hình thành các mối quan hệ kinh tế
và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các doang nghiệp và người sản xuất. tạo tiền đề cho hợp
tác lao động ngày càng chặt chẽ.
_ Thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất.
_ Thúc đẩy quá trình tích tụ tập chung sản xuất. Mở rộng giao lưu kinh tế trong
nước và hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
_ Giải phóng các mối quan hệ kinh tế ra khỏi sự ràng buộc của nền sản xuất khép
kín đã từng chói buộc và kìm hãm sự phát triển.
Kinh tế hàng hoá đã góp phần tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội và nâng cao
mức sống của nhân dân. Nó đảm bảo cho nền kinh tế có năng suất, chất lượng và hiệu
quả cao, dịch vụ được mở rộng, khoa học kỹ thuật được cải tiến.
*Khuyết tật.
Tuy nhiên nền kinh tế thị trường có những khuyết tật của nó như : Chỉ chú ý đến
các nhu cầu cơ bản có khả năng thanh toán, không chú ý các nhu cầu cơ bản khác của
xa hội do đó phúc lợi xã hội không phát triển. Đặt lợi nhuận lên hàng đầu và làm đủ mọi
cách để đạt được lợi nhuận nên làm tha hoá đạo đức kinh doanh. Tạo ra tình trạng thất
nghiệp, phân hoá giầu nghèo Kinh tế thị trường cùng với sự mở của của nó còn tạo đà
du nhập những luồng gió độc vào nền kinh tế _ xã hôị trong nước. Sự phát triển của sản
xuất còn kéo theo sự khan hiếm tài nguyên do khai thác không khoa học, sự ô nhiễm
nguồn nước, không khí và môi trường. Do tính tự phát vốn có của KTTT nên khó kiểm
soát khủng hoảng kinh tế, hoạt động đầu cơ trên thị trường. Ngoài ra khủng hoảng theo

kinh doanh đều phải hướng vào thị trường, chịu sự điều khiển, chi phối của thị trường
và giá cả thị trường. Quan hệ giữa người sản xuất và người tiêu dùng là mối quan hệ
hữu cơ, tác động qua lại phong phú đa dạng và phức tạp. Bên cạnh những mặt tích cực,
cơ chế thị trường cũng có những hạn chế khuyết tật mà tự nó không thể khắc phục như
đã nói ở phần trên. KTTT với tính tự phát của nó không thể đáp ứng được các mục tiêu
xã hội. Vì vậy cần phải có sự quản lý vĩ mô nền kinh tế để triển khai những mặt tích cực
và hạn chế các khuyết tật của nó. Sự can thiệp của nhà nước ở các cấp độ khác nhau và
các công cụ, biện pháp khác nhau nhằm hướng hoạt động sản xuất kinh doanh đi theo sự
định hướng của nhà nước, ở đây là định hướng XHCN.Nhờ có sự tác động đó, nhà nước
có thể hướng các doanh nghiệp vì lợi ích của mình mà đi theo định hướng của nhà nước.
Vì vậy sự can thiệp của nhà nước vào quản lý vĩ mô nền kinh tế là tất yếu.
Thống nhất hiệu quả kinh tế _ xã hội trong sự phát triển của đất nước là một nhiệm
vụ chủ yếu, nặng nề và hết sức khó khăn của quản lý nhà nước. Chíng vì vậy, muốn đạt
hiệu quả kinh tế xã hội đáp ứng sự phát triển của đất nước, nhất thiết phải không ngừng
đổi mới, hoàn thiện quản lý vĩ mô nền kinh tế của nhà nước.
3.3 Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, sự điều tiết quản lý vĩ mô là nhân tố đảm bảo
cho nền kinh tế phát triển có hiệu quả và theo định hướng XHCN.
Trong cơ chế quản lý hai nhân tố khách quan trực tiếp bảo đảm tính định hướng
XHCN của nền kinh tế là : Vai trò chủ đạo của khu vực quốc doanh và vai trò quản lý vĩ
mô của nhà nước. Tính định hướng XHCN xét dưới góc độ kinh tế chính là : phát huy
mọi nguồn lực, tiềm năng, đẩy nhanh sự phát triển của LLSX, khoa học kỹ thuật và
công nghệ trên cơ sở đó xây dựng củng cố và hoàn thiện QHSX XHCN nhằm mục đích
cuối cùng là đem lại hạnh phúc, ấm no, tự do và dân chủ thực sự cho mọi thành viên
trong xã hội. Để làm được điều đó, không thể thiếu vai trò quản lý, điều tiết vĩ mô về
kinh tế của nhà nước.
Tăng cường vai trò quản lý kinh tế của nhà nước lại càng đặc biệt quan trọng
trong bối cảnh chung của nền kinh tế thế giới ngày nay và cuộc đấu tranh giai cấp và

tế bằng cách đặt ra những quy định chi tiết cho sự hoạt động của thị trường, đặt ra
những quy định chi tiết cho sự hoạt động của doanh nghiệp trong khuôn khổ pháp luật
mà nhà nước cần thiết lập có tác dụng sâu sắc đến hành vi kinh tế của con người và cả
bản thân chính phủ phải noi theo.
ở Việt Nam Nhà nước ta luôn chú trọng tạo ra điều kiện chính trị thuận lợi cho hoạt
động kinh tế. Vai trò này được thể hiện qua các chính sách về sở hữu và sử dụng đất đai
được áp dụng mềm dẻo rồi nhà nước dần từ bỏ việc quản lý hành chính sang quản lý
dựa trên pháp luật như : Năm 1988 đưa ra luật đầu tư nước ngoài. Năm 1989 cải các
thuế. Năm 1991 Luật doanh nghiệp thương mại. Năm 1992 Luật đất đai. Năm 1993 thuế
VAT Nhưng thực trạng còn tồn tại ở Việt Nam là hành lang pháp luật này còn quá
nhiều khe hở, không thực sự an toàn và phát huy hết tác dụng cũng như vai trò của nhà
nước.
*Điều tiết kinh tế đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định, Nhà nước cố gắng
làm dịu những giao động lên xuống của chu kỳ kinh doanh bằng chính sách tài chính _
tiền tệ làm ổn định nền kinh tế.
ở Việt Nam hệ thống giá cả đã được tự do hoá và do cơ chế cung _ cầu quyết
định.Những sự đổi mới trong chính sách tài chính tiền tệ với những công cụ như lãi
suất, tỷ giá hối đoái, thuế đã cải thiện đáng kể ngân sách nhà nước (NSNN), những cơn
sốt lạm phạt giảm dần. Từ năm 1987 ta bắt đầu thả nổi một phần giá cả, đến năm 1988
phần lớn giá cả được thả nổi và đến năm 1989 chương trình cải cách được thực hiện
bằng cách phối hợp chính sách tự do hoá thương mại, phá giá đồng tiền, nâng lãi suất
và thay đôi tỷ giá hối đoái làm tỷ lệ lạm phát giảm xuống 2 con số.
Tuy nhiên những chính sách này còn cứng nhắc (như thay đổi trong tỷ lệ lãi
suất,trong 12 năm từ 1976 đến 1988 mà lãi suất chỉ thay đổi có 5 lần ) đôi khi còn chậm
thay đổi trước những tác động của thị trường. Nhà nước không kiểm soát hết tình hình
tiền tệ trôi nổi trên thị trường. Còn nhiều khái niệm của KTTT chưa được áp dụng do
khong có đủ cơ sở hạ tầng về pháp luật

Sự can thiệp của nhà nước nhằm phân phối thu nhập công bằng, bảo vệ các thành
viên của xã hội chống lại những khó khăn về kinh tế, nâng cao mức sống của các nhóm
dân cư thông qua chính sách phân phối, bảo hiểm xã hội và phúc lợi xã hội.
Nước ta đã áp dụng chế độ phân phối theo lao động kết hợp với phúc lợi xã hội và
chính sách này cũng đã có tác dụng thiết lập sự công bằng trong phân phối mà không
làm giảm các công trình phúc lợi xã hội.
Phần 2: Đặc trưng cơ bản của KTTT định hướng XHCN ở nước ta.
Nét tổng quát về KTTT định hướng XHCN mà nước ta đang xây dựng là: Thể chế
kinh tế mà trong đó thị trường và các quan hệ thị trường ngày càng đóng vai trò quyết
định đối với sản xuất kinh doanh và phân phối tài nguyên quốc gia dưới sự quản lý vĩ
mô của nhà nước, nền kinh tế nhiều thành phần thông qua cạnh tranh, liên kết, hợp tác
có trình độ xã hội hoá cao, thúc đẩy sự hài hoà giữa sản xuất và nhu cầu. Nền kinh tế
vận hành theo các quy luật kinh tế khách quan và các chính sách kinh tế phù hợp đảm
bảo thị trường thống nhất, mở rộng, phù hợp các mục tiêu tăng trưởng, hiệu quả cân
bằng và ổn định. Nhà nước dùng luật pháp, và chính sách kinh tế dẫn dắt thị trường phát
triển lành mạnh, dùng chính sách phân phối và điều tiết để đảm bảo phúc lợi cho toàn
dân và công bằng xã hội.( Cơ chế thị trường và sự đổi mới kinh tế ở nước ta)
Các đặc trưng cơ bản mà KTTT định hướng XHCN nước ta đang hướng tới là.
1) Nền kinh tế thị trường mà chúng ta đang xây dựng đi từ một nền kinh tế
hàng hoá mang nặng tính tụ cấp tự túc từng bước đi lên KTTT dựa trên lực lượng
sản xuất phát triển cao hay tương đối hiện đại nhằm mục tiêu dân giầu nước
mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh và CNXH.
Sau khi hoà bình lập lại nhà nước ta chủ trương xây dựng CNXH bỏ qua CNTB
nên nước ta có một xuất phát điểm rất thấp đó là sự thiếu thốn về cơ sở vật chất kỹ thuật
của một nền kinh tế phát triển cao. Công nghệ mà chúng ta có được là do chính quyền
cũ để lại do đó nó lạc hậu và hỏng hóc nhiều. Ngoài ra kiểu quản lý nền kinh tế chỉ huy
đã làm xơ cứng các mối quan hệ kinh tế như :

còn nhiều hình thức sở hữu khác nhau về TLSX. Cho đến nay các thành phần kinh tế từ
đại hội VI cơ bản vẫn còn tồn tại tuy nhiên có sự thay đôỉ trong cách nhìn nhận và có
thêm vào một số thành phần cho phù hợp và đến đại hội IX Đảng ta khẳng định các
thành phần kinh tế tồn tại khách quan tương ứng với tính chất trình độ phát triển của
LLSX trong giai đoạn lịch sử hiện nay là : Kinh tế nhà nước (KTNN), Kinh tế tập thể,
Kinh tế cá thể tiểu chủ, Kinh tế tư bản tư nhân,Kinh tế tư bản nhà nước, Kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài.( Văn kiện đại hội Đảng IX )
2.1 Kinh tế nhà nước.
Là thành phần kinh tế dựa trên cơ sở sở hữu nhà nước về TLSX. Quyền sử dụng
TLSX để sản xuất kinh doanh được giao cho tập thể người trong từng đơn vị để sản xuất
kinh doanh nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu vật chất của xã hội.
Là thành phần kinh tế giữ vai trò chủ đạo, là công cụ để nhà nước định hướng và
điều tiết vĩ mô nền kinh tế. KTNN trước hết bao gồm các doanh nghiệp nhà nước,
doanh nghiệp cổ phần, tài sản thuộc sở hữu của nhà nước. Theo chủ trương của Đảng ta
KTTT tập trung vào những ngành lĩnh vực như cơ sở hạ tầng xã hội, thương mại, dịch
vụ quan trọng để đảm bảo những cân đối lớn, chủ yếu của nền kinh tế và thực hiện vai
trò chủ đạo trong nền KTTT.Vai trò đó thể hiện ở chỗ nó mở đường hỗ chợ cho các
thành phần kinh tế khác phát triển. Được nhà nước bảo trợ nên có lượng vốn nhiều,
trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến, nắm giữ trong những ngành then chốt trong nền
kinh tế, nên nó là cơ sở quan trọng, có khả năng chi phối nền kinh tế, là công cụ có sức
mạnh để nhà nước điều tiết và hướng dẫn nền KTTT theo định hướng XHCN.
Tuy nhiên KTNN do ỉ lại vào sự bảo hộ của nhà nước mà mất tính cạnh tranh, tự
chủ trong sản xuất kinh daonh. Do đó nhà nước phải chăm lo giúp đỡ cho các doanh
nghiệp nhà nước phát triển có hiệu quả nhưng cũng nên giảm bớt những doanh nghiệp
làm ăn thua lỗ, củng cố và mở rộng những doanh nghiệp cần thiết.
2.2 Kinh tế tập thể.
Là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất. ở nước ta kinh tế

2.5 Kinh tế tư bản nhà nước.
Là loại hình kinh tế hỗn hợp giữa nhà nước XHCN với tư bản tư nhân cả trong
nước và ngoài nước. Là sản phẩm của sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động của các
tổ chức, đơn vị kinh tế tư bản trong và ngoài nước. ở nước ta thành phần kinh tế này
phát triển mạnh mẽ dưới nhiều hình thức liên doanh, liên kết nhằm dử dụng khai thác,
phát huy thế mạnh của mỗi bên tham gia, đặt dưới sự kiểm soát, giúp đỡ của nhà nước.
Tuy nhiên tỷ lệ vốn của Việt Nam còn nhỏ, người lao động bị đối sử không công
bằng , 8 nhà nước cần khắc phục những hạn chế trên.
2.6 Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Là thành phần kinh tế mới được nghi nhận trong nghị quyết đại hội Đảng IX. Nó
là thành phần kinh tế 100% vốn đầu tư nước ngoài hướng vào sản xuất những mặt hàng
công nghệ cao để xuất khẩu, thu hút lao động, khắc phục tình trạng thiếu việc làm Tuy
nó cũng góp phần thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát triển nhưng còn nhiều hạn chế như :
nhà nước không kiểm soát hết hoạt động của họ, không bảo vệ quyền lợi người lao
động
8Nền kinh tế nhiều thành phần trong sự vận động của cơ chế thị trường ở nươc ta
là nguồn lực tổng hợp to lớn để đưa nền kinh tế vượt khỏi tình trạng thấp kém, ngân
sách nhà nước hạn hẹp. Nó phản ánh tính đa dạng, phong phú trong đáp ứng nhu cầu xã
hội, vừa phản ánh tính chất phức tạp trong quản lý của nhà nước.
3) KTTT định hướng XHCN dựa trên cơ cấu kinh tế mở cửa chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế và khu vực dựa trên nguyên tắc giữ vững độc lập chủ quyền
và định hướng XHCN.
Sự ra đời và phát triển của KTTT đã phá vỡ các mối quan hệ kinh tế truyền thống
của nền kinh tế khép kín, kéo theo đó là sự mở của, chủ động hội nhập với kinh tế quốc
tế. Chính sự thay đổi đó dẫn đến sự phát triển kinh tế nhanh chóng. Mở rộng quan hệ
hợp tác với nước ngoài là tất yếu vì : KTTT mang đến sự phát triển về trình độ cũng
như QHSX dẫn đến hàng hoá sản xuất ra nhiều. Sản xuất và trao đổi hàng hoá tất yếu
phẩm của nền sản xuất không chỉ về nội dung mà còn về hình thức bởi vì phương thức
tham gia vào sản xuất của con người quyết định hình thức đặc thù của phân phối.
Ơ nước ta tồn tại một số hình thức phân phối như : phân phối theo lao động, phân
phối ngoài thù lao lao lao động thông qua các quỹ phúc lợi xã hội, phân phối theo tài
sản, vốn và những đóng góp khác. Trong các hình thức cơ bản đó phân phối theo lao
động và phúc lợi xã hội làm chủ đạo nhưng phân phối ngoài thù lao lao động ngày càng
trở nên quan trọng trong phát triển xã hội. Hai cách phân phối này kết hợp với nhau, bổ
sung cho nhau và dựa vào nhau để giải quyết những yêu cầu chung của xã hội. Đồng
thời phân phối theo tài sản, vốn cũng ngày một khẳng định vai trò của nó trong hệ thống
phân phối lợi ích ở nước ta.
Phân phối theo lao động là hình thức chủ đạo vì : Đặc trưng của CNXH là chế độ
công hữu về TLSX và chế độ người bóc lột người bị xoá bỏ, quyền làm chủ về kinh tế
của người lao động được xác lập. Lao động trở thành cơ sở quyết định địa vị xã hội và
phúc lợi xã hội của mỗi người. Trên nguyên tắc phải trả công bằng cho lao động ngang
nhau và trả khác nhau cho lao động khác nhau, không phân biệt giới tính, tôn giáo, tuổi
tác, dân tộc Tuy nhiên nguyên tắc phân phối theo lao động phả đảm bảo nhu cầu vật
chất, tinh thần cho người lao động. Phân phối theo lao động đáp ứng đòi hỏi cấp bách
của sự công bằng xã hội. Nó kết hợp chặt chẽ lợi ích của người tiêu dùng và xã hội,
khuyến khích học tập nâng cao trình độ phát triển đất nước.
Sự bổ sung cần thiết và quan trọng trong nguyên tắc phân phối theo lao động là :
Phân phối theo tài sản, vốn và những đóng góp khác thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển,
đưa vốn nhàn rỗi trong dân cư vào chu chuyển. Phân phối ngoài thù lao lao động thông
qua các quỹ phúc lợi xã hội góp phần tạo lập sự công bằng giữa mọi thành viên trong xã
hội nhằm phát triển xã hội nước ta hiện nay.
5) Kết hợp văn hoá dân tộc và văn hoá hiện đại có chọn lọc trong đó lấy văn
hoá dân tộc làm gốc.
Kinh tế, văn hoá, chính trị có mối quan hệ khăng khít với nhau. Kinh tế muốn phát
triển nhanh,lành mạnh không chỉ dựa vào các động lực kinh tế thuần tuý mà còn phải

phối lợi ích kinh tế, công bằng xã hội.
8 Sáu đặc trưng trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình xây dựng
KTTT định hướng XHCN ở nước ta. Nói chung “bàn tay hữu hình” của nhà nước có
mặt ở mọi đặc trưng này để làm tốt vai trò và chức năng quản lý của mình. Các chức
năng này do nhà nước đặt ra và phấn đấu thực hiện đưa nước ta phát triển thành nước
XHCN như các vị tiền bối mong đợi.
Phần 3 : Mục tiêu và chức năng quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước
1) Chức năng quản lý vĩ mô nền kinh tế của nhà nước.
Chức năng quản lý vĩ mô nền kinh tế của nhà nước thể hiện quan những mặt sau.
1.1 Định hướng sự phát triển của nền kinh tế.
Dù cho hoàn cảnh thế giới thay đổi bằng sự sụp đổ hàng loạt của hệ thống CNXH
nhưng nước ta một số nước khác trên thế giới vẫn kiên định với con đường CNXH. Để
phù hợp với quy luật khách quan và xu thế của thời đại nước ta chủ trương phát triển
KTTT định hướng XHCN. Để đạt được điều đó nhà nước ta phải phát huy vai trò to lớn
là định hướng nền kinh tế theo những đặc trưng của KTTT định hướng XHCN như phần
trên đã nêu. Nhà nước phải tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát huy mọi tiềm năng, thế
mạnh, dẫn dắt và hỗ trợ những nỗ lực phát triển của mọi thành phần kinh tế, mọi đối
tượng dân cư, mọi doanh nghiệp trong nước.
Chức năng này thể hiện ở các hướng sau : trực tiếp đầu tư vào một số lĩnh vực then
chốt để dẫn dắt nền kinh tế phát triển theo (như : năng lượng, giao thông vận tải, thông
tin liên lạc ). ổn định môi trường kinh tế vĩ mô như chống lạm phát, chống khủng
hoảng, ngăn ngừa những đột biến xấu trong nền kinh tế để đạt dược hiệu quả tăng
trưởng cao và đảm bảo định hướng XHCN.
Xây dựng và củng cố khu vực KTNN để thành phần kinh tế này thực hiện vai trò
định hướng trong nền kinh tế trong sản xuất.KTNN phải thực sự là tấm gương dẫn dắt
các thành phần kinh tế khác hoạt động có hiệu quả và đúng hướng.Điều chỉnh kế hoạch,
chính sách kinh tế đúng đắn, hợp lý, ổn định và thường xuyên hoàn thiện, đổi mới. Khai

1.3 Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế _xã hội đảm bảo yêu cầu của phát triển kinh
tế.
Hiệu quả kinh tế _ xã hội là mục tiêu cao nhất, là thước đo cuối cùng của sự tăng
trưởng và phát triển kinh tế của một quốc gia. Hiệu quả kinh tế _xã hội là điều kiện đảm
bảo cho sự phát triển ổn định của một nền kinh tế. Nó còn thể hện tính ưu việt của nền
kinh tế định hướng XHCN. Chức năng của nhà nước là xây dựng kết cấu hạ tầng kinh
tế _xã hội để đạt hiệu quả kinh tế _xã hội đảm bảo yêu cầu phát triển kinh tế.
Nhà nước phải kịp thời hoạch định và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính
sách xã hội trong đó đặc biệt lưu ý các chính sách có tầm quan trọng to lớn và tầm ảnh
hưởng sâu rộng đối với xã hội và nền kinh tế như :
_ Chính sách việc làm.
_ Chính sách tiền lương và phân phối thu nhập.
_ Chính sách dân số kế hoạch hoá gia đình.
_ Chính sách bảo hiểm xã hội.
_ Chính sách bảo vệ môi trường.
_ Chính sách đối với nông thôn, nông nghiệp và nông dân.
_ Chính sách dân tộc tôn giáo
Phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng bình đẳng về quyền lợi
và nghĩa vụ công dân. Kết hợp tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội, đời sống vật chất
và tinh thần, lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể Chính sách xã hội tác động trực tiếp và
hình thành một cộng đồng văn minh như giáo dục, y tế, văn hoá _xã hội, những yếu tố
này phát triển sẽ tạo điều kiện cho kinh tế phát triển.
1.4 Quản lý tài sản công cộng và kiểm kê, kiểm soát toàn bộ hoạt động kinh tế,
xã hội. Thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chức năng chủ sở hữu
tài sản công của nhà nước. Các cán bộ và các cấp chính quyền không can thiệp vào
chức năng quản trị kinh doanh và quyền tự chủ của các doanh nghiệp
Với tư chách là người chủ sở hữu toàn dân mà nhà nước là đại biểu, nhà nước có

Nhà nước áp dụng chính sách phân phối theo thu nhập là chủ yếu, bên cạnh những
cách phân phối khác nhằm phát huy các hình thức kinh doanh phát triển và thực hiện
công bằng xã hội. Bên cạnh đó nhà nước tập trung xây dựng những công trình phúc lợi
xã hội nhằm nâng cao đời sống nhân dân
8 Các chức năng này của nước có quan hệ mật thiết và được phối hợp với nhau
trong quá trình thực thi vai trò lãnh đạo của mình. Các chức năng này đang dần được
nhà nước hoàn thiện để nâng cao hơn nữa vai trò quản lý vĩ mô nền kinh tế của mình.
2 ) Mục tiêu quản lý vĩ mô nền kinh tế.
Trong nền KTTT định hướng XHCN tất yếu phải có sự quản lý vĩ mô của nhà
nước về kinh tế (như đã trình bày ở trên). Sự quản lý đó nhằm một số mục tiêu sau.
Mục tiêu phát triển LLSX, trên cơ sở đó phát triển QHSX cho tương xứng với
trình độ phát triển của LLSX từng bước CNH_HĐH đất nước. Xây dựng nền kinh tế
độc lập tự chủ,đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp và thoát khỏi tình trạng kém
phát triển.Nâng cao rõ rệt chất lượng, sức cạnh tranh và hiệu quả phát triển kinh tế.
Phân phối công bằng và hiệu quả lợi ích kinh tế _ xã hội
Nâng cao đời sống vật chất tinh thần và chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Tăng trưởng kinh tế gắn với đảm bảo tiến bộ và công bằng trong xã hội. Tốc độ tăng
trưởng GDP cao và ổn định, GDP trên đầu người tăng dần. GDP là chỉ số phản ánh khá
chi tiết sự phát triển của nền kinh tế nền mục tiêu cụ thể là tăng trưởng GDP phản ánh
sự tăng trưởng về kinh tế cũng như đời sống của nhân dân.
Tăng chỗ làm việc và giảm thất nghiệp. (Tăng việc là, hạn chế thất nghiệp nhằm
hạn chế tệ nạn xã hội, tăng mức thu nhập cho người dân ). Giải quyết hiệu quả vấn đề
việc làm, xoá đói giảm nghèo và đẩy lùi các tệ nạn xã hội đặc biệt là ma tuý. Nâng cao
chất lượng giáo dục _ đào tạo, khoa học _công nghệ, phát huy nhân tố con người.
Điều chính chỉ số giá cả và lạm phát. Với mục tiêu này giá cả trong nước có
phần mềm dẻo hơn do đó tránh nguy cơ lạm phát và khủng hoảng kinh tế. Mục tiêu
giảm lạm phát và chỉ số giá cả hợp lý kích thích tiêu dùng, từ đó kích thích sản xuất

nước pháp quyền ở Việt Nam.
3.2 Quản lý kinh tế bằng công cụ kế hoạch ở tầm vĩ mô.
Kế hoạch vĩ mô chủ yếu mang tính chất định hướng. Kế hoạch vĩ mô có vai trò đặc
biệt quan trọng thông qua việc thực hiện các chức năng nhủ yếu như :
_Cụ thể hoá đường lối, gắn với dự báo, định hướng phát triển
_Huy động, khai thác các nguồn lực, giải phóng mọi tiềm năng để phát triển kinh
tế.
_Xây dựng các cân đối thu _ chi, tích luỹ_tiêu dùng, hàng_tiền nhằm đảm bảo
tính ổn định của sự phát triển knh tế.
_ Điều tiết có hiệu lực hoạt động của các đơn vị kinh tế ở mọi thành phần khác
nhau
3.3 Quản lý vĩ mô thông qua việc sử dụng các công cụ đòn bẩy tài chính, tiền tệ,
tín dụng, ngân hàng, tiền lương và giá cả.
Các công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng, ngân hàng phải có vai trò, phạm vi tác động
có hiệu quả trong điều kiện chuyển sang nền KTTT. Với sự thu hẹp các chỉ tiêu kế
hoạch pháp lệnh thì sự điều tiết ở tầm vĩ mô của nhà nước đối với sản xuất và lưu thông
cũng chủ yếu là thông qua các phương pháp và biện pháp tài chính, tiền tệ, giá cả, tiền
lương là chủ yếu.
Phướng hướng chủ yếu : ổn định và lành mạnh hóa nền tài chính _ tiền tệ, kiểm soát
lạm phát là nhiệm vụ hàng đầu của các chính sách kinh tế vĩ mô. Đổi mới hoạt động của
hệ thống ngân hàng, tín dụng. Cải cách chính sách giá cả tiền lương và thu
nhập Chuyển qua cơ chế thị trường không hề phủ định các chính sách kinh tế vĩ mô về
giá cả, tiền lương và thu nhập cũng như vai trò quản lý và điều tiết của nhà nước đối với
các lĩnh vực này.
Ngoài ra còn có một số công cụ như các chính sách xã hội (đã trình bầy ở phần
trên ), chính sách ưu đãi, khuyến khích phát triển, các thực lực kinh tế như : lực lượng
dự trữ quốc gia, các doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức nước ngoài ở Việt Nam hoạt

đẩy hình thành nền KTTT định hướng XHCN. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế, doanh nghiệp nhà nước được xắp xếp lại một bước, thích nghi dần với
cơ chế mới, hình thành những cty lớn trên nhiều lĩnh vực then chốt. Các thành phần
kinh tế phát triển nhanh và bền vững. Cơ chế quản lý và phân phối có nhiều đổi mới,
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế _xã hội.
Mặt khác QHSX có mặt chưa phù hợp, hạn chế việc giả phóng và phát triển
LLSX. Chưa có chuyển biến đáng kể trong việc đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà
nước. Kinh tế tập thể chậm phát triển. Các thành phần kinh tế chưa thực sự bình đẳng,
chưa phát huy hết năng lực của mình.
_ Các chính sách kinh tế vĩ mô như các chính sách tài chính _tiền tệ, chính sách thu
nhập, chính sách kinh tế đối ngoại, chính sách chống lạm phát đã có sự thành công
trong thực hiện. Chính sách tài chính tiền tệ đã sử dụng có hiệu quả các công cụ lãi suất,
dự trữ ngoại tệ, ổn định tăng trưởng và chống lạm phát hữu hiệu, kết quả lạm phát giảm
từ 67% năm 1991 xuống 45% năm 1993.Chính sách kinh tế đối ngoại đã khơi dậy khả
năng xuất khẩu và kêu gọi đầu tư nước ngoài
Tuy nhiên kinh tế vĩ mô còn những yếu tố thiếu vững chắc. Hệ thống tài chính,
ngân hàng, kế hoạch đổi mới chậm, chất lượng hoạt động hạn chế.Nhà nước chưa thực
sự tạo môi trường đầu tư hiệu quả do chính sách pháp luật và thuế
_ Một số tồn tại bên cạnh những mặt trên như :
+ Hệ thống pháp luật kinh tế ở nước ta còn quá yếu đã gây những tổn thất nặng
nề như buôn lậu, tham nhũng, hàng giả
+ Sự chỉ đạo còn chưa nghiêm, kém hiệu lực, thiếu sự nhanh nhạy, chưa thất
chủ động tranh thủ thời cơ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status