Lý thuyết của keynes về vai trò kinh tế của nhà nước
và sự vận dụng ở nước ta hiện nay nhóm 10
ĐỀ CƯƠNG SƠ LƯỢC
Đề tài : Lý thuyết của Keynes vai trò kinh tế của nhà nước và sự vận dụng
ở nước ta hiện nay
Chương 1. Sơ lược về lý thuyết của Keynes.
1.1. Tiểu sử của Keynes.
1.2. Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của lý thuyến Keynes.
1. 2.1. Hoàn cảnh ra đời .
1. 2.2. Những đặc điểm cơ bản của trường phái Keynes.
Chương 2. Lý thuyết của Keynes về vai trò kinh tế của nhà nước
2.1. Chính sách đầu tư
2.2. Chính sách tài chính tín dụng ,tiền tệ và thuế khóa
2.3. Chính sách tạo việc làm
2.4. Khuyến khích tiêu dùng cá nhân
Chương 3. Sự vận dụng ở nước ta hiện nay về lý thuyết của Keynes về vai trò kinh tế của
nhà nước.
3.1 Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu 2007- 2008 với
các gói giải cứu và kích thích kinh tế theo Keynes
3.2.Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới tới Việt Nam và các gói kích cầu
ở Việt Nam theo nguyên tắc của Keynes
3.2.1.Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới tới Việt Nam
3.2.2.Các gói kích cầu
3.2.2.1.Tác động tích cực của các gói kích cầu
3.2.2.2.Tác động tiêu cực của các gói kích cầu
3.2.2.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả các gói kích cầu
- 1 -
Lịch sử các học thuyết kinh tế
Lý thuyết của keynes về vai trò kinh tế của nhà nước
và sự vận dụng ở nước ta hiện nay nhóm 10
Năm 14 tuổi, ông vào trường đại học Eton, một trường chuyên đào tạo ra
những nhân vật ưu tú của nước Anh. Khi học ở đây, ông đạt toàn điểm ưu
nên năm 1902, ông được chuyển về học tại Học viện Hoàng gia thuộc
trường Đại học Cambridge và học chuyên về môn toán. Sau khi tốt
nghiệp, ông tiếp tục ở lại trường Cambridge học thêm triết học và kinh tế
học.
Năm 1906, ông vào làm việc ở Bộ Sự vụ Ấn Độ của Chính phủ trong 2
năm. Năm 1908, ông nhận lời mời của A. Marshall về làm việc tại Học
viện hoàng gia thuộc trường đại học Cambridge, giảng dạy nguyên lý
kinh tế chính trị học và lý luận về tiền tệ, cùng năm đó, ông biên soạn
cuốn sách: "Bàn về sắc suất", nhờ đó ông trở thành cán bộ nghiên cứu
của Học viện hoàng gia của trường. Từ đó về sau, ông vừa giảng dạy ở
trường Đại học Cambridge, vừa phục vụ Chính phủ hoặc giới tài chính
tiền tệ cho đến năm 1942.
Năm 1909, ông sáng lập ra câu lạc bộ kinh tế chính trị học và đạt giải
thưởng Adam Smith do viết cuốn "Phương pháp xây dựng chỉ số". Trong
suốt thời gian dài từ năm 1911 đến 1944, ông kiêm chức chủ nhiệm "Tạp
chí kinh tế" của Hiệp hội kinh tế Hoàng gia. Từ năm 1913 đến 1914, ông
giữ chức thư ký uỷ ban tiền tệ và tài chính Ấn Độ của hoàng gia. Năm
1914, nước Anh bước vào cuộc chiến, ông trở thành một chuyên gia tin
cậy của Sở kho bạc, ông đã hoạt động cuồng nhiệt đến kiệt sức để giải
quyết vấn đề cấp tài chính cho chiến tranh.
- 3 -
Lịch sử các học thuyết kinh tế
Lý thuyết của keynes về vai trò kinh tế của nhà nước
và sự vận dụng ở nước ta hiện nay nhóm 10
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, ông chuyển từ luôn luôn được trọng
dụng và đề bạt. Năm 1919 là trưởng đoàn đại biểu tài chính tham dự Hội
nghị Hoà ước Versailles ở Paris, nhưng do ý kiến bất đồng, nên ông tách
khỏi đoàn đại biểu Anh. Sau khi về Cambridge, với nỗ lực bản thân, ông
ông là nhà kinh tế học cả ảnh hưởng lớn nhất đối với kinh tế học phương
Tây hiện đại và chính sách kinh tế của các Chính phủ.
Vào những năm 30 của thế kỷ XX, ở các nước phương Tây, khủng hoảng
kinh tế diễn ra thường xuyên, tình trạng thất nghiệp trở nên nghiêm trọng.
- 4 -
Lịch sử các học thuyết kinh tế
Lý thuyết của keynes về vai trò kinh tế của nhà nước
và sự vận dụng ở nước ta hiện nay nhóm 10
Lý thuyết kinh tế của trường phái cổ điển và trường phái tân cổ điển, mà
nội dung cơ bản của nó là sự điều tiết của cơ chế thị trường sẽ đưa nền
kinh tế đến sự cân bằng, không cần có sự can thiệp của Nhà nước vào
kinh tế đã không thể giúp ích cho việc khắc phục khủng hoảng và thất
nghiệp. Lý thuyết kinh tế tự điều chỉnh bị thất bại trước thực tế phũ
phàng của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, đặc biệt một cuộc đại khủng
hoảng kinh tế năm 1929 - 1933 đã làm tan rã tư tưởng tự do kinh tế.
Mặt khác, vào đầu thế kỷ XX, lực lượng sản xuất và sự xã hội hoá sản
xuất phát triển, độc quyền ra đời và bắt đầu bành trướng thế lực. Trước
tình hình đó đòi hỏi phải có sự điều tiết của Nhà nước đối với sự phát
triển kinh tế ở các nước tư bản chủ nghĩa. Vì thế, lý thuyết kinh tế "Chủ
nghĩa tư bản có điều tiết" ra đời, sáng lập ra nó là John Maynard Keynes.
Sau khi Keynes mất, làm thế nào để kế thừa và phát triển tư tưởng của
Keynes, các nhà kinh tế học theo học thuyết Keynes đều đưa ra sự kiến
giải của mình, đặc biệt là sau khi áp dụng rộng rãi học thuyết Keynes đã
nảy sinh hàng hoạt vấn đề mới, nạn thất nghiệp và lạm phát xảy ra cùng
một lúc, mỗi người một ý, tranh cãi liên miên và hình thành cái gọi là
"học thuyết hậu Keynes", "học thuyết Keynes mới", "học thuyết Keynes
hiện đại". Việc sửa đổi, bổ sung lý thuyết của Keynes chủ yếu biểu hiện:
Phát triển việc phân tích trạng thái tĩnh, ngắn hạn sang phân tích trạng
thái động, dài hạn; lấy phân tích quá trình bổ sung cho việc phân tích
bình quân; lấy nguyên lý gia tốc bổ sung cho nguyên lý số nhân; đưa ra
1. 2.2.1. Đặc điểm về nội dung
Thứ nhất , đối lập với lí thuyết của trường phái cổ điển keynes không
ủng hộ quan điểm tự do kinh tế về sự cân bằng của nền kinh tế dựa trên
sự tự điều tiết của thị trường mà không có sự can thiệp của nhà nước .
Ông cho rằng sự khủng hoảng kinh tế đang diễn ra ngày càng trầm trọng
không phải là hiện tượng nội sinh của chủ nghĩa tư bản mà là do thiếu sự
can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế .Theo ông vấn đề nan giải nhất
của chủ nghĩa tư bản không phải là lạm phát hay khủng hoảng mà là vấn
đề thất nghiệp và việc làm.Do đó trong lý thuyết của ông tập trung giả
quyết hai vấn đề chính là tăng trưởng và việc làm dựa trên cơ sở là sự
điều tiết của nhà nước .
Thứ hai., ông chỉ ra rằng điều kiện đảm bảo cho tái sản xuất bình
thường thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giải quyết khủng hoảng và thất
nghiệp là đầu tư bằng tiết kiệm khuyến khích đầu tư và giảm tiết kiệm.
Thứ ba ,lý thuyết của keynes là lý thuyết trọng cầu .Ông đánh giá vai
trò của tiêu dùng của lĩnh vực trao đổi ,coi đây là nhiệm vụ số một mà
các nhà kinh tế học phải giải quyết .Theo ông khi việc làm tăng lên thì
thu nhập cũng tăng lên do đó có sự tăng lên của tiêu dùng .Tuy nhiên do
khuynh hướng tâm lí nên mức tăng tiêu dùng nhỏ hơn mức tăng của thu
nhập làm cho cầu có hiệu quả bị giảm xuống .Đây là nguyên nhân gây ra
khủng hoảng ,thất nghiệp trì trệ trong nền kinh tế tư bản chủ nghiã.do đó
muốn đảm bảo phát triển sản xuất ,cân bằng cung cầu thì phải tăng tiêu
dùng ,thực hiện các biện pháp kích cầu có hiệu quả.
1.2.2.2. Đặc điểm về phương pháp luận
Thứ nhất, phương pháp phân tích của keynes dựa trên cơ sở tâm lý chủ
quan.Nhưng khác với trường phái cổ điển mới dựa vào tâm lý cá biệt thì
ông dựa vào tâm lý chủ quan xã hôi.
Thứ hai, ngược với các nhà cổ điển mới ông phân tích nền kinh tế với
những đại luợng vĩ mô có hệ thống .Theo ông việc phân tích kinh tế phải
xuất phát từ các tổng lượng lớn để nghiên cứu mối quan hệ giữa các tổng
theo ông để đạt được mục tiêu sử dụng hệ thống tài chính tín dụng tiền tệ
nhằm kích thích doanh nhân đầu tư thì phải tăng thêm tiền mặt vàolưu
thông ,thực hiện “lạm phát có điều tiết” một mặt tăng khối lượng tiền
trong lưu thông để giảm lãi suất cho vay khuyến khích doanh nhân đầu tư
mở rộng sản xuất .Mặt khác lạm phát khi khối lượng tiền tệ trong lưu
thông tăng và có lạm phát giá cả hàng hóa sẽ tăng lên do đó lợi nhuận của
nhà tư bản sẽ tăng nếu chi phí chưa thay đổi .Ông chủ chương in thêm
tiền giấy để cấp phát cho ngân sách nhà nước hoạt động và bù dắp những
thiếu hụt của ngân sách nhà nước, đây là nguồn bổ sung ngân sách cho
những hoạt động đầu tư của nhà nước.
Ông chủ chương sử dụng công cụ thuế để điều tiết nền kinh tế. Ông
chủ chương tăng thuế đối với người lao động để tăng ngân sách nhà nước
từ đó tăng đầu tư .Còn giảm thuế đối với các doanh nhân để khuyến
khích họ đầu tư mở rộng sản xuất.
- 7 -
Lịch sử các học thuyết kinh tế