lời mở đầu
Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ xuất phát thấp: nền kinh tế
chủ yếu là sản xuất nhỏ, tự cấp, tự túc, còn ở trong tình trạng phổ biến của
sản xuất giản đơn, lực lượng sản xuất lạc hậu, năng suất lao động thấp,
quan hệ sản xuất yếu kém, cản trở cho sự phát triển và tăng trưởng; kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần đang trong quá trình hình thành; thu nhập quốc
dân bình quân đầu người thấp, là một trong số các quốc gia nghèo và chậm
phát triển.
Vì vậy trong thời kỳ quá độ cần phải động viên được mọi nguồn lực
tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.
Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong sự vận động của cơ chế
thị trường ở nước ta là nguồn lực tổng hợp to lớn để đưa nền kinh tế vượt
khỏi thực trạng thấp kém, đưa nền kinh tế hàng hóa phát triển kể cả trong
điều kiện ngân sách nhà nước hạn hẹp.
Để sử dụng nguồn lực tổng hợp này một cách tối ưu chúng ta phải
sử dụng các đòn bẩy kinh tế như các quy luật kinh tế hoạt động trong nền
kinh tế thị trường.
Quy luật giá cả là quy luật kinh tế cơ bản của nền sản xuất hàng hoá, là
một đòn bẩy quan trọng để phát triển và củng cố nền sản xuất xã hội chủ
nghĩa. Việc sử dụng quy luật giá cả để thúc đẩy nền sản xuất xã hội chủ
nghĩa tiến tới, có một tầm quan trọng lớn lao.
Từ nhận thức về vai trò của quy luật giá cả, chúng ta thực hiện việc
nghiên cứu quy luật giá cả và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường ở
nước ta để vận dụng có hiệu qủa cho sự phát triển kinh tế, hạn chế những
khuyết tật thị trường.
Với đề tài: "Lý luận giá cả của Mác và sự vận dụng vào Việt Nam hiện
nay"
Do trình độ có hạn, đề tài này không tránh khỏi những hạn chế nhất
định.Em mong thầy cô giáo xem xét giúp để bài viết của em hoàn chỉnh
hơn. Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo đã giúp em hoàn thành đề tài
Phân công lao động xã hội là việc chuyên môn hoá người sản xuất vào
các nghành nghề khác nhau của xã hội, mỗi một người chỉ sản xuất một
hay một vsì sản phẩm nhất định. song nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của
mỗi người cần nhiều loại sản phẩm. Vì vậy đòi hỏi họ phải có mối liên hệ
trao đổi sản phẩm cho nhau,phụ thuộc vào nhau.
Quá trình trao đổi này tuân theo một quy luật nhất định, đó là quy luật
giá cả.
Ví dụ: trong điều kiện sản xuất tự cung tự cấp, một người vừa
trồng dâu,nuôi tằm vừa dệt vải. Khi có sự phân công lao động xã hội thì
người nông dân trồng dâu, nuôi tằm,người thợ dệt dệt vải.Người thợ dệt có
nhu cầu về tơ sợi, người nông dân có nhu cầu về may mặc.Điều đó làm cho
người nông dân và người thợ dệt có mối liên hệ trao đổi với nhau.Sự trao
đổi này dựa trên một quy ước.Một quy ước có cơ sở khoa học là tuân theo
những yêu cầu của quy luật giá rrị.
Quy luật giá cả còn xuất hiện trên cơ sở của sự tách biệt về kinh tế
giữa những người sản xuất do các quan hệ sở hữu khác nhau quy định. Mỗi
người chủ sở hữu tư liệu sản xuất có quyền quyết định việc sử dụng tư liệu
sản xuất và những sản phẩm họ tạo ra. Như vậy quan hệ sở hữu khác nhau
về tư liệu sản xuất đã tách người sản xuất ra riêng rẽ, khác biệt nhau. Trong
điều kiện đó người sản xuất này muốn sử dụng sản phẩm của người khác
thì phải thông qua trao đổi sản phẩm lao động cho nhau dưới hình thức
mua- bán. Khi đó quy luật giá cả xuất hiện là một cơ sở khoa học để quá
trình trao đổi được diễn ra.
Các hoạt động kinh tế diễn ra đòi hỏi phải có một cơ sở khoa học.
Sự xuất hiện của quy luật giá cả mang tính khách quan là phù hợp với lý
thuyết kinh tế. Cho đến nay nền kinh tế hàng hoá vẫn tỗn tại và phát triển,
3
3
3
quy luật giá cả vẫn tồn tại và phát triển cùng với cơ sở kinh tế xác định của
lợi ích kinh tế. Chúng vốn không giống nhau ở mỗi người, mỗi tập đoàn xã
hội, vì vậy kết quả tác động của quy luật giá cả chỉ mang tính xu hướng, có
thể kết quả không hoàn toàn giống nhau. Cũng vì vậy khi vận dụng quy
luật giá cả, điều cốt yếu là thực hiện và kết hợp tốt lợi ích của các chủ thể
tham gia các hoạt động kinh tế. Sự vận dụng quy luật giá cả của con người
hoạt động vì lợi ích kinh tế là một phương tiện cho chúng ta biết được sự
hoạt động của quy luật giá cả.
Hai là quy luật giá cả hoạt động thông qua sự vận động của giá cả
trên thị trường. Đặc điểm này đòi hỏi việc vận dụng quy luật giá cả, điều
cốt yếu là phải biết lựa chọn, tổ chức thực hiện tốt phạm trù giá cả. Giá cả
là sự biểu hiện bằng tiền của giá cả. Giá cả phụ thuộc vào giá cả, vì giá cả
là cơ sở của giá cả. Nhưng do tác động của quy luật cung cầu,tình trạng độc
quyền trên thị trường và các nhân tố khác làm cho giá cả hàng hoá trên thị
trường có thể tách rời giá cả, lên xuống xung quanh giá cả của nó. C.Mác
gọi đó là “vẻ đẹp” của quy luật giá cả. Trong ‘vẻ đẹp” này, giá cả hàng hoá
là trục, giá cả của hàng hoá trên thị trường lên xuống quanh trục đó. Đối
với mỗi hàng hoá riêng biệt, giá cả của nó có thể cao hơn, thấp hơn hoặc
phù hợp với giá cả. Nhưng cuối cùng, tổng giá cả phù hợp với giá cả của
chúng. Chính nhờ phương thức vận động như vậy của giá cả mà quy luật
giá cả phát huy tác dụng.
Ví dụ khi sản xuất ra một cái rìu theo định nghĩa là lượng tiền đúng
bằng hao phí lao động xã hội cần thiết của người thợ thủ công. Nhưng do
tác dụng của quan hệ cung cầu làm cho lượng tiền để mua được cái rìu lớn
hơn( cầu lớn hơn cung) hoặc nhỏ hơn( cầu nhỏ hơn cung) giá cả của nó.
Tuy nhiên vai trò quyết định là quy luật giá cả, còn quy luật cung cầu chỉ
mang tính phụ trợ cho sự hoạt động của quy luật giá cả vì Mác chứng minh
5
5
5
rằng ngay cả khi cung cầu cân bằng nhau giá vẫn biến động. “Mác khẳng
là 2000 đồng. Người nông dân muốn bán được với thu lợi thì hao phí lao
động cá biệt để sản xuất ra một kg thóc phải nhỏ hơn 2000 đồng.
Thực hiện yêu cầu này, các chủ thể sản xuất hàng hoá phải định mức
hao phí lao động, vật tư máy móc… sao cho hao phí lao động của mình phù
hợp hoặc nhỏ hơn hao phí lao động xã hội cần thiết. Như vậy nghành sản
xuất nào áp dụng kinh tế mới trước nhất thì hao phí lao động cá biệt sẽ nhỏ
hơn hao phí xã hội cần thiết, nhưng họ bán hàng phù hợp với hao phí lao
động xã hội cần thiết thì sẽ phát tài.
Trong lưu thông: quy luật giá cả yêu cầu trao đổi ngang giá.
Ví dụ một cái rìu đổi được 20kg thóc tức là hao phí lao động xã hội cần
thiết để sản xuất ra một cái rìu phải phù hợp với hao phí lao động xã hội
cần thiết để sản xuất ra 20kg thóc. Quy luật giá cả đòi hỏi phải căn cứ vào
giá cả xã hội để tiến hành trao đổi theo nguyên tắc ngang giá. Người bán
đảm bảo: đúng số lượng, chất lượng, giá cả sử dụng, người mua phải trả
đúng giá cả hàng hoá đảm bảo sự bình đẳng,công bằng không vi phạm lợi
ích của nhau giữa người sản xuất và tiêu dùng hàng hoá.
Muốn vận dụng tốt quy luật giá cả trong việc phát triển kinh tế hàng
hoá thì ngoài những nghiên cứu về sự xuất hiện, tồn tại cùng với những đặc
điểm, tính chất của quy luật giá cả-quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá
chúng ta còn phải nghiên xem xét đến vai trò của quy luật giả trị trong cơ
sở kinh tế xác định của nó.
1.2 Vai trò của quy luật giá cả trong nền kinh tế hàng hoá
Quy luật giá cả là quy luật kinh tế chung, nó hoạt động trong tất cả
các phương thức sản xuất và lưu thông hàng hoá.Với ba tác dụng cơ bản,
quy luật giá cả có vai trò quan trọng trong nền kinh tế hàng hoá.
Một là quy luật giá cả có tác dụng tự phát điều tiết sản xuất và lưu
thông hàng hoá. Trong sản xuất, quy luật giá cả điều tiết việc phân phối tư
7
7
7
8
lượng sản xuất được kích thích và phát triển nhanh hơn nhiều so với trong
nền kinh tế tự cấp, tự túc.
Tuy nhiên tác dụng này còn có khuyết tật là do chạy theo sản xuất
những hàng hóa có giá cả cao, cho nên tạo ra tình trạng có một loại hàng
hoá nào đó được sản xuất ra quá nhiều, dẫn đến hiện tượng dưa thừa, làm
lãng phí lao động xã hội. Mặt khác nhiều người sản xuất chỉ chú ý đến lợi
nhuận nên hàng hoá có chất lượng kém.
Ba là thực hiện sự bình tuyển tự nhiên và phân hoá người sản xuất
thành kẻ giàu, người nghèo. Trong cuộc cạnh tranh chạy theo giá cả, lao
động cá biệt của mỗi người sản xuất có thể không nhất trí với lao động xã
hội cần thiết. Những người làm tốt làm giỏi có hao phí lao động cá biệt
thấp hơn hao phí lao động cần thiết, nhờ đó phát tài, làm giàu, mua sắm
thêm tư liệu sản xuất, mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng doanh nghiệp của
mình. Đây cũng chính là tác động kích thích lực lượng sản xuất phát triển.
Những người làm tốt có thể là những người biết ứng dụng những thành tựu
mới của khoa học vào sản xuất để giảm hao phí lao động xã hội cá biệt.
Bên cạnh đó, những người làm ăn kém cỏi không gặp may, không biết áp
dụng khoa học công nghệ tiên tiến, hao phí lao động cá biệt cao hơn hao
phí lao động xã hội cần thiết, nên họ bị lỗ vốn, thậm chí đi đến phá sản. Ví
dụ hai công ty dệt may sử dụng dây truyền sản xuất khác nhau. Công ty nào
sử dụng dây dây truyền công nghệ mới thì hao phí lao động cá biệt sẽ nhỏ
hơn của dây truyền cũ, sản phẩm làm ra có giá thành rẻ hơn mà vẫn bán
đúng theo giá thị trường thì công ty đó có lãi. Như vậy quy luật giá cả bảo
đảm sự bình đẳng đối với người sản xuất. tuy nhiên ngay trong quá trình
thực hiện sự bình tuyển người sản xuất, quy luật giá cả đã phân hoá người
sản xuất thành kẻ giàu, người nghèo. Người giàu trở thành ông chủ, người
nghèo dần trở thành người làm thuê. Lịch sử phát triển của sản xuất hàng
hoá giản đơn trong xã hội phong kiến dần dần sinh ra quan hệ sản xuất tư
9
10
10
10
nhằm làm cho giá cả cá biệt của hàng hoá xí nghiệp sản xuất ra thấp hơn
giá cả xã hội để thu được lợi nhuận siêu ngạch. Các nhà tư bản là những
nhà sản xuất giỏi vì đã vận dụng tốt quy luật giá cả trong
kinh doanh. Kết quả của cạnh tranh là hình thành nên giá cả xã hội
( giá cả thị trường) của từng loại hàng hoá. giá cả này theo C.Mác:
“Một mặt, phải coi giá cả thị trường là giá cả bình quân của những hàng
hoá được sản xuất ra trong một khu vực nào đó; mặt khác, lại phải coi giá
cả thị trường là giá cả cá biệt của những hàng hoá đã được sản xuất ra trong
những điều kiện trung bình của khu vực đó chiếm một khối lượng lớn trong
số những sản phẩm của khu vực này.”
<C.Mác, Tư bản, nhà suất bản sự thật, Hà nội, 1992, q III, t1, tr. 265-
266.>
Cạnh tranh giữa các nghành là sự cạnh tranh giữa các nhà tư bản
trong nghành sản xuất khác nhau, nhằm mục đích tìm nơi đầu tư có lợi hơn.
Để đạt được mục đích các nhà tư bản sử dụng biện pháp tự do di chuyển tư
bản tức là phân phối tư bản vào các nghành sản xuất khác nhau. Kết quả
của cuộc cạnh tranh này là giá cả hàng hoá trở thành giá cả sản xuất đi kèm
với sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.
Trong cạnh tranh, đặc biệt là cạnh tranh giữa các nghành sự hoạt động
của quy luật giá cả thông qua sự vận động của giá cả lại có hình thức biểu
hiện khác. Đó là giá cả không xoay quanh giá cả hàng hoá nữa mà nó lại
xoay quanh giá cả sản xuất. Thực chất hoạt động của quy luật giá cả sản
xuất là sự biểu hiện của quy luật giá cả trong thời kỳ tự do cạnh tranh của
chủ nghĩa tư bản. Quy luật giá cả là quy luật “thông soái” chi phối cơ chế
thị trường và quy luật giá cả sản xuất chỉ là sự biểu hiện yêu cầu của quy
luật giá cả mà thôi.
Trung tâm của cơ chế thị trường là quy luật giá cả quyết định giá cả.
định được giá cả. Họ có thể tăng giá bán hàng hoá dịch vụ bằng cách giảm
cung, tạo nên sự khan hiếm hàng hoá dịch vụ.
12
12
12
Trong giai đoạn độc quyền quy luật giá cả vẫn còn phát huy tác
dụng. Việc các tổ chức độc quyền mua bán theo giá cả độc quyền xét về
thực chất chỉ là sự biểu hiện mới, cao hơn, nó không làm giảm hiệu lực của
lý luận giá cả. Giá cả hàng hoá vẫn lên xuống xunh quanh giá cả của
chúng nhưng do ưu thế độc quyền. Doanh nghiệp độc quyền có thể quyết
định và kiểm soát giá cả, ít quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sản xuất
như đổi mới công nghệ sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, cải tiến mẫu mã
chất lượng sản phẩm. Do vậy xét về phương diện xã hội, độc quyền là hiện
tượng kinh tế không hiệu quả, gây trở ngại cho việc phát triển sản xuất xã
hội và phương hại đến người tiêu dùng.
Việc nhận thức và vận dụng quy luật giá cả là cần thiết khách quan.
Nhưng muốn vận dụng tốt thì việc nhận thức không chỉ dừng ở nhận thức
cảm tính, kinh nghiệm mà phải có trình độ nhận thức lý tính. Vì vậy cần
phải nghiên cứu sự vận dụng quy luật giá cả trong nền kinh tế thị trường ở
một số nước để rút ra bài học kinh nghiệm cho nước ta.
1.5 Kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc vận dụng quy luật giá cả
vào nền kinh tế thị trường
Trong bài “Châu á đang hồi phục?” của tác giả Anh Sa đăng trên
Thời Báo Kinh tế Sài gòn số 16-2002, có nhận định “Trung Quốc sẽ tiếp
tục là người khỏe trong khu vực”.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm chạp, một số nước
muốn nền kinh tế phát triển nhanh hơn bằng cách sử dụng công cụ tỷ giá
hối đoái. Do đó hiện nhiều nước, đặc biệt là nhiều nước Châu á, lo ngại
Trung Quốc phá giá đồng nhân dân tệ để khuyến khích xuất khẩu. Nếu
Trung Quốc phá giá đồng nhân dân tệ, điều đó đồng nghĩa với việc hàng
nguyên nhân chủ quan và khách quan. Chính phủ Trung Quốc đã tìm cách
kích thích nhu cầu trong nước, nhu cầu tiêu dùng và nhu cầu đầu tư, đồng
thời áp dụng các chính sách khuyến khích xuất khẩu. Sau khi gia nhập
WTO, môi trường ngoại thương của Trung Quốc thuận lợi hơn. Các xí
14
14
14
nghiệp vốn ngoại đã mạnh dạn đưa nhiều dây chuyền sản xuất tại Trung
Quốc, và bán ra nhiều sản phẩm sản xuất tạ Trung Quốc. Tình hình chính
trị ổn định của Trung Quốc cũng là nguyên nhân dẫn đến thành công của
kinh tế Trung Quốc. Trong đó sự quản lý nhà nước về kinh tế trong nền
kinh tế thị trường XHCN ở trung quốc là một nguyên nhân dẫn đến kết quả
đáng mong đợi đó. Trung Quốc đã sử dụng những phương pháp, những
công cụ quản lý một cách hữu hiệu nhất dựa trên một quy luật kinh tế
“thống soái” trong cơ chế thị trường đó là quy luật giá cả. Xét về từng khía
cạnh mà Trung Quốc đã vận dụng quy luật giá cả để có thể tránh những sai
lầm và học được những kinh nghiệm tốt cho sự phát triển kinh tế thị trường
ở Việt Nam.
Các phương pháp chủ yếu mà Trung Quốc sử dụng trong quản lý nhà
nước về kinh tế là: phương pháp hoạch định chiến lược, phương pháp kinh
tế, phương pháp hành chính, phương pháp giáo dục. Trong đó phương pháp
kinh tế là việc sử dụng các đòn bẩy kinh tế( như thuế, lợi nhuận...) tác động
đến chủ thể hoạt động sản xuất kinh doanh, thông qua việc đạt được các lợi
ích kinh tế để thực hiện các mục tiêu quản lý của mình. Ví dụ như để
khuyến khích xuất khẩu, Trung Quốc đã sử dụng các biện pháp như tài trợ
tín dụng xuất khẩu với lãi suất ưu đãi, giảm/ miễn thuế cho doanh nghiệp
mở rộng được thị phần hay có kim ngạch lớn. Quy luật giá cả được vận
dụng trong hoạt động khuyến khích xuất khẩu tạo cho các doanh nghiệp có
được nhiều thuận lợi trong xuất khẩu hàng hoá, lợi nhuận thu được cao hơn
các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển khác mặc dù cùng sản xuất
chính và tiền tệ. Nhà nước nên tiếp tục thực hiện đổi mới cơ chế quản lý
tài chính của các doanh nghiệp nhà nước gắn với quá trình sắp xếp lại các
doanh nghiệp đó. Đổi mới chính sách tiền tệ càn hướng vào mục tiêu: ổn
định giá cả đồng nội tệ,ổn định tỷ giá hối đoái thực tế, đảm bảo tín dụng
hợp lý với nhu cầu kinh tế và tạo điều kiện thuận lợi cho mọi hoạt động tài
chính trong nền kinh tế. Đổi mới chính sách thu nhập đi đôi với chính sách
16
16
16