Lý luận giá cả của Mác và sự vận dụng lý luận trên vào nền ở nước ta hiện nay - Pdf 98

LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, bất kỳ một nền sản xuất nào cũng phải giải quyết ba
vấn đề cơ bản là sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai? Câu trả
lời này chỉ có thể có được thông qua xem xét các mối quan hệ thị trường và yếu tố
giá cả thị trường. Có lẽ vì tầm quan trọng đó của giá cả mà hầu như các trường
phái kinh tế từ cổ điển đến hiện đại đều cố gắng đưa ra nhiều cách định nghĩa và
lý giải khác nhau về giá cả thị trường, để từ đó rút ra những quy tắc chung cho
điều hành sản xuất và lưu thông. Việc nắm vững nội dung, quy luật, nguyên tắc
hình thành giá cả thị trường có ý nghĩa rất quan trọng trong thực tiễn hoạt động
kinh tế hiện nay với mọi quốc gia. Đặc biệt với Việt Nam chúng ta, khi vừa mới
gia nhập kinh tế thế giới, dù thời cơ thuận lợi có nhiều song thách thức cũng không
ít, trước những biến động phức tạp của tình hình giá cả hiện nay, chúng ta cần có
một nhận thức đúng đắn nhằm chỉ đạo hoạt động điều hành giá cả một cách có
hiệu quả nhất. Nhận thức điều đó, qua quá trình học tập môn Kinh tế chính trị, em
đã có điều kiện nghiên cứu ba đại diện có nhiều đóng góp tích cực vào lý thuyết
giá trị là C.Mác. Vì vậy em chọn đề tài “Lý luận giá cả của Mác và sự vận dụng
lý luận trên vào nền ở nước ta hiện nay” để trình bày một số ý tưởng của mình.
Trong giới hạn thời gian và yêu cầu môn học, em chỉ xin nêu ra những quan
điểm tưởng chính của các nhà kinh tế và liên hệ với thực tế công tác điều hành giá
cả tại nước ta, qua đó trình bày một số nhận định và kiến nghị một số giải pháp đối
với công tác điều hành giá cả hiện nay tại nước ta. Em rất mong nhận được ý kiến
góp ý của các thầy cô giáo để bài viết của em được hoàn thiện hơn!
Em xin chân thành cảm ơn!

CHƯƠNG 1
NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ LÝ LUẬN GIÁ CẢ VÀ VAI TRÒ CỦA
LÝ LUẬN GIÁ CẢ TRONG NỀN KINH TẾ HÀNG HOÁ
1. Lý luận giá cả - lý luận kinh tế căn bản của nền sản xuất hàng hoá.
K. Mác là một trong những người đầu tiên sáng lập ra kinh tế chính
trị học Macxit. Lần đầu tiên, ông đã nêu ra đối tượng của kinh tế chính trị
là quan hệ sản xuất, tức là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản

tế khác, nó có những đặc điểm sau:
Một là lý luận giá cả hoạt động thông qua hoạt động kinh tế của con
người.Động lực trực tiếp thúc đẩy hoạt động kinh tế của con người là lợi
ích kinh tế. Chúng vốn không giống nhau ở mỗi người, mỗi tập đoàn xã
hội, vì vậy kết quả tác động của lý luận giá cả chỉ mang tính xu hướng, có
thể kết quả không hoàn toàn giống nhau. Cũng vì vậy khi vận dụng lý luận
giá cả, điều cốt yếu là thực hiện và kết hợp tốt lợi ích của các chủ thể tham
gia các hoạt động kinh tế. Sự vận dụng lý luận giá cả của con người hoạt
động vì lợi ích kinh tế là một phương tiện cho chúng ta biết được sự hoạt
động của lý luận giá cả.
Hai là lý luận giá cả hoạt động thông qua sự vận động của giá cả trên
thị trường. Đặc điểm này đòi hỏi việc vận dụng lý luận giá cả, điều cốt yếu
là phải biết lựa chọn, tổ chức thực hiện tốt phạm trù giá cả. Giá cả là sự
biểu hiện bằng tiền của giá cả. Giá cả phụ thuộc vào giá cả, vì giá cả là cơ
sở của giá cả. Nhưng do tác động của lý luận cung cầu,tình trạng độc quyền
trên thị trường và các nhân tố khác làm cho giá cả hàng hoá trên thị trường
có thể tách rời giá cả, lên xuống xung quanh giá cả của nó. C.Mác gọi đó là
“vẻ đẹp” của lý luận giá cả. Trong ‘vẻ đẹp” này, giá cả hàng hoá là trục, giá
cả của hàng hoá trên thị trường lên xuống quanh trục đó. Đối với mỗi hàng
hoá riêng biệt, giá cả của nó có thể cao hơn, thấp hơn hoặc phù hợp với giá
cả. Nhưng cuối cùng, tổng giá cả phù hợp với giá cả của chúng. Chính nhờ
phương thức vận động như vậy của giá cả mà lý luận giá cả phát huy tác
dụng.
3
3
3
Ví dụ khi sản xuất ra một cái rìu theo định nghĩa là lượng tiền đúng
bằng hao phí lao động xã hội cần thiết của người thợ thủ công. Nhưng do
tác dụng của quan hệ cung cầu làm cho lượng tiền để mua được cái rìu lớn
hơn( cầu lớn hơn cung) hoặc nhỏ hơn( cầu nhỏ hơn cung) giá cả của nó.

Trong sản xuất: lý luận giá cả yêu cầu hao phí lao động xã hội cá biệt để
sản xuất ra hàng hoá phải phù hợp với hao phí lao động xã hội cần thiết.
Ví dụ hao phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một kg thóc là
2000 đồng. Người nông dân muốn bán được với thu lợi thì hao phí lao
động cá biệt để sản xuất ra một kg thóc phải nhỏ hơn 2000 đồng.
Thực hiện yêu cầu này, các chủ thể sản xuất hàng hoá phải định mức hao
phí lao động, vật tư máy móc… sao cho hao phí lao động của mình phù
hợp hoặc nhỏ hơn hao phí lao động xã hội cần thiết. Như vậy nghành sản
xuất nào áp dụng kinh tế mới trước nhất thì hao phí lao động cá biệt sẽ nhỏ
hơn hao phí xã hội cần thiết, nhưng họ bán hàng phù hợp với hao phí lao
động xã hội cần thiết thì sẽ phát tài.
Trong lưu thông: lý luận giá cả yêu cầu trao đổi ngang giá.
Ví dụ một cái rìu đổi được 20kg thóc tức là hao phí lao động xã hội cần
thiết để sản xuất ra một cái rìu phải phù hợp với hao phí lao động xã hội
cần thiết để sản xuất ra 20kg thóc. Lý luận giá cả đòi hỏi phải căn cứ vào
giá cả xã hội để tiến hành trao đổi theo nguyên tắc ngang giá. Người bán
đảm bảo: đúng số lượng, chất lượng, giá cả sử dụng, người mua phải trả
đúng giá cả hàng hoá đảm bảo sự bình đẳng,công bằng không vi phạm lợi
ích của nhau giữa người sản xuất và tiêu dùng hàng hoá.
Muốn vận dụng tốt lý luận giá cả trong việc phát triển kinh tế hàng hoá
thì ngoài những nghiên cứu về sự xuất hiện, tồn tại cùng với những đặc
điểm, tính chất của lý luận giá cả-lý luận kinh tế của sản xuất hàng hoá
chúng ta còn phải nghiên xem xét đến vai trò của lý luận giả trị trong cơ sở
kinh tế xác định của nó.
1.2. Vai trò của lý luận giá cả trong nền kinh tế hàng hoá
Lý luận giá cả là lý luận kinh tế chung, nó hoạt động trong tất cả các
phương thức sản xuất và lưu thông hàng hoá.Với ba tác dụng cơ bản, lý
luận giá cả có vai trò quan trọng trong nền kinh tế hàng hoá.
Một là lý luận giá cả có tác dụng tự phát điều tiết sản xuất và lưu thông
hàng hoá. Trong sản xuất, lý luận giá cả điều tiết việc phân phối tư liệu sản

tiến kỹ thuật, tăng suất lao động. Vì thế, trong nền kinh tế hàng hoá, lực
lượng sản xuất được kích thích và phát triển nhanh hơn nhiều so với trong
nền kinh tế tự cấp, tự túc.
Tuy nhiên tác dụng này còn có khuyết tật là do chạy theo sản xuất
những hàng hóa có giá cả cao, cho nên tạo ra tình trạng có một loại hàng
hoá nào đó được sản xuất ra quá nhiều, dẫn đến hiện tượng dưa thừa, làm
6
6
6
lãng phí lao động xã hội. Mặt khác nhiều người sản xuất chỉ chú ý đến lợi
nhuận nên hàng hoá có chất lượng kém.
Ba là thực hiện sự bình tuyển tự nhiên và phân hoá người sản xuất
thành kẻ giàu, người nghèo. Trong cuộc cạnh tranh chạy theo giá cả, lao
động cá biệt của mỗi người sản xuất có thể không nhất trí với lao động xã
hội cần thiết. Những người làm tốt làm giỏi có hao phí lao động cá biệt
thấp hơn hao phí lao động cần thiết, nhờ đó phát tài, làm giàu, mua sắm
thêm tư liệu sản xuất, mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng doanh nghiệp của
mình. Đây cũng chính là tác động kích thích lực lượng sản xuất phát triển.
Những người làm tốt có thể là những người biết ứng dụng những thành tựu
mới của khoa học vào sản xuất để giảm hao phí lao động xã hội cá biệt.
Bên cạnh đó, những người làm ăn kém cỏi không gặp may, không biết áp
dụng khoa học công nghệ tiên tiến, hao phí lao động cá biệt cao hơn hao
phí lao động xã hội cần thiết, nên họ bị lỗ vốn, thậm chí đi đến phá sản. Ví
dụ hai công ty dệt may sử dụng dây truyền sản xuất khác nhau. Công ty nào
sử dụng dây dây truyền công nghệ mới thì hao phí lao động cá biệt sẽ nhỏ
hơn của dây truyền cũ, sản phẩm làm ra có giá thành rẻ hơn mà vẫn bán
đúng theo giá thị trường thì công ty đó có lãi. Như vậy lý luận giá cả bảo
đảm sự bình đẳng đối với người sản xuất. tuy nhiên ngay trong quá trình
thực hiện sự bình tuyển người sản xuất, lý luận giá cả đã phân hoá người
sản xuất thành kẻ giàu, người nghèo. Người giàu trở thành ông chủ, người

mà thực hiện theo yêu cầu của lý luận giá cả thì sẽ thu được lợi nhuận siêu
nghạch. Biện pháp cạnh tranh của các nhà tư bản là thường xuyên cải tiến
kỹ thuật, nâng cao cấu tạo hữu cơ của tư bản, nâng cao năng xuất lao động
nhằm làm cho giá cả cá biệt của hàng hoá xí nghiệp sản xuất ra thấp hơn
giá cả xã hội để thu được lợi nhuận siêu ngạch. Các nhà tư bản là những
nhà sản xuất giỏi vì đã vận dụng tốt lý luận giá cả trong kinh doanh. Kết
quả của cạnh tranh là hình thành nên giá cả xã hội
( giá cả thị trường) của từng loại hàng hoá. giá cả này theo C.Mác: “Một
mặt, phải coi giá cả thị trường là giá cả bình quân của những hàng hoá
được sản xuất ra trong một khu vực nào đó; mặt khác, lại phải coi giá cả thị
trường là giá cả cá biệt của những hàng hoá đã được sản xuất ra trong
những điều kiện trung bình của khu vực đó chiếm một khối lượng lớn trong
số những sản phẩm của khu vực này.”
<C.Mác, Tư bản, nhà suất bản sự thật, Hà nội, 1992, q III, t1, tr. 265-266.>
8
8
8
Cạnh tranh giữa các nghành là sự cạnh tranh giữa các nhà tư bản trong
nghành sản xuất khác nhau, nhằm mục đích tìm nơi đầu tư có lợi hơn. Để
đạt được mục đích các nhà tư bản sử dụng biện pháp tự do di chuyển tư bản
tức là phân phối tư bản vào các nghành sản xuất khác nhau. Kết quả của
cuộc cạnh tranh này là giá cả hàng hoá trở thành giá cả sản xuất đi kèm với
sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.
Trong cạnh tranh, đặc biệt là cạnh tranh giữa các nghành sự hoạt động của
lý luận giá cả thông qua sự vận động của giá cả lại có hình thức biểu hiện
khác. Đó là giá cả không xoay quanh giá cả hàng hoá nữa mà nó lại xoay
quanh giá cả sản xuất. Thực chất hoạt động của lý luận giá cả sản xuất là sự
biểu hiện của lý luận giá cả trong thời kỳ tự do cạnh tranh của chủ nghĩa tư
bản. Lý luận giá cả là lý luận “thông soái” chi phối cơ chế thị trường và lý
luận giá cả sản xuất chỉ là sự biểu hiện yêu cầu của quy luật giá cả mà thôi.

cả. Họ có thể tăng giá bán hàng hoá dịch vụ bằng cách giảm cung, tạo nên
sự khan hiếm hàng hoá dịch vụ.
Trong giai đoạn độc quyền lý luận giá cả vẫn còn phát huy tác dụng.
Việc các tổ chức độc quyền mua bán theo giá cả độc quyền xét về thực
chất chỉ là sự biểu hiện mới, cao hơn, nó không làm giảm hiệu lực của lý
luận giá cả. Giá cả hàng hoá vẫn lên xuống xunh quanh giá cả của chúng
nhưng do ưu thế độc quyền. Doanh nghiệp độc quyền có thể quyết định và
kiểm soát giá cả, ít quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sản xuất như đổi
mới công nghệ sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, cải tiến mẫu mã chất lượng
sản phẩm. Do vậy xét về phương diện xã hội, độc quyền là hiện tượng kinh
tế không hiệu quả, gây trở ngại cho việc phát triển sản xuất xã hội và
phương hại đến người tiêu dùng.
Việc nhận thức và vận dụng lý luận giá cả là cần thiết khách quan.
Nhưng muốn vận dụng tốt thì việc nhận thức không chỉ dừng ở nhận thức
cảm tính, kinh nghiệm mà phải có trình độ nhận thức lý tính. Vì vậy cần
phải nghiên cứu sự vận dụng lý luận giá cả trong nền kinh tế thị trường ở
một số nước để rút ra bài học kinh nghiệm cho nước ta.
1.5 Kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc vận dụng lý luận giá cả vào
nền kinh tế thị trường
Trong bài “Châu Á đang hồi phục?” của tác giả Anh Sa đăng trên Thời
Báo Kinh tế Sài gòn số 16-2002, có nhận định “Trung Quốc sẽ tiếp tục là
người khỏe trong khu vực”.
10
10
10
Trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm chạp, một số nước muốn
nền kinh tế phát triển nhanh hơn bằng cách sử dụng công cụ tỷ giá hối đoái.
Do đó hiện nhiều nước, đặc biệt là nhiều nước Châu Á, lo ngại Trung Quốc
phá giá đồng nhân dân tệ để khuyến khích xuất khẩu. Nếu Trung Quốc phá
giá đồng nhân dân tệ, điều đó đồng nghĩa với việc hàng hoá Trung Quốc sẽ

áp dụng các chính sách khuyến khích xuất khẩu. Sau khi gia nhập WTO,
môi trường ngoại thương của Trung Quốc thuận lợi hơn. Các xí nghiệp
vốn ngoại đã mạnh dạn đưa nhiều dây chuyền sản xuất tại Trung Quốc, và
bán ra nhiều sản phẩm sản xuất tạ Trung Quốc. Tình hình chính trị ổn định
của Trung Quốc cũng là nguyên nhân dẫn đến thành công của kinh tế Trung
Quốc. Trong đó sự quản lý nhà nước về kinh tế trong nền kinh tế thị trường
XHCN ở trung quốc là một nguyên nhân dẫn đến kết quả đáng mong đợi
đó. Trung Quốc đã sử dụng những phương pháp, những công cụ quản lý
một cách hữu hiệu nhất dựa trên một lý luận kinh tế “thống soái” trong cơ
chế thị trường đó là lý luận giá cả. Xét về từng khía cạnh mà Trung Quốc
đã vận dụng lý luận giá cả để có thể tránh những sai lầm và học được
những kinh nghiệm tốt cho sự phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Các phương pháp chủ yếu mà Trung Quốc sử dụng trong quản lý nhà
nước về kinh tế là: phương pháp hoạch định chiến lược, phương pháp kinh
tế, phương pháp hành chính, phương pháp giáo dục. Trong đó phương pháp
kinh tế là việc sử dụng các đòn bẩy kinh tế( như thuế, lợi nhuận...) tác động
đến chủ thể hoạt động sản xuất kinh doanh, thông qua việc đạt được các lợi
ích kinh tế để thực hiện các mục tiêu quản lý của mình. Ví dụ như để
khuyến khích xuất khẩu, Trung Quốc đã sử dụng các biện pháp như tài trợ
tín dụng xuất khẩu với lãi suất ưu đãi, giảm/ miễn thuế cho doanh nghiệp
mở rộng được thị phần hay có kim ngạch lớn. Lý luận giá cả được vận
dụng trong hoạt động khuyến khích xuất khẩu tạo cho các doanh nghiệp có
được nhiều thuận lợi trong xuất khẩu hàng hoá, lợi nhuận thu được cao hơn
các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển khác mặc dù cùng sản xuất
với mức hao phí lao động như nhau.
Có nhiều công cụ quản lý nhà nước được Trung Quốc sử dụng trong
quản lý nền kinh tế thị truờng XHCN như Tài chính, Pháp luật. Về tài
chính: các công cụ như giá cả và các đòn bẩy khác như lợi nhuận, thuế, lãi
suất... được sử dụng khá phổ biến. Trung Quốc đã thực hiện cắt giảm lãi
suất, tài trợ tín dụng xuất khẩu với lãi suất ưu đãi, giảm miễn thuế cho

trường, như vậy qua thị trường mới cân bằng giữa lương và giá. Theo kinh
nghiệm của Trung Quốc, tam giác giá-lương-thị trường là tam giác “thần”
đẩy nền kinh tế phát triển. Phối hợp tốt ba yếu tố này là tuân theo những
yêu cầu của lý luận giá cả và đảm bảo tính khách quan.
13
13
13
Nhìn chung nền kinh tế thị trường ở Việt Nam vẫn còn chưa hoàn
thiện.Muốn thúc đẩy nền kinh tế phát triển cần sử dụng hiệu quả các đòn
bẩy kinh tế.
14
14
14
CHƯƠNG 2
SỰ VẬN DỤNG LÝ LUẬN GIÁ CẢ V À VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG
NỀN KINH TẾ HÀNG HOÁ VÀ VẬN DỤNG NÓ TRONG NỀN KINH
TẾ NƯỚC TA THỜI GIAN QUA.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM VẬN DỤNG TỐT LÝ LUẬN
GIÁ CẢ Ở VIỆT NAM.

2.1 Thực trạng sự vận dụng lý luận giá cả ở nước ta trong thời gian
qua
Cơ chế thị trường tự điều tiết là cơ chế vận động của hệ thống các lý
luận kinh tế. Lý luận giá cả là lý luận “thống soái” chi phối cơ chế thị
trường. Lý luận giá cả quyết định giá cả hàng hoá dịch vụ mà giá cả là tín
hiệu nhạy bén nhất của cơ chế thị trường. Hoạt động của lý luận giá cả
được thể hiện bằng hững đòn bẩy kinh tế như giá cả, lãi suất, thuế, tín
dụng, tiền tệ…Do đó sự vận dụng lý luận giá cả trong nền kinh tế chính là
việc sử dụng những đòn bẩy kinh tế trên, trong nền kinh tế thị trường, tuân
theo nội dung lý luận.

với giá thị trường là thực hiện yêu cầu của lý luận giá cả.
Có thể khẳng định, sự thành công trên được đường lối mới của Đại hội
Đảng VI soi đường thông qua việc chúng ta đã thực hiện việc chuyển đổi
cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị
trường; thực hiện cải cách toàn bộ hệ thống giá theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và coi đây là khâu
đột phá của tiến trình đổi mới cơ chế kinh tế. Cơ chế kinh tế mới với đặc
trưng cơ bản của nó là nhà nước đã tự rời bỏ quyền can thiệp sâu, quyết
định mọi vấn đề của sản xuất kinh doanh và trao lại quyền đó cho đúng
người chủ và đúng địa chỉ của nó. Người sản xuất kinh doanh được tự chủ
trong quá trình sản xuất kinh doanh trên cơ sở những tín hiệu khách quan
của thị trường.Nhà nước đã giải phóng cơ chế giá kế hoạch, không còn
công bố những tỷ lệ trao đổi hiện vật định sẵn, chủ quan để buộc thị trường
chấp nhận chuyển sang thực hiện cơ chế giá thị trường.
Cơ chế giá kế hoạch là một cơ chế cứng nhắc, nó vi phạm tính khách quan
của lý luận giá cả. Thực hiện cơ chế giá thị trường, một cơ chế giá linh
động, sự vận động của giá cả thị trường là tuân theo những lý luận kinh tế
hoạt động trong cơ chế kinh tế thị trường. Chính sách của Đảng đã chú ý
16
16
16
đến tính khách quan của lý luận giá cả, một khía cạnh quan trọng, có tác
động rất lớn trong việc phát triển kinh tế.
Trong năm 1991-1995, trên cơ sở những thành quả và kinh nghiệm đạt
được trong những năm đầu của cuộc cải cách kinh tế nói chung và cải cách
nói riêng, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII tiếp tục chỉ đạo:
“Kiên trì vận dụng cơ chế thị trường đối với giá hàng tiêu dùng, tư liệu sản
xuất, tỷ giá hối đoái, lãi suất tín dụng; điều chỉnh từng bước mặt bằng giá
và quan hệ tỷ giá cho phù hợp với sự thay đổi của giá quốc tế với các loại
vật tư, nguyên liệu, thiết bị nhập khẩu, song phải đảm bảo sản xuất phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status