LUẬN VĂN:
Nghiên cứu vai trò kinh tế của nhà nước
trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Lời nói đầu
Lịch sử phát triển kinh tế của loài người từ trước đến nay đã trải qua rất
nhiều hình thái kinh tế xã hội. Nổi bật và rõ nét nhất đó là các hình thái kinh tế
công xã nguyên thuỷ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và chủ nghĩa
xã hội. Tuy nhiên trong tất cả các hình thái kinh tế đó chưa có một hình thái kinh
tế nào có cơ chế quản lý, điều hành kinh tế một cách hợp lý và phù hợp nhất từ
việc phát triển kinh tế chỉ dựa vào cơ chế thị trường để giải quyết vấn đề cơ bản
của nền kinh tế cho đến việc chỉ dựa vào tổ chức quản lý và điều hành nền kinh tế
của nhà nước. Do đó tìm ra một cơ chế quản lý phù hợp nhất đối với mỗi quốc
gia đang là vấn đề cấp thiết cần được nghiên cứu và tìm tòi.
ở Việt Nam từ sau Đại hội VI của Đảng cơ chế kinh tế được chuyển sang
nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa xoá bỏ cơ chế kinh tế cũ - cơ chế kế hoạch hoá
- tập trung quan liêu bao cấp - là một vấn đề hoàn toàn mới mẻ và khá phức tạp
tế nhà nước để tác động vào thị trường bảo đảm định hướng chính trị phù hợp với
mục tiêu phát triển của mỗi đất nước.
Vì vậy tìm ra nghệ thuật quản lý kinh tế của nhà nước đối với nước ta hiện
nay xuyên suốt từ định hướng chiến lược hệ thống luật pháp đến các công đoạn
trong kế hoạch hành động từ vĩ mô đến vi mô là nội dung xin được nghiên cứu
xem xét trong đề án kinh tế chính trị này. Với các mục chính như sau:
I - Lý luận về vai trò kinh tế của nhà nước .
II - Tính tất yếu khách quan về vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước đối
với nền kinh tế.
III - Mục tiêu và chức năng quản lý vĩ mô của nhà nước
IV - Các giải pháp nhằm nâng cao vai trò quản lý vĩ mô nền kinh tế
của nhà nước.
B - Giải quyết vấn đề
I - Lý luận về vai trò kinh tế của nhà nước.
1 - Các lý luận về vai trò kinh tế của Nhà nước
a - Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin:
Chủ nghĩa Mác - Lê nin với quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử đã chứng minh một cách khoa học rằng nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội loài
người đã phát triển đến một giai đoạn nhất định. Nhà nước luôn luôn vận động
phát triển tồn tại và cũng sẽ tiêu vong khi những tiêu vong khi những điều kiện
khách quan cho sự tồn tại và phát triển của nó không còn nữa. Quan điểm duy vật
lịch sử chứng tỏ rằng chế độ cộng sản nguyên thuỷ là hình thái kinh tế xã hội đầu
tiên trong lịch sử nhân loại. Đó là một xã hội không có giai cấp, chưa có nhà
nước. Xã hội tổ chức thành các thị tộc, nhiều thị tộc hợp lại thành bào tộc nhiều
bào tộc hợp lại thành bộ lạc. Quyền lực là quyền lực xã hội, không có quyền lực
đặc biệt không mang tính cưỡng chế tổ chức xã hội rất đơn giản trong thị tộc có
hội đồng thị tộc trong bào tộc có hội đồng bào tộc, trong bộ lạc có hội đồng bộ
lạc. Dần dần năng suất lao động tăng lên, lực lượng sản xuất phát triển cộng với
ba lần phân công lao động: chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, thủ công nghiệp tách
khỏi nông nghiệp, làm xuất hiện ngành thương nghiệp chế độ tư hữu về tài sản
lợi nhuận và đầu tư cho tư bản độc quyền.
Để kích thích đầu tư cần phải xây dựng lòng tin và lạc quan của doanh
nhân, phải có các biện pháp tăng cường lợi nhuận và giảm lãi suất. Muốn vậy
phải tăng cường đưa tiền vào lưu thông, thực hiện “lạm phát có mức độ”. Ông
cho rằng “lạm phát có mức độ” sẽ kích thích tính tích cực hoạt động của tư bản
độc quyền, tăng hiệu quả giới hạn của tư bản. Đó là biện pháp có hiệu quả để
kích thích tình hình thị trường và không có gì nguy hiểm. Từ đó ông đề nghị thực
hiện “lạm phát có điều tiết”.
Để bù đắp cho sự thâm hụt ngân sách nhà nước, Keynes đề nghị phải in
thêm tiền giấy. Ông cho rằng làm như vậy sẽ duy trì được tình hình thị trường
trong thời kỳ sản xuất và việc làm giảm sút.
Ông đánh giá cao vai trò của hệ thống thuế khoá, công trái nhà nước. Nhờ
đó mà bổ sung ngân sách, tác động tích cực đến cục diện thị trường điều tiết việc
làm.
Có thể nói rằng Keynes đánh giá cao vai trò điều tiết kinh tế của nhà nước
và xem nhẹ cơ chế tự điều tiết của thị trường. Theo ông khủng hoảng và thất
nghiệp là do chính sách lỗi thời không can thiệp của nhà nước do tự do kinh tế
gây ra, muốn có cân bằng kinh tế nhà nước phải can thiệp kinh tế thực hiện điều
chỉnh kinh tế .
2 - Vai trò kinh tế của nhà nước nói chung trong lịch sử.
Lịch sử đã chứng minh vai trò kinh tế nhà nước được phôi thai ngay từ buổi
ban đầu, khi nhà nước mới chỉ vừa xuất hiện.
Trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ, Nhà nước chủ nô là kiểu nhà nước đầu tiên
trong lịch sử đã dùng quyền lực của mình can thiệp vào việc phân phối của cải
sản xuất ra. Nhà nước chủ nô trong thời kỳ này là nhà nước của giai cấp chủ nô
do đó vai trò chính của nó là quản lý xã hội phục vụ lợi ích của giai cấp chủ nô
bằng các thủ đoạn bạo lực chiếm đoạt và cưỡng bức kinh tế đối với giai cấp nô lệ.
Chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên và sự xâm lăng của các bộ lạc khác.
Trong xã hội phong kiến, nhà nước phong kiến là nhà nước của giai cấp phong
kiến bảo vệ quyền lợi của giai cấp phong kiến. Trong xã hội phong kiến nhà nước
cơ chế quản lý kinh tế cũ vào điều kiện kinh tế đã thay đổi làm xuất hiện nhiều
hiện tượng tiêu cực. Đến cuối những năm 80 giá cả leo thang khủng hoảng kinh
tế đi liền với lạm phát cao làm cho đời sống nhân dân bị giảm sút, thậm chí một
số địa phương nạn đói đang rình rập.
Trước sự suy thoái kinh tế nghiêm trọng như vậy đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở
nước ta là một tất yếu khách quan phù hợp cả về mặt lý luận và thực tiễn.
a - Về mặt lý luận
Chúng ta thấy rằng đổi mới cơ chế quản lý là phù hợp với các qui luật kinh
tế và các quan hệ kinh tế mới nảy sinh. Một khi mà các quan hệ kinh tế mới xuất
hiện các nhu cầu tự do lựa chọn của người sản xuất và người tiêu dùng nâng cao,
các nhân tố của thị trường đã hình thành và phát triển thông suốt và vươn tới các
thị trường quốc tế thì việc không thay đổi cơ chế kinh tế, vẫn giữ cơ chế cũ kế
hoạch hoá tập trung - là một điều phi khoa học. mặt khác xem xét về mối quan hệ
kinh tế đối ngoại ta thấy nền kinh tế nước ta đang hoà nhập với nền kinh tế thị
trường thế giới, sự giao lưu về hàng hoá dịch vụ và đầu tư trực tiếp của nước
ngoài làm cho sự vận động của nền kinh tế nước ta gần gũi hơn với nền kinh tế
thị trường thế giới. Xem xét về xu hướng chung phát triển kinh tế htế giới. Ta
thấy sự phát triển kinh tế của mỗi nước không thể tách rời sự phát triển và hoà
nhập quốc tế. Vậy đổi mới cơ chế kinh tế là điều đúng đắn về mặt lý luận.
b - Về mặt thực tiễn:
Thực trạng nước ta trước những năm 1986 cho thấy với cơ chế quản lý kinh
tế kế hoạch hoá tập trung nền kinh tế nước ta đang lâm vào tình trạng bế tắc, tài
nguyên thiên nhiên bị phá hoại, môi trường bị ô nhiễm, sản xuất kém hiệu quả sự
tăng trưởng kinh tế gặp nhiều khó khăn, sản phẩm trở nên khan hiếm, ngân sách
bị thâm hụt nặng nề, thu nhập từ nền kinh tế không đủ cho tiêu dùng, tích luỹ
hàng năm hầu như không có. Mà nguyên nhân sâu xa của sự suy thoái kinh tế đó
là do ta rập khuôn mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung không còn thích hợp
nữa vả lại còn chứa đựng nhiều nhược điểm kìm hãm sự phát triển kinh tế đó là:
Nhà nước quản lý kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu với hệ
thống chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh chi tiết từ trên giao xuống không phù hợp với
thông tườn đối thuận lợi. Kinh tế đối ngoại phát triển nhanh, mở rộng hơn trước
về qui mô, hình thức và góp phần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu
kinh tế - xã hội. Kim ngạch xuất khẩu tăng từ 493 triệu rúp và 384 triệu đô la năm
1986 lên 1019 triệu rúp và 1170 triệu đo la năm 1990. Đã giảm được khá lớn mức
độ nhập siêu so với trước đây. Phát huy những thành tựu đó đến Đại Hội VII
Đảng ta khẳng định: “Tiếp tục xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, hình
thành đồng bộ và vận hành có hiệu quả cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà
nước” mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở
hữu và thu nhập hợp pháp. Các doanh nghiệp không phân biệt quan hệ sở hứu
đều tự chủ kinh doanh hợp tác và cạnh tranh với nhau, bình đẳng trước pháp luật.
Kết quả qua 10 năm đổi mới (1986 -1996) nước ta đã ra khỏi khủng hoảng
kinh tế xã hội. Cơ chế thị trường đã phát huy tác dụng tích cực. Nó chẳng những
không đối lập mà còn là nhân tố khách quan cần thiết cho xây dựng và phát triển
đất nước theo con đường XHCN. Do đó trong phương hướng nhiệm vụ kế hoạch
phát triển kinh tế tại Đại hội VIII tiếp tục khẳng định “Từ nay đến năm 2000 tiếp
tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế với mục tiêu xoá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu
bao cấp hình thành tương đối đồng bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà
nước theo định hướng XHCN”.
3 - Cơ chế thị trường và những ưu khuyết của nó:
a - Cơ chế thị trường:
- Khái niệm: Cơ chế thị trường là cơ chế tự điều tiết nền kinh tế hàng hoá
do sự tác động của các qui luật kinh tế vốn có của nó. Cơ chế đó giải quyết 3 vấn
đề cơ bản của tổ chức kinh tế là cái gì như thế nào và cho ai.
b - Ưu khuyết của cơ chế thị trường:
- Ưu điểm:
Cơ chế thị trường kích thích hoạt động của các chủ thể kinh tế và tạo điều
kiện thuận lợi cho sự hoạt động tự do của họ, Do đó làm cho nền kinh tế phát
triển năng động huy động các nguồn lực xã hội vào phát triển kinh tế.
Cơ chế thị trường với cạnh tranh tự do buộc những người sản xuất phải
có thể lạm dụng tài nguyên của xã hội, gây ô nhiễm môi trường sống của con
người mà xã hội phải gánh chịu, do đó hiệu quả kinh tế xã hội không được bảo
đảm.
Có những mục tiêu xã hội mà dù cơ chế thị trường có hoạt động tốt cũng
không thể đạt được.
Cơ chế thị trường đưa đến sự phân hoá giàu nghèo, tác động xấu đến đạo
đức tình người vì cơ chế thị trường hoạt động phi nhân tính không xét đến các
khía cạnh đạo đức tình người:
Cơ chế thị trường điều tiết khó tránh khỏi những thăng trầm khủng hoảng
kinh tế có tính chu kỳ. Người ta nhận thấy rằng nền kinh tế hiện đại đứng trước
một vấn đề nan giải của kinh tế vĩ mô không một nước nào trong thời gian dài lại
có lạm phát thất nghiệp thấp và công ăn việc làm đầy đủ.
4 - Vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước đối với nền kinh tế
Qua phân tích trên ta thấy nền kinh tế thị trường có khả năng tập hợp tự
động được hành động, trí tuệ và tiềm lực của hàng triệu con người và hướng đến
lợi ích chung của cả xã hội đó là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tăng năng suất lao
động và tăng hiệu quả tăng sản xuất. Nhưng nền kinh tế thị trường không phải là
một hệ thống được tổ chức hài hoà mà trong hệ thống đó cũng chứa đựng rất
nhiều các yếu tố phức tạp và nan giải. Vì vậy để khắc phục hạn chế những tác
động tiêu cực của cơ chế thị trường cần thiết phải có sự can thiệp của Chính phủ
vào nền kinh tế tạo ra cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Trong cơ chế
thị trường đó nhà nước đóng vai trò là người định hướng thị trường, tạo điều kiện
và môi trường cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Điều tiết các quan hệ kinh tế
thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô, phân bổ các nguồn lực, quản lý tài sản
quốc gia nhằm đảm bảo phát triển các tài sản đó. Giải quyết mối quan hệ giữa
tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, hạn chế bất công bất bình đẳng trong
phân phối và thu nhập. Tham gia sản xuất kinh doanh với tư cách là chủ sở hữu
của các cơ sở kinh tế nhà nước để tác động vào thị trường bảo đảm định hướng
chính trị phù hợp với mục tiêu phát triển của mỗi nước. Đặc biệt là đối với nước
kiện kinh tế - xã hội cần và đủ. Thực tiễn cho thấy rằng - Con đường lịch sử tự
nhiên của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển rất lâu dài. Ngày nay khi
kinh nghiệm lịch sử của các nước đã trở thành lý luận các nước đi sau có thể rút
ngắn chặng đường phát triển của mình chỉ bằng cách: nhà nước chủ động sử dụng
kiến trúc thượng tầng. Quyền lực nhà nước để tạo ra môi trường kinh doanh
thuận lợi cho các doanh nghiệp yên tâm đầu tư mở rộng phát triển sản xuất. Để
hoàn thành vai trò đó nhà nước cần phải:
Tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tự do hoá giá cả, thương mại hoá nền
kinh tế.
Qui định và bảo đảm các quyền của người chủ sở hữu về tư liệu sản xuất.
Đa dạng hoá chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất
Xây dựng hệ thống pháp luật của nền kinh tế thị trường
ổn định về chính trị và xã hội
Ba là: Phân phối thu nhập quốc dân một cách công bằng hiệu quả tạo ra
động lực của sản xuất.
Trong nền kinh tế thị trường, thị trường càng mở rộng sự hoạt động của các
qui luật càng dẫn đến sự phân hoá thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, chia lẻ dân
cư thành các tầng lớp khác nhau trong quan hệ của họ dưới quyền lực kinh tế và
quyền lực chính trị. Tình trạng bất bình đẳng khi vượt quá khuôn khổ cho phép sẽ
dẫn đến sự phản ứng của dân cư trong lĩnh vực chính trị xã hội, mâu thuẫn gay
gắt về lợi ích giữa các giai cấp có thể dẫn tới sự đe doạ ổn định về mặt chính trị,
tạo môi trường xã hội lành mạnh cho các doanh nghiệp hoạt động. Nhà nước phải
hoàn thành chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập của các tầng lớp dân
cư sao cho thoả mãn yêu cầu công bằng và hiệu quả.
Trong nền kinh tế thị trường sự khác nhau về sở hữu của cài về năng lực sở
trường trình độ tay nghề và may mắn dẫn đến sự khác nhau trong thu nhập. Nhà
nước cần phải biết lựa chọn phương án phân phối lại như thế nào đó cho các hoạt
động kinh tế có hiệu quả trong sự bất bình đẳng cho phép.
Để giải quyết tình trạng bất bình đẳng trong thu nhập cần thiết phải xây
dựng lại hệ thống thuế để điều tiết một phần thu nhập của lớp người giàu có.
Tóm lại có thể nói rằng mọi quốc gia dù kinh tế có phát triển thành công
hay suy thoái đình trệ, giàu hay nghèo, ổn định hay rối loạn đều tìm thấy nguyên
nhân chủ yếu ở vai trò quản lý của nhà nước. Vì thế chuyển sang cơ chế thị
trường chỉ là điều kiện cần còn điều kiện đủ phải là vai trò quản lý của nhà
nước. Đó là nhân tố vô cùng quan trọng và cần thiết mà không quốc gia nào có
thể bỏ qua.
5 - Đặc trưng kinh tế thị trường theo định hướng XHCN:
Nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa là nền kinh tế vận động theo cơ chế hỗn hợp và được định hướng bởi lý
tưởng của chủ nghĩa xã hội. Vì vậy nền kinh tế đó mang các đặc trưng của chủ
nghĩa xã hội. Cụ thể là:
- Sự phát triển kinh tế phải gắn liền với việc giải quyết những vấn đề xã hội.
Để phát triển kinh tế chúng ta không chỉ quan tâm đến vấn đề sản xuất mà
vấn đề xã hội là một trong những vấn đề day dứt hàng ngày của toàn xã hội. Vì
vậy phải kết hợp chặt chẽ kinh tế với xã hội , xã hội với kinh tế. Mục tiêu của
Đảng và nhà nước không chỉ là ổn định chính trị, xây dựng cơ sở vật chất cơ sở
kỹ thuật, phát triển sản xuất mà còn giải quyết các vấn đề xã hội từ công ăn việc
làm đến đời sống văn hoá, xây dựng các quan hệ xã hội tốt đẹp, lối sống lành
mạnh, công bằng xã hội.
Chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản đều sử dụng cỗ xe kinh tế hàng hoá,
nhưng chỗ khác nhau là sự cân bằng giữa kinh tế xã hội, con người và quan hệ
con người với con người, quan hệ phân phối, thiết chế chính trị cả hai đều sử
dụng cạnh tranh làm động lực phát triển nhưng dưới chủ nghĩa tư bản không thể
tránh khỏi qui luật cá lớn nuốt cá bé, bất bình đẳng bất công. Chúng ta chấp nhận
thị trường là chấp nhận cạnh tranh đua tranh nhưng sẽ không dã man, tăng trưởng
kinh tế đi đối với xoá đói giảm nghèo, sự gia tăng về mức sống những giữ gìn
đạo đức bản sắc văn hoá dân tộc.
- Phát triển kinh tế Việt Nam phải là phát triển bền vững:
Kinh tế thị trường có thể nhanh chónh tăng trưởng và đạt đến đỉnh cao
chế độ kinh tế nào tự do tuyệt đối mà đều có sự quản lý cuả nhà nước.
- Kinh tế nước ta phải hoà nhập với kinh tế thể giới:
Mở cửa nền kinh tế là một trong những thành tựu quan trọng trong đỏi mới
cơ chế quản lý kinh tế. Thời gian qua chúng ta đã có những thay đổi có ý nghĩa
trong xuất nhập khẩu và hợp tác đầu tư nước ngoài.
Đối với xuất nhập khẩu chúng ta đã tự do hoá thương mại giảm bớt một số
thủ tục nhập khẩu không cần thiết.
Mở rộng thị trường xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới. áp dụng việc tự
do trao đổi ngoại tệ tại các thị trường ngoại hối cũng góp phần đẩy mạnh xuất
nhập khẩu.
Đối với đầu tư hợp tác nước ngoài: Việc công bố luật đầu tư nước ngoài và
thành lập một số khu chế xuất với nhiều điều khoản ưu đãi thể hiện tư duy phát
huy lợi thế so sánh của nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới với
nhiều công nghệ hiện đại và kinh nghiệm quản lý quí báu của nước ngoài góp
phần giảm bớt sự căng thẳng về vốn trong nước. III - Mục tiêu và chức năng quản lý vĩ mô của nhà nước:
1 - Mục tiêu:
Xuất phát từ khả năng thực tế và yêu cầu bức bách của cuộc sống, của thời
đại nhằm nâng cao mọi mặt đời ssống các tầng lớp dân cư, thay đổi bộ mặt đất
nước tạo thế vững vàng cho nước ta tham gia cạnh tranh và hợp tác trong tiến
trình hội nhập cộng đồng quốc tế. Đại hội VIII của Đảng ta đề ra các mục tiêu
kinh tế xã hội trong giai đoạn tới như sau:
Một là: Thực hiện đồng thời 3 mục tiêu về kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp
hoá với nhịp độ tăng trưởng cao bền vững và có hiệu quả, ổn định vững chắc kinh
tế vĩ mô, chuẩn bị các tiền đề cho bước phát triển cao hơn sau năm 2000. Chủ yếu
đầu tư của các nhà đầu tư trên thế giới bởi vì chính tị xã hội ổn định giúp các nhà
đầu tư yên tâm, sản xuất kinh doanh và họ cảm thấy nguồn đem đầu tư của mình
được bảo đảm an toàn và chắc chắn hơn.
Để làm được điều đó, nhà nước cần phải tuân theo thể chế chính trị phù hợp
với đại đa số quần chúng nhân dân bảo vệ lợi ích của nhân dân. Đó là thế chế
chính trị xã hội chủ nghĩa. Nhà nước phải có nền an ninh quốc phòng có lực
lượng quân đội vững mạnh.
Giữ vững ổn định chính trị là điều kiện rất cần thiết để phát triển kinh tế đặc
biệt là trong giai đoạn chúng ta chuyển sang cơ chế thị trường. Khi các mối quan
hệ không còn chỉ bó hẹp ở trong nước mà lan rộng ra khắp các nước trên thế giới
nền kinh tế của nước liên quan chặt chẽ đến nhiều nước thì chỉ một chút bất ổn về
chính trị cũng có thể làm giảm sút đầu tư, ảnh hưởng trầm trọng đến các quan hệ
kinh tế từ đó là cho nền kinh tế trở nên bất ổn.
Đối với việc thiết lập khuôn khổ luật pháp:
Nhà nước đặt ra khung pháp luật thống nhất đảm bảo tính dân chủ bình
đẳng để mọi công dân mọi doanh nghiệp có thể tham gia vào các hoạt động thị
trường mà không bị ai ngăn cản. Hệ thống pháp luật chỉ là công cụ hướng dẫn các
chủ thể kinh tế được làm gì và không được làm gì và làm như thế nào thì đúng
làm như thế nào thì sai chứ không ép buộc và qui định các chủ thể kinh tế phải
làm như thế này không được làm thế kia. Hệ thống pháp luật chỉ là để tạo hành
lang có trật tự cho các chủ thể kinh doanh hoạt động. Đẻ làm được điều này nhà
nước cần phải xây dựng môi trường pháp lý hoàn chỉnh và thuận lợi cho sản xuất
- kinh doanh của các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường. Một khuôn khổ pháp
luật đồng bộ và ổn định sẽ tạo hành lang cho phép các doanh nghiệp tiến hành
cạnh tranh một cách lành mạnh và bảo đảm thực hiện tốt các hoạt động hợp tác
liên kết . Đồng thời một hệ thống pháp luật đầy đủ hoàn thiện được thực thi
nghiêm minh sẽ khắc phục được tình trạng buôn lậu trốn thuế làm hàng giả. Có
thể nói nguyên nhân chính của tình trạng cạnh tranh lộn xộn trên thương trường
hiện nay là lỗi ở hệ thống luật pháp của chúng ta chưa kịp chuyển đổi để phù hợp
với yêu cầu kinh tế thị trường, còn thiếu quá nhiều luật và các điềukhoản không
nghiệp không muốn hoặc không đủ khả năng và uy tín để đảm nhận nhưng lại là
cơ sở kinh tế cần thiết cho sự tăng trưởng nhanh và bền vững của nền kinh tế đảm
bảo cho nhà nước thực hiện tốt chính sách kinh tế - xã hội văn hoá - môi trường
tốt. Vì vậy, nhà nước cần phải chú trọng đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng này.
Bốn là: quản lý tài sản công và kiểm kê, kiểm soát toàn bộ hoạt động kinh
tế - xã hội. Thực hiện đúng chức năng quan rlý nhà nước về kinh tế và chức năng
chủ sở hữu tài sản công của nhà nước. Các Bộ và các cấp chính quyền không can
thiệp vào chức năng hoạt động kinh doanh và quyền tự chủ của doanh nghiệp.
Nhà nước là người thay mặt nhân dân quản lý các đặc quyền đặc lợi về kinh
tế trong cương vị quốc gia. Do đó nhà nước có trách nhiệm bảo vệ các quyền lực
của xã hội, quản lý các tài sản công, Mặt khác nhà nước là người chủ quản lý đất
nước, là người trọng tài do đó nhà nước có chức năng kiểm tra, kiểm soát toàn bộ
hoạt động kinh tế xã hội nhằm ngăn chặn tình trạng tham ô, tham nhũng làm thất
thoát tài sản công.
Năm là: Khắc phục hạn chế các mặt tiêu cực của cơ chế thị trường phân
phối thu nhập quốc dân một cách công bằng, thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn
với cải thiện đời sống nhân dân, với tiến bộ và công bằng xã hội.
Thông qua chính sách công cụ nhà nước giảm đến mức thấp nhất mặt tiêu
cực và hậu quả kinh tế xã hội do cạnh tranh gây ra nhằm đảm bảo phúc lợi công
cộng như công bằng xã hội bảo vệ môi sinh, môi trường.
IV - Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò quản lý của nhà nước đối với
nền kinh tế:
Về phía nền kinh tế chúng ta cần phải thực hiện các giải pháp lớn sau:
1 - Đối với hệ thống pháp luật:
Nhà nước pháp quyền trước tiên phải được thể hiện ở những bộ luật đồng
bộ, đầy đủ và khoa học sau đó là việc thực hiện pháp luật trên thực tế một cách
nghiêm minh bảo đảm sự bình đẳng hoàn toàn cho mọi công dân trước pháp luật.
Kinh tế thị trường gắn liến với nhà nước pháp quyền và nhà nước sẽ quản lý
chủ yếu bằng pháp luật. Kinh tế thị trường lành mạnh chỉ có thể hoạt động trong
biệt quan trọng là phải siết chặt kiểm tra thực hiện luật. Tiến hành thường xuyên
việc tổ chức kiểm nghiệm lại hiệu lực thi hành của các văn bản pháp luật đã ban
hành là vấn đề quan trọng nhằm giúp cho việc sửa đổi bổ sung kịp thời đáp ứng
hoạt động kinh doanh có hiệu quả hiệu lực. điều cần hết sức tránh là ở chỗ một
văn bản mới ban hành chưa thực thi thì đã có ngay một quyết định hoãn hoặc xoá
bỏ nó như thời gian qua.
b - Trong nền kinh tế thị trường quyền tự do kinh doanh là trung tâm, mục
tiêu động lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế. Tuy nhiên tự do kinh doanh
không có nghĩ là vô chính phủ, là vô hạn mà nó được thực hiện trong sự tôn trọng
lợi ích của xã hội của nhân dân, của các chủ thể kinh doanh khác. Pháp luật
không thể là những qui định hạn chế quyền tự do kinh doanh mà phải tạo tiền đề
pháp lý cho sự ổn định các quan hệ kinh doanh làm cho mọi thành phần kinh tế,
mỗi doanh nghiệp và công dân yên tâm huy động mọi tiềm năng sáng tạo và tiềm
năng kinh tế vào hoạt động kinh doanh. Vì vậy pháp luật về kinh tế phải rất rộng
về nhiều phương diện và các bộ phận pháp luật hợp thành.
c - Luật công ty và luật doanh nghiệp tư nhân được Quốc hội ban hành vào
ngày 21/12/1990 và có hiệu lực từ ngày 15/4/1992 nhưng cho đến nay việc thi
hành 2 luật này còn nhiều lúng túng lắm phiền hà bởi vì không một cơ quan có
trách nhiệm nào của nhà nước có văn bản hướng dẫn qui trình xét duyệt cho phép
thành lập công ty doanh nghiệp tư nhân theo luật định vậy cần nhanh chóng sửa
đổi luạt công ty và luật doanh nghiệp tư nhân trên những nguyên tắc cơ bản của
nền kinh tế thị trường. Cần nhanh chóng xây dựng và ban hành luật phá sản của
doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có quá trình ra đời hoạt động kinh doanh thì tất
yếu có quá trình phá sản nếu không được chấp nhận. Do đó cần phải có qui định
rõ ràng để nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp.
2 - Đối với công tác kế hoạch và dự báo chiến lược phát triển kinh tế xã
hội:
Kế hoạch hoá là quá trình nhận thức và vận dụng tổng hợp các qui luật
khách quan, trước hết là các qui luật kinh tế trong đó có các quy luật của thị
trường để xây dựng và thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế và xã hội. Vì vậy