Nguyên tắc thống nhất lô gich lịch sử và sự vận dụng nó trong nghiên cứu kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở việt nam hiện nay - Pdf 52

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM THU HÀ

NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT LÔ GICH-LỊCH SỬ
VÀ SỰ VẬN DỤNG NÓ TRONG NGHIÊN CỨU
KINH TẾ THỊ TRƢỜNG ĐỊNH HƢỚNG XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI – 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM THU HÀ

NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT LÔ GICH-LỊCH SỬ
VÀ SỰ VẬN DỤNG NÓ TRONG NGHIÊN CỨU
KINH TẾ THỊ TRƢỜNG ĐỊNH HƢỚNG XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 03 01
Chủ tịch Hội đồng



BCHTƯ

Ban chấp hành trung ương.

CNXH

Chủ nghĩa xã hội.

CNTB

Chủ nghĩa tư bản.

CNCS

Chủ nghĩa cộng sản.


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài ....................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................... 9
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu..................................................... 9
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu. ................................................................10
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn............................................................................10
7. Kết cấu của Luận văn: ....................................................................................10
NỘI DUNG..................................................................................................... 11
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC
THỐNG NHẤT LÔGICH -LỊCH SỬ VÀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG

ngã không đáng có, phải có sự định hình về mặt phương pháp luận trong nhận
thức trước khi đem áp dụng chúng vào hoạt động thực tiễn. Những biến động
của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội trên thế giới và ở Việt Nam trong những
năm qua đang đặt ra những yêu cầu cấp thiết như vậy. Đó là lý do, cần trở lại
với quan điểm của các nhà kinh điển mác xít về phương pháp luận trong
nghiên cứu các hiện tượng xã hội để có được câu trả lời chính xác cho những
hiện tượng phức tạp này.
Nguyên tắc thống nhất lôgich-lịch sử là một trong những nguyên tắc
phương pháp luận cơ bản của phép biện chứng. Việc nắm vững nguyên tắc
này giúp cho nhận thức con người có thể tiến sâu vào tầng bậc bản chất, nắm
bắt những vấn đề có tính quy luật của đối tượng, từ đó, có cách nhìn và ứng
xử đúng đắn trong hoạt động thực tiễn nhằm đạt được mục đích đặt ra.
Sự thống nhất biện chứng giữa cái lịch sử và cái lôgich có ý nghĩa quyết
định đối với việc nhận thức mối quan hệ giữa lịch sử của sự vật và hình thức
phát triển của nó. Vì vậy để hiểu đúng đắn sự thống nhất này góp phần giúp
chúng ta phát hiện được những quy luật chung của nhận thức đối với quá trình
phát triển khách quan của hiện thực, trong đó có các quy luật phát triển của
lịch sử xã hội.
Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, Việt Nam
đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đây là một mô hình
kinh tế chưa hề tồn tại trong lịch sử phát triển kinh tế của nhân loại, nên
chúng ta gặp không ít khó khăn khi vừa xây dựng nền kinh tế tuân theo quy
1


luật thị trường, nhưng đồng thời cũng phải phù hợp với mục tiêu CNXH.
Thực tiễn này đang rất cần những định hướng về mặt phương pháp luận nhằm
nắm vững tính quy luật của sự phát triển để xây dựng thành công mô hình
kinh tế của đất nước trong thời kỳ đổi mới.
Vì thế, việc tìm hiểu và áp dụng phương pháp luận biện chứng duy vật

pháp luận được xem là một năng lực của tư duy tổng hợp, tư duy phức hợp, là
công cụ quan trọng nhất trong quá trình nhận thức của con người đối với mọi
đối tượng và biểu hiện của đời sống xã hội. Edgar Morin có những nghiên
cứu chuyên sâu về các nội dung của phương pháp, ông coi phương pháp là
một công cụ tiếp cận phức hợp giúp con người có khả năng tư duy đúng đắn
trong việc nhận thức thế giới hiện thực và giải quyết các vấn đề nhận thức.
Những luận giải của Edgar Morin thực sự đã vượt qua những nguyên tắc
phương pháp luận trước đó như là cái sẵn có, áp đặt từ bên ngoài để vươn tới
những vấn đề phương pháp như là sự sáng tạo của chính nhận thức nảy sinh
đồng thời trong quá trình phán ánh về hiện thực. Có thể xem đó là những gợi
mở quan trọng về giá trị và tính hữu dụng của các phương pháp. Tác giả
D.Q.Mcinerny thì lại nhấn mạnh những nguyên tắc của tư duy logich được
xem là cơ sở của phương pháp đúng đắn trong tư duy đối với quá trình nhận
thức. Các tác giả như: Helga Nowontny, Peter Scott, Michael Gibbons lại đưa
ra những vấn đề khá mới mẻ, khi cho rằng năng lực nhận thức của con người
là một quá trình, một hiện thực phức tạp, hỗn độn và bất định; vì vậy, việc xác
lập những nguyên tắc của tư duy như một phương thức nhận thức ở tầng bậc
cao nhằm điều chỉnh cho phù hợp với sự thay đổi của hiện thực.
Những nghiên cứu này, cùng với sự phát triển và nâng cao của quá
trình nhận thức, đã từng bước xây dựng phương pháp luận thành hệ thống lý
thuyết hoàn thiện.
Liên quan đến những nội dung nghiên cứu về phương pháp thống nhất
lôgich-lịch sử như là một nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng
duy vật, thì một trong những hướng nghiên cứu phổ biến nhất là xem xét sự
3


thống nhất giữa lịch sử và lôgich trong phạm vi vấn đề cơ bản của triết học.
Lịch sử là quá trình phát triển của sự vật; cái lịch sử là hiện thực khách quan
đối với sự vận động của sự vật và của hiện thực; lôgich là tính tất yếu được

sử, và sự phản ánh giải thích quá trình lịch sử ấy trong tư duy, là sự nghiên
cứu lôgich về mối liên hệ nội tại của quá trình ấy” [3, 658]. Theo cách giải
quyết vấn đề như vậy, các nhà triết học mác xít đã phát triển và hoàn thiện
nguyên tắc thống nhất lôgich-lịch sử ở một trình độ mới hơn, có sự khác biệt
về chất so với các nhà triết học trước đó.
Trong những nghiên cứu liên quan đến những nội dung này, có hai tác
phẩm cần đề cập đến của các nhà triết học Xô viết là cuốn “ phép biện chứng
trong bộ Tư bản của Mác” của M.M.Rodenta (Nxb.Sự thật năm 1962)
“Logich học biện chứng” của E.V.Ilencov (do Nguyễn Anh Tuấn dịch), năm
2003, Nxb Văn hóa Thông tin), ngoài việc tập trung đi nghiên cứu những
quan niệm khác nhau của các nhà triết học trong lịch sử về tư duy biện chứng,
các công trình này cũng đi sâu nghiên cứu về phương pháp lôgich-lịch sử.
Nếu M.M.Rodenta đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung cơ bản
của nguyên tắc thống nhất lôgich-lịch sử như một nguyên tắc phương pháp
luận của phép biện chứng duy vật thì E.V.Ilencov lại chú trọng đến việc phân
tích mối liên hệ biện chứng giữa cái lôgich và cái lịch sử như là hình thức của nội
dung quan hệ giữa sự phát triển của khoa học với sự phát triển của hiện thực.
Hiện nay, các nhà triết học mác xít đang tiếp tục phát triển và nghiên
cứu vấn đề mối tương quan giữa sự thống nhất của cái lôgich và cái lịch sử
bằng cách kế thừa những giá trị lý luận của Hêghen, Mác, Ănghen và Lênin.
Trên cơ sở những thành tự khoa học trên lĩnh vực nhận thức, có thể áp dụng
và giải quyết có hiệu quả những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra.
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về phép biện chứng duy vật và ý
nghĩa phương pháp luận được rút ra từ đó, được trình bày phổ biến và căn bản
trong các sách giáo khoa triết học của Hội đồng lý luận trung ương; Bộ giáo
dục và đào tạo. Ngoài ra, để hiểu sâu về giá trị và ảnh hưởng của phương
5


pháp luận biện chứng mác xít đã có một số công trình nghiên cứu riêng về

lôgich-lịch sử . Đây là những nguồn tài liệu tham khảo hữu ích để tác giả có
cơ sở khi triển khai nghiên cứu đề tài.
- Những nghiên cứu chung về kinh tế thị trường và kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Khi Việt Nam đang trên đường xây dựng và phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, do sự thiếu hụt về mặt lý luận cho một
mô hình chưa có tiền lệ trên thế giới càng đặt ra nhu cầu bức thiết về việc phải
hoàn thiện về mặt lý luận mô hình này để hiện thực hóa nó trong thực tiễn.
Những nghiên cứu ở nước ta trong thời gian này chủ yếu tập trung nghiên cứu
về kinh tế thị trường ở góc độ kinh tế học với các tác giả như: Phạm Hảo,
Hoàng Ngọc Hoà, Đỗ Hoài Nam, Bùi Thị Xuyến.v.v..
Vũ Văn Phúc với công trình “Một số vấn đề về kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta” năm 2001. Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia, dưới góc độ kinh tế chính trị, cuốn sách đã phân tích những điều kiện
hình thành và bản chất của kinh tế thị trường, phân biệt kinh tế thị trường nói
chung với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Tác
giả Vũ Đình Bách (chủ biên): Kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam (2008), Nhà xuất bản chính trị quốc gia, đã phân tích một cách
khái quát nội dung, các đặc điểm của mô hình kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, cũng như các nhân tố tác động tới quá trình xây
dựng mô hình kinh tế này. Công trình: “Thể chế kinh tế nhà nước trong nền
kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam” của các tác giả
Lương Xuân Quỳ, Đỗ Đức Bình (chủ biên), Nhà xuất bản chính trị quốc gia,
đã đi sâu luận giải tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam thông qua vai trò của thành phần kinh tế nhà nước. Cùng
hướng nghiên cứu này, công trình: “Vấn đề sở hữu trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Kế
Tuấn (chủ biên), Nhà xuất bản chính trị quốc gia (2010), chủ yếu đi sâu luận
7




bản của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu sự vận dụng phương pháp
thống nhất lôgich-lịch sử như một phương pháp luận đúng đắn vào nghiên cứu
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Đây chính là
hướng nghiên cứu mới mà luận văn muốn đặt ra và nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là trên cơ sở hệ thống hóa một số vấn đề lý luận
chung về nguyên tắc thống nhất lôgich-lịch sử và nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, luận văn phân tích sự vận dụng nguyên tắc thống
nhất lôgich-lịch sử trong nghiên cứu kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích trên, luận văn phải thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận chung về nguyên tắc thống nhất
lôgich-lịch sử và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
- Phân tích sự vận dụng nguyên tắc thống nhất lôgich-lịch sử trong nghiên
cứu kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đồng thời cũng có sự kế thừa và tiếp thu
những giá trị của các công trình nghiên cứu có liên quan.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương
pháp luận mác xít, đặc biệt là phương pháp luận biện chứng duy vật và một số
phương pháp liên ngành như: phương pháp phân tích-tổng hợp, so sánh, đối
chiếu, phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể, phương pháp trừu tượng hóa,
khái quát hóa..v.v..
9


THỐNG NHẤT LÔGICH-LỊCH SỬ VÀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG
ĐỊNH ĐƢỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
1.1. Một số khái quát chung về nguyên tắc thống nhất lôgich-lịch sử
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
Nguyên tắc thống nhất lôgich-lịch sử là một trong những nguyên tắc
phương pháp luận cơ bản của phép biện chứng. Việc nắm vững nguyên tắc
này giúp cho nhận thức con người có thể tiến sâu vào tầng bậc bản chất của
đối tượng, thấy ra những vấn đề có tính quy luật trong sự tồn tại, vận động, và
phát triển của đối tượng.
Để tìm hiểu và nắm được những nội dung cơ bản của nguyên tắc thống
nhất lôgich-lịch sử, thì chúng ta cần hiểu rõ nội hàm những khái niệm căn bản
liên quan đến nguyên tắc này.
Khái niệm lịch sử, cái lịch sử và phương pháp lịch sử.
Theo tiếng Hy lạp cổ từ istorija được dịch nghĩa là lịch sử. Lúc đầu lịch
sử dùng để chỉ những sự kiện diễn ra trong đời sống tự nhiên và xã hội. Theo
cách quan niệm này thì quan niệm về lịch sử rất dễ đồng nhất với khái niệm
vật chất, vì chúng đều là là thực tại khách quan được xét đến trong quá trình
phát triển. Dần dần phạm trù “lịch sử”, trong sự vận động của nó, không
ngừng đổi mới nội dung và mở rộng nghĩa hơn. Lúc này, lịch sử được hiểu là:
khoa học về sự vận động, phát triển của xã hội nói chung, là những gì đã từng
xảy ra trong quá khứ; dùng để chỉ sự phát triển hiện thực trong biểu hiện của
mọi khách thể mang tính sự kiện nói riêng. Theo đó, thì ngoại diên của khái
niệm lịch sử bao hàm cả lịch sử của tư duy. Tức là phải thừa nhận tư duy và
tư tưởng cũng có lịch sử cho dù lịch sử đó xét đến cùng nó cũng bị phụ thuộc
vào sự phát triển của tồn tại. Là một bộ phận trong khái niệm lịch sử nên lịch
11


sử của tư tưởng cũng có tính khách quan, nhưng không phải khách quan theo
nghĩa bản thể luận mà là khách quan theo nghĩa nhận thức luận.

một phạm trù dùng để chỉ sự phát triển của hiện thực được nhận thức“ [22;
99 ]. Do đó tự nhiên, xã hội và tư duy – một khi trở thành đối tượng xem xét
của nhận thức (lôgich) thì đều thể hiện như là cái lịch sử với tư cách là cái
lịch sử. Nói cách khác, khi chuyển các đối tượng nghiên cứu (các sự vật, hiện
tượng) đã thâu tóm được tính quy định lịch sử phổ biến được khái quát thành
lý luận đó chính là phạm trù cái lịch sử. Lúc này, lịch sử không phải là lịch sử
“tự nó” mà lịch sử được xét trong mối quan hệ với nhận thức. Ví dụ, cùng
một nhân vật lịch sử chúng ta có nhiều cách đánh giá khác nhau, do quá trình
nhận thức, đánh giá của mỗi người là khác nhau. Tuy nhiên, sự nhận thức có
thể khác nhau nhưng cũng phải luôn tuân thủ tính khách quan khi phản ảnh về
hiện thực. Điều này làm nên tính đặc thù của phương pháp lịch sử.
Phương pháp lịch sử được rút ra từ phạm trù “cái lịch sử” như là một
nguyên tắc nhận thức của lô gích học biện chứng. Phương pháp lịch sử như là
sự ứng dụng cụ thể của phương pháp logic đối với những đối tượng cụ thể
nào đó.
Phương pháp lịch sử yêu cầu nhận thức: thứ nhất là phải phản ánh lịch
sử trong quá trình sinh thành, vận động, biến đổi và phát triển. Thứ hai phải
bám sát đối tượng theo thời gian để tái hiện nó trong tính muôn vẻ, bề ngoài,
ngẫu nhiên và cụ thể của chúng.
Trong phương pháp lịch sử, các lý thuyết cũ bị phê phán bằng cách so sánh
với chính những sự kiện đã được xác định về mặt lịch sử và các lý thuyết mới
được xuất hiện trong lịch sử bằng con đường nhận thức và khái quát hoá chúng.
Ưu điểm của phương pháp lịch sử là: có thể phản ánh đối tượng một
cách cụ thể, sinh động nhất vì sự mô tả đối tượng luôn dựa trên việc bám sát
vào các sự kiện và tiến trình lịch sử để phản ánh. Nhược điểm của phương
pháp lịch sử là: dễ sa vào tiểu tiết, mô tả cảm tính, khó thấy được bản chất,
tính quy luật của lịch sử. Ví dụ, khi nghiên cứu quá trình biến đổi tư tưởng
13




hoàn toàn mang ý nghĩa khách quan rồi từ đó mới quy định nên sự nhận thức
về tính khách quan đó. Nhóm quan điểm thứ hai lại cho rằng, cái lôgich là
khái niệm chỉ đặc trưng riêng trong lĩnh vực tinh thần, quan điểm này dường
như có sự tương đồng với cách hiểu của Hêghen về lôgich; cái lôgich lúc này
được hiểu là sự phản ánh lý luận về cái lịch sử, nó là “hình ảnh chủ quan của
thế giới khách quan” [ 11, 19]. Shevtulin A. P cho rằng “cái lôgich là dùng để
chỉ mối liên hệ xác định, tất yếu của các tư tưởng (khái niệm, phán đoán),
phản ánh thế giới khách quan vào trong nhận thức của con người dưới dạng
các hình ảnh tinh thần”. Spirkin G. A cho rằng “cái lôgich là sự phản ánh khái
quát cái lịch sử”. Tác giả Lê Hữu Nghĩa thì cho rằng, không nên đồng nhất cái
lôgich với tư duy, nhưng cái lôgich lại không tách rời tư duy trừu tượng, đó là
sự biểu đạt mối liên hệ tất yếu trong sự phát triển của tư duy trừu tượng: cái
lôgich là sự tiếp nối nhất định, tất yếu của các khái niệm, phán đoán, phản ánh
thế giới khách quan trong ý thức con người dưới dạng các hình ảnh tư tưởng
[30, 19 - 20]. Tác giả Lại Văn Toàn, với cách tiếp cận tư duy biện chứng của
mình, ông đã có sự khái quát lý luận trong quan niệm về cái lôgich “cái lôgich
theo cách lý giải mới (của Mác) là sự trừu tượng từ cái lịch sử dưới một hình
thức khái quát, trong những khía cạnh tất yếu, đã được chắt lọc ra mọi cái
ngẫu nhiên lịch sử. Nói một cách chính xác, đây không còn là cái lịch sử, mà
là sự phản ánh của nó. Một sự phản ánh đã được chỉnh sửa theo chính quy
luật của bản thân hiện thực lịch sử” [xem 27]. Đây là sự kế thừa và phát triển
tiếp tục quan niệm của Ăng ghen khi coi: lôgich không phải là sự phản ánh
lịch sử một cách đơn thuần mà là sự phản ánh đã được uốn nắn lại, nhưng uốn
nắn theo quy luật mà bản thân quá trình lịch sử đem lại. Tức là qua sự phản
ánh quá trình lịch sử, rồi tiếp tục thông qua quá trình nhận thức của con người
để rút ra các quy luật đặc trưng căn bản của đối tượng, nhưng cái quy luật
được rút ra đó phải phù hợp với sự tồn tại khách quan vốn có tức quy luật phát triển
khách quan của hiện thực mà nó phản ánh (cái lịch sử) của đối tượng.
15

16


quá trình phát triển trước đó. Sự phân tích một cách khách quan và lôgich sẽ
làm lịch sử của khách thể được tái hiện ở những nét chính yếu nhất. Thứ hai,
đây là phương pháp đưa ra quan niệm có tính chất phê phán lý luận đối với tất
cả các sự kiện và vấn đề hiện nay. Tức là có thể hoàn toàn phân tích một cách
lôgich rằng, một lý thuyết nào đó được xây dựng trước đây so với bức tranh
thực tế của hiện thực mà chúng ta quan sát ngày hôm nay. Nhờ phương pháp
này, hạt nhân hợp lý của các quan điểm cũ được khẳng định và gia nhập vào các
quan điểm mới như một trường hợp riêng của quan điểm mới.
Tuy nhiên, phương pháp này cũng có những nhược điểm, mà nhược
điểm căn bản nhất của phương pháp lôgich là rất dễ rơi vào tư biện, nếu thiếu
đi những tư liệu chính xác và bản chất của đối tượng.
Như vậy, lịch sử và lôgich là hai phạm trù khác nhau nhưng có mối
quan hệ biện chứng, thống nhất với nhau. Có thể hiểu cái lịch sử là cái lôgich
với những mối liên hệ tất nhiên và ngẫu nhiên với không gian và thời gian cụ
thể; còn cái lôgich là lịch sử được gọt giũa bớt những cái ngẫu nhiên, để giữ
lại cái tất nhiên, nó là cái lịch sử vừa được uốn nắn vừa sửa chữa bớt các sự
kiện, không gian, thời gian cụ thể chỉ giữ lại cái bản chất, tất yếu, có tính quy luật.
Cơ sở khách quan của sự phản ánh lôgich chính là lịch sử, nhưng
không phải là lịch sử “được đem lại trong trực quan hay biểu tượng” mà là
“lịch sử được chắt lọc” khỏi những tính quy định bề ngoài, đơn nhất, ngẫu
nhiên, chỉ còn lại những vòng khâu phát triển bản chất nhất, chung nhất và tất
yếu. Ví dụ, các phạm trù do việc phát triển tư tưởng trước đây xây dựng nên
(các khái niệm được sáng tạo bởi sự phát triển lịch sử của khoa học) đều được
so sánh với các sự kiện lịch sử hiện thực. Việc coi lịch sử là cơ sở, tiền đề
chân thực nhất cho việc nhận thức đúng đắn tính quy luật của đối tượng
chính là cơ sở quan trọng làm hình thành nên nội dung nguyên tắc thống nhất
giữa lô gích và lịch sử.

sự tách biệt rành mạch giữa hai thế giới: thế giới ý niệm và thế giới sự vật
18


cảm tính, Platon đã loại bỏ đi tính quy định của hiện thực khách quan làm cho
nó trở nên chết cứng và mất đi vai trò của mình trong quá trình nhận thức.
Mặt khác, Platon cũng thấy được tính chất biện chứng của hiện thực, bởi vì
ông cho rằng các sự vật luôn nằm trong quá trình sinh thành, xây dựng, chết
đi và biến đổi. Tuy nhiên, tiến trình nhận thức trên không được ông xem là cái
logich trong mối tương quan với lịch sử nhận thức. Aritxtôt phủ nhận sự tồn
tại trong học thuyết ý niệm của Plaoton, ông cho rằng các ý niệm đó phải
được bắt nguồn từ hiện thực khách quan; giới tự nhiên có tính lịch sử; nên
logich phát triển ý niệm cũng chính là lịch sử của hiện thực. Quan niệm này
chỉ ra mối liên hệ không thể tách rời giữa hiện thực và nhận thức. Tuy nhiên,
sự đồng nhất tuyệt đối giữa tính quy định của hiện thực với nhận thức làm cho
quan niệm của Aritxtôt dễ dẫn đến việc lẫn lộn giữa lôgich khách quan và
lôgich chủ quan, không thấy được sự đồng nhất khác biệt giữa cái lôgich và
cái lịch sử trong tư tưởng triết học của ông. Đến Kant, một lần nữa, mối quan
hệ gữa lôgich và lịch sử lại bị đẩy tách rời nhau. Ông cho rằng “lôgich chung”
không thể đảm nhiệm chức năng phương tiện, cũng như chuẩn mực đối với
quá trình nhận thức hiện thực. Nhiệm vụ mới của lôgich học lúc bấy giờ là
đưa các sự kiện trong hiện thực vào quá trình tạo ra tri thức mới. Kant cho
rằng mọi cái lịch sử nói chung đều bị đẩy ra khỏi mối quan hệ với tiến trình tư
duy, thay vào đó là khái niệm kinh nghiệm, tức là ông đã loại trừ thế giới hiện
thực khách quan ra khỏi cái lôgich. Giữa cái lôgich và cái lịch sử không thể
có mối quan hệ gì với nhau. Lúc này, mối tương quan giữa cái lôgich-cái lịch
sử được thay bằng mối tương quan giữa khái niệm và kinh nghiệm. Tuy
nhiên, chính Kant là người đã phát hiện ra rằng, chính sự khác biệt giữa cái
lôgich và cái lịch sử sẽ tạo ra những khác biệt trong phương pháp nhận thức.
Hêghen là người đầu tiên cho rằng các quy luật biện chứng của sự vận động

thấy ra trong từng biểu hiện cụ thể của nó. Phương pháp lịch sử không phải là
sự miêu tả tiến trình lịch sử theo kiểu liệt kê sự kiện mà là sự mô tả theo một
sợi dây lôgich nhất định của sự phát triển lịch sử. Còn phương pháp lôgich
20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status