LUẬN văn THẠC sĩ lợi ÍCH QUÂN NHÂN TRONG nền KINH tế THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG xã hội CHỦ NGHĨA ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 52

MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay đã và đang đặt
con người vào vị trí trung tâm, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế- xã hội.
Trong hệ thống các nhân tố tạo nên động lực phát triển xã hội, lợi ích là nhân tố quyết định và
xuyên suốt quá trình chuyển hoá những yêu cầu khách quan của cuộc sống cộng đồng thành
động cơ bên trong thúc đẩy thái độ, hành vi của con người. Quan hệ lợi ích là cơ sở phối hợp
hành động của mọi thành viên trong xã hội, tạo nên hợp lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. C.Mác
đã coi lợi ích là tính tất yếu tự nhiên, là nhu cầu cơ bản của con người, là cái liên kết các thành viên
trong xã hội với nhau. Việc nhận thức và giải quyết vấn đề lợi ích trong xã hội ta có tác động trực tiếp
mạnh mẽ đến con người nói chung và cán bộ, chiến sỹ trong QĐNDVN nói riêng.
Hiện nay, nhiệm vụ xây dựng QĐNDVN cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước
hiện đại trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cần có sự nhận thức và giải quyết đúng
đắn vấn đề lợi ích của quân nhân. Nếu không thực hiện tốt lợi ích của quân nhân trong cuộc
sống, thì mọi biện pháp phát huy tính tích cực của con người trong xây dựng quân đội sẽ không
đem lại hiệu quả như mong muốn.
Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta thường xuyên quan tâm giải quyết hài hoà lợi
ích quân nhân trong điều kiện kinh tế- xã hội cho phép. Đó là một trong những nhân tố quan
trọng phát huy tính tích cực chính trị- xã hội của cán bộ, chiến sỹ quân đội ta. Tuy nhiên, trong quá
trình tổ chức thực hiện, giải quyết lợi ích của các cấp, các ngành cũng như hệ thống chính trị vẫn còn
có nhận thức giản đơn và việc làm chưa phù hợp.
QĐNDVN do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quá trình xây dựng, chiến đấu và
trưởng thành luôn phát huy được bản chất, truyền thống của quân đội cách mạng. Trước sự
chuyển hoá của đất nước và quân đội từ thời chiến sang thời bình, nhất là sự tác động của kinh
tế thị trường, sự chống phá của kẻ thù, đã làm nảy sinh những mâu thuẫn trong quan hệ lợi ích
ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của quân nhân. Trong chiến tranh, lợi ích của quân nhân hoà
quyện vào lợi ích dân tộc, họ cần phải và hầu như tạm quên đi những khát vọng riêng tư của
mình vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay, giải quyết lợi ích đang chịu
sự tác động tiêu cực từ mặt trái của kinh tế thị trường, lối sống thực dụng, tình trạng quan liêu,
tham nhũng, biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, sự phân hoá giàu, nghèo trong xã hội, cùng với những
vấn đề hậu phương gia đình của họ còn nhiều khó khăn... đã ảnh hưởng nhất định đến suy nghĩ

kinh tế thị trường” của PGS, TS Lê Minh Vụ (tạp chí Quốc phòng toàn dân 11/1994); “Tư tưởng
Hồ Chí Minh về con người XHCN và một số suy nghĩ về phẩm chất chính trị đạo đức anh bộ đội
Cụ Hồ trong giai đoạn mới” của GS Trần Xuân Trường (tạp chí Quốc phòng toàn dân, số
2/1995); “Vấn đề lợi ích- động lực to lớn thúc đẩy tính tích cực hoạt động của quân nhân”, TS
Phạm Văn Nhuận (tạp chí GDLL CTQS, số 4/1997); Chử Văn Tuyên “Lợi ích kinh tế của người
lao động và vận dụng nó vào lực lượng vũ trang trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam”,
luận án tiến sĩ quân sự, H.1998; “Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách đãi ngộ đáp ứng yêu
cầu xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng trong tình hình mới”, Nxb QĐND, H.1999; Hội thảo
về các chính sách đối với nhiệm vụ củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội, (Tạp chí QPTD, số
8/1989); Luật nghĩa vụ quân sự; Luật về sỹ quan QĐNDVN...
Những ấn phẩm trên đây đã đề cập đến nhiều vấn đề, dưới các góc độ khác nhau, từ khái
niệm, vai trò, nội dung, phương hướng và giải pháp giải quyết vấn đề lợi ích. Song chưa có công
trình nào tập trung nghiên cứu trực tiếp, có hệ thống dưới góc độ triết học- xã hội với tư cách là một
đề tài độc lập “ Lợi ích quân nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện


nay”. Chính vì vậy, tác giả luận án đã kế thừa những kết quả nghiên cứu khoa học trong và ngoài
nước, đồng thời đặt vấn đề nghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống vấn đề khoa học nói trên.
3.Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án:
Làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn lợi ích quân nhân QĐNDVN trong điều kiện kinh
tế thị trường định hướng XHCN, đồng thời đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm giải quyết đúng
đắn lợi ích đó trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN hiện nay.
Nhiệm vụ của luận án:
Để thực hiện mục đích trên, luận án có nhiệm vụ sau.
- Làm rõ thực chất lợi ích nói chung, lợi ích quân nhân nói riêng và sự tác động
của kinh tế thị trường đến lợi ích quân nhân quân đội ta hiện nay.
- Đánh giá thực trạng giải quyết lợi ích quân nhân và nguyên nhân của nó, rút ra một số
vấn đề có tính quy luật trong quá trình giải quyết lợi ích quân nhân Quân đội ta.
- Phân tích một số giải pháp cơ bản nhằm giải quyết tốt lợi ích quân nhân trong điều kiện

và sự tác động của kinh tế thị trường định hướng XHCN đến lợi ích quân nhân hiện nay.
- Chỉ ra vấn đề có tính quy luật trong quá trình giải quyết lợi ích quân nhân QĐNDVN.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản, đồng bộ phù hợp với đặc thù hoạt động quân sự
trong tình hình mới, nhằm hiện thực hoá vấn đề lợi ích trong quân đội.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu của luận án là một trong những cơ sở khoa học nhằm tiếp tục
khẳng định bản chất ưu việt của CNXH, của quân đội cách mạng và góp phần vào quá trình xây
dựng, hoàn thiện chính sách của Đảng, Nhà nước bảo đảm lợi ích đối với quân nhân và gia đình
hậu phương quân đội hợp lý.
- Góp phần vào việc nâng cao nhận thức đầy đủ và đúng đắn về lợi ích của quân nhân,
về vai trò của nó đối với việc phát huy nhân tố con người và xây dựng quân đội vững mạnh.
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu khoa học; trong giảng dạy
các nội dung có liên quan đến chính sách, công bằng xã hội trong các nhà trường và đơn vị quân
đội hiện nay.
8. Kết cấu của luận án
Luận án có: 183 trang, gồm phần mở đầu, 3 chương (7 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục.
CHƯƠNG 1
LỢI ÍCH QUÂN NHÂN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA ĐẾN LỢI ÍCH QUÂN NHÂN HIỆN NAY
1.1. Lợi ích và lợi ích quân nhân
1.1.1. Khái niệm lợi ích


Trong mọi chế độ xã hội, lợi ích có liên quan đến các thành viên, các cộng đồng người.
Sự tác động của nó biểu hiện rất phong phú, đa dạng trên mọi lĩnh vực của đời sống. Do vậy, lợi
ích là vấn đề cơ bản, xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế- xã hội và sự vận động của lịch sử
xã hội loài người. Lịch sử cho thấy, lợi ích cũng như vô vàn những khái niệm khác đã được loài
người nghiên cứu tiếp cận dưới những góc độ hiểu biết khác nhau.
Lợi ích từ tiếng La tinh Interest, có nghĩa là: sự quan trọng, cần thiết, là nguyên nhân


Phơ-bách quan niệm lợi ích một cách trừu tượng, xem lợi ích là “bản tính” không thay
đổi. Ph.Ăngghen đánh giá quan niệm về lợi ích của Phơbách được đẽo gọt cho phù hợp với mọi
thời gian, mọi dân tộc và mọi hoàn cảnh.
Các nhà không tưởng đã gắn nhu cầu với lợi ích và muốn đặt con người vào “tình thế”
như thế nào để lợi ích cá nhân con người và lợi ích xã hội luôn luôn được kết hợp với nhau.
Xanhximông đã mong muốn dựa vào sự hoàn thiện dần dần của đạo đức con người để thực
hiện kết hợp lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội.
Chủ nghĩa Mác- Lê nin giữ lại những tinh hoa đã thu được từ trước trong việc lý giải lợi
ích nói chung và lợi ích kinh tế nói riêng, đồng thời nhấn mạnh cơ sở khách quan của nó.
Ph.Ăngghen, trong tác phẩm “Vấn đề nhà ở” đã viết: “Những quan hệ kinh tế của một xã hội nhất
định nào đó biểu hiện trước hết dưới hình thức lợi ích”[3, tr. 376]. Còn V.I Lênin lại xác định: “Tìm
nguồn gốc của những hiện tượng xã hội trong những quan hệ sản xuất, và phải quy những hiện
tượng ấy vào lợi ích của những giai cấp nhất định”[35, tr. 670].
Những năm 80 của thế kỷ XX trở lại đây, các nhà lý luận và hoạt động thực tiễn hiện đại đã
tập trung đi sâu nghiên cứu vấn đề lợi ích, đặc biệt là lợi ích kinh tế. Có nhiều công trình khoa học của
các nhà khoa học Liên Xô, ở Việt Nam và một số nước khác đã đề cập đến vấn đề lợi ích rất sôi nổi.
Các tác giả tiếp cận khái niệm lợi ích từ nhiều góc độ: kinh tế học, triết học, xã hội học.v.v.. đã đưa ra
nhiều định nghĩa khác nhau.
Chẳng hạn như K.B.I-xabêkob cho rằng: “Chủ nghĩa Mác hiểu lợi ích như là nhu cầu
khách quan được chế định bởi vị trí xã hội của một cá nhân, một dân tộc, một nhóm xã hội nào
đó”[26, tr. 69]. Hoặc A.Ph.Jax-kê-vích cho rằng lợi ích kinh tế là phạm trù triết học- xã hội học chỉ
quan hệ định hướng khách quan về nội dung của chủ thể đối với việc bảo đảm những điều kiện
tồn tại, hoạt động và phát triển của mình. Hay D.U.Xê-ra-ép cho rằng lợi ích kinh tế là trạng thái
quy định hoạt động, phản ánh nhận thức của chủ thể và được xác định bởi môi trường xã hội, là
khả năng và mục đích hoạt động của chủ thể theo sự thoả mãn của nhu cầu cá nhân và xã hội.
Lợi ích xuất hiện trong quá trình hoạt động của cá nhân, nhóm, giai cấp với tư cách là mặt
cơ bản của hoạt động thực tiễn[26, tr. 69].
Ở Việt Nam, nhiều công trình liên quan đế vấn đề lợi ích được công bố. Có tác giả cho
rằng lợi ích là một hiện tượng xã hội, tuy nó gắn bó hết sức chặt chẽ với nhu cầu nhưng không

thuộc vào trạng thái cơ thể và sự tác động qua lại với điều kiện khách quan. Tuy nhiên, trước sau
nhu cầu vẫn là một sức mạnh thúc đẩy con người hoạt động. Phương tiện để thoã mãn nhu cầu
là lợi ích, cho nên, lợi ích quyết định hành vi, quyết định hoạt động của con người”[10, tr. 12].
Trong Từ điển tiếng Việt Nxb Giáo dục, Hà Nội 1994 viết: “Lợi ích là điều có ích, có lợi
cho một tập thể người nhất định hay cho một cá nhân trong đó, trong mối quan hệ với tập thể
người ấy (nói khái quát) đặt lợi ích của dân tộc lên trên, quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích
riêng, lợi ích cá nhân, lợi ích vật chất, bàn bạc để thấy rõ lợi ích công việc đang làm”[91, tr. 556].
Hay trong từ điển triết học nêu rõ: “Lợi ích là khái niệm nói lên đặc điểm của cái có ý nghĩa khách
quan, cần thiết cho cá nhân, gia đình, tập thể giai cấp, dân tộc, xã hội nói chung”[92, tr. 662].
Bằng những cách tiếp cận khác nhau đã có nhiều định nghĩa về lợi ích. Tuy vậy, để hiểu
một cách đầy đủ về khái niệm lợi ích, cần hiểu rõ một số vấn đề có liên quan sau đây:
Một là, lợi ích chỉ tồn tại trong đời sống xã hội và luôn gắn với chủ thể nhất định, các chủ
thể này có thể là cá nhân riêng lẻ, cũng có thể là các nhóm xã hội hay cộng đồng xã hội. Lợi ích
không phải là sản phẩm của ý thức cá nhân, mà là sản phẩm của những điều kiện khách quan
quy định phương hướng thích hợp của ý chí và hành động của con người. Lợi ích là cái thiết
thực vốn có trong nhu cầu cuộc sống của con người, là đòi hỏi khách quan của con người trong


những điều kiện thích hợp. Đồng thời lợi ích là cái do những nỗ lực chủ quan và điều kiện khách
quan mang lại tương xứng với khả năng, sự cống hiến của cá nhân, giai cấp, tập đoàn xã hội,
bao gồm cả vật chất và tinh thần. Xét cho cùng, lợi ích là phương tiện tối ưu mà chủ thể lựa chọn
nhằm đáp ứng nhu cầu của mình, chủ thể giành lấy chúng và sử dụng chúng tạo ra những điều
kiện tốt nhất để thực hiện các nhu cầu của bản thân.
Hai là, sự hình thành lợi ích bắt nguồn từ nhu cầu cuộc sống của con người. Nhưng con
người luôn là chủ thể của tiến trình lịch sử. Hoạt động của con người bao giờ cũng theo đuổi
những mục đích nhất định, chính thông qua mục đích ấy mà hướng sự hoạt động của con người
nhằm thoả mãn những đòi hỏi nhất định trong quá trình tồn tại và phát triển của mình[31, tr. 17].
Song, nhân tố trực tiếp tạo nên mục đích hoạt động của con người- chính là nhu cầu. Nhu cầu là
trạng thái đòi hỏi bên trong của chủ thể muốn có những điều kiện nhất định để tồn tại và phát triển
[31, tr. 19]. Nhu cầu nảy sinh do kết quả tác động qua lại của hoàn cảnh bên ngoài với trạng thái riêng

nhân và lao động quân sự.
Quân nhân là công dân đang phục vụ trong quân đội gồm sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ
và quân nhân chuyên nghiệp trong QĐNDVN. Ngoài nghĩa vụ, quyền lợi theo luật nghĩa vụ
quân sự, luật về sĩ quan QĐNDVN và các điều lệnh, điều lệ của quân đội, quân nhân còn có
nghĩa vụ và quyền lợi của công dân quy định trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Chức trách của quân nhân được quy định trong điều lệnh quản lý bộ đội [93,
tr. 675]. Họ là những người trực tiếp làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ.
Quân nhân trong QĐNDVN với tư cách là một tầng lớp xã hội đặc thù, một nhóm xã hội lớn
trong bức tranh cơ cấu xã hội- giai cấp ở nước ta. Quân nhân được phân định thành: nhóm sĩ quan;
nhóm hạ sĩ quan, chiến sĩ; nhóm quân nhân chuyên nghiệp. Quân nhân có mặt ở các quân chủng,
binh chủng, quân khu, quân đoàn; có cả trong lực lượng bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương.
Đội ngũ sĩ quan QĐNDVN là cán bộ của Đảng và Nhà nước đang phục vụ trong quân
đội, được Quốc hội, Chính phủ phong quân hàm cấp tướng, cấp tá và cấp uý.
Đội ngũ hạ sĩ quan, chiến sĩ là những quân nhân có quân hàm binh nhì, binh nhất, hạ sỹ,
trung sỹ, thượng sỹ. Họ là những thanh niên trong độ tuổi quy định, làm nghĩa vụ quân sự theo
luật định.
Đội ngũ quân nhân chuyên nghiệp là những quân nhân có trình độ chuyên môn kỹ thuật,
nghiệp vụ cần thiết cho công tác chỉ huy, chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu của quân đội, tự
nguyện phục vụ tại ngũ dài hạn hoặc từng thời hạn. Được chia theo trình độ đào tạo: sơ cấp,
trung cấp, cao cấp; được bố trí vào các chức danh theo quy định của Bộ Quốc phòng. Phù hiệu, cấp
hiệu, chế độ phục vụ, nghĩa vụ và quyền lợi của quân nhân chuyên nghiệp được quy định trong luật
nghĩa vụ quân sự, điều lệ Quân nhân chuyên nghiệp (ban hành kèm theo nghị định 238-HĐBT 3/8/1991
và các văn bản quy định khác [93, tr.675].
Cùng với sự trưởng thành, lớn mạnh của quân đội, đội ngũ quân nhân cũng phát triển và
lớn mạnh về mọi mặt nhằm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của quân đội, đáp ứng phương
hướng xây dựng quân đội trong từng thời kỳ cách mạng.
Lao động quân sự là lao động đặc biệt chịu sự chi phối, tác động trực tiếp của quy luật
quân sự- đấu tranh vũ trang, không những trong chiến tranh mà ngay cả trong thời bình, hầu như
mọi mặt hoạt động, cuộc sống, sinh hoạt, trạng thái, tâm lý, tình cảm gia đình của quân nhân đều
phải tuân theo quy luật đó. Dưới tác động của quy luật quân sự quốc phòng, lao động quân sự

Chủ nghĩa Mác- Lê nin đã xác định, con người vừa là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là
chủ thể của mọi tiến trình lịch sử. Hoạt động của con người bao giờ cũng là hoạt động tích cực
cải tạo tự nhiên và xã hội để phục vụ mục đích của con người. Trong lĩnh vực quân sự, hoạt
động của người quân nhân cũng không tách khỏi quy luật chung ấy, “Hoạt động thực tiễn đặc
trưng cơ bản nhất của quân nhân là huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu”[90, tr. 120].
Đó cũng là một hoạt động trong xã hội, nhưng thể hiện rất đặc thù khác với các hoạt động khác
trong xã hội. Chính bằng hoạt động ấy vừa duy trì sự tồn tại, phát triển của bản thân, vừa góp
phần tạo nên sự vận động, phát triển của lịch sử xã hội. QĐNDVN do Đảng cộng sản Việt Nam
trực tiếp lãnh đạo, là quân đội của dân, do dân và vì dân. Mỗi quân nhân đều là con em của giai
cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức và các tầng lớp khác trong chế độ XHCN. Vì
thế, mục tiêu lý tưởng chiến đấu của quân nhân thống nhất với mục tiêu lý tưởng cách mạng của
Đảng, Nhà nước và nhân dân. Mọi quyền lợi, nghĩa vụ, lợi ích của quân nhân thống nhất với lợi


ích của giai cấp công nhân, của dân tộc, là một bộ phận không tách rời cuộc sống của đất nước.
Do đó, hoạt động của người quân nhân bao giờ cũng theo một hướng đã định trước, nhằm bảo
vệ vững chắc Tổ quốc XHCN và sự nghiệp đổi mới xây dựng CNXH. Mục đích hoạt động ấy còn
nhằm thoả mãn những nhu cầu về vật chất và tinh thần đối với bản thân và gia đình họ.
Chính nhu cầu là một trong những khâu trung gian quan trọng nhất, đầu tiên trong chuỗi
nhân quả từ hoàn cảnh kinh tế đến mục đích, tức là đến động cơ tư tưởng trực tiếp thúc đẩy con
người hành động. Nhu cầu của quân nhân cũng như nhu cầu của con người nói chung rất đa
dạng, phong phú: như nhu cầu ăn, ở, mặc, nhu cầu văn hoá- tinh thần, nhu cầu duy trì sự tồn tại
và phát triển của cả loài người... Những nhu cầu ấy nảy sinh trước hết do tác động của điều kiện
hoàn cảnh bên ngoài, điều kiện kinh tế- xã hội, trong đó quan trọng nhất là do điều kiện hoạt động
quân sự quy định. Nhu cầu của quân nhân khi đã hình thành, nó sẽ trở thành động lực mạnh mẽ
thôi thúc tính tích cực của họ, nhằm tìm cách thoả mãn nhu cầu. Cái thoả mãn nhu cầu ấy chính
là lợi ích của quân nhân. Cho nên, cần phải nghiên cứu, tìm lợi ích của quân nhân trong các mối
quan hệ giữa nhu cầu của quân nhân với các điều kiện tồn tại, phát triển của kinh tế- xã hội và điều
kiện hoạt động quân sự. Qua đó có thể khẳng định rằng: lợi ích của quân nhân xuất phát từ nhu
cầu của hoạt động quân sự, khi lợi ích được xác lập và được nhận thức thì trở thành mục tiêu

của xã hội.
Trong QĐNDVN, mọi hành động của quân nhân đều được thúc đẩy và chi phối bởi
những động lực chính: lợi ích vật chất và lợi ích chính trị- tinh thần. Trước đây, quân đội ta đã
phát huy cao độ động lực chính trị- tinh thần vào thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu chống giặc
trên chiến trường. Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, quân đội ta vẫn phát
huy mạnh mẽ động lực chính trị- tinh thần trong điều kiện mới. Tuy nhiên, động lực chính trị- tinh
thần chỉ có thể được duy trì, nuôi dưỡng lâu dài, được phát huy cao độ nếu nó được kết hợp với
sự phát huy đúng đắn lợi ích vật chất của quân nhân. Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay: “Quân
đội ta luôn luôn đặt việc xây dựng vững mạnh về chính trị là nguyên tắc cơ bản, quan trọng
hàng đầu, làm cơ sở cho các mặt xây dựng khác”[71, tr. 9]. Nhưng cần bảo đảm đầy đủ lợi
ích vật chất của quân nhân.
Lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần gắn bó mật thiết trong sự hình thành, phát triển của
quân nhân. Các lợi ích vật chất đáp ứng nhu cầu vật chất của quân nhân và gia đình họ. Lợi ích
vật chất của quân nhân bao hàm nội dung rất rộng: như việc bảo đảm ăn, ở, mặc, phương tiện đi
lại, thao trường, bãi tập, vật chất bảo đảm cho huấn luyện, chiến đấu; chế độ tiền lương, phụ
cấp; chế độ bảo hiểm xã hội, y tế; nhu cầu lương thực, thực phẩm; bảo đảm cuộc sống cho gia
đình hậu phương quân nhân... Các lợi ích tinh thần hướng vào xây dựng động cơ lý tưởng, niềm
tin và nhân cách quân nhân, xây dựng đời sống văn hoá tinh thần lành mạnh. Nội dung các lợi
ích tinh thần của quân nhân cũng rất đa dạng và phong phú như sự giác ngộ mục tiêu lý tưởng
cách mạng; lòng yêu nước, yêu CNXH; niềm tin vào sự nghiệp đổi mới; lòng trung thành tuyệt
đối với Đảng, Nhà nước XHCN; tinh thần dũng cảm trong thực hiện nhiệm vụ; được động viên,
thi đua, khen thưởng; thực hiện công bằng xã hội, phát huy dân chủ, xây dựng đời sống văn hoá
tinh thần văn minh, tiến bộ trong quân đội...
Tuy nhiên, trong QĐNDVN, từ người chiến sỹ đến cán bộ cao cấp sống không thể thiếu
được lợi ích vật chất kinh tế và lợi ích tinh thần. Song nếu chỉ chú ý đến lợi ích vật chất, hay lợi
ích tinh thần hoặc tách rời chúng đều không phù hợp, mà phải luôn kết hợp hài hoà giữa lợi ích
vật chất và lợi ích tinh thần, trong đó lợi ích tinh thần (động lực chính trị- tinh thần) giữ vai trò chủ
đạo.
Lợi ích chính trị- tinh thần với sức mạnh to lớn của nó, chỉ có thể được phát huy cao độ
trong các cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng đất nước, bảo vệ Tổ quốc XHCN dưới sự lãnh

đấu bảo vệ Tổ quốc, chúng ta phải tạo ra một động lực lợi ích vật chất mới, phù hợp với điều
kiện kinh tế- xã hội để nâng cao tính tích cực chính trị- tinh thần của quân nhân. Việc kết hợp và
phát huy động lực lợi ích chính trị- tinh thần và động lực lợi ích vật chất của quân nhân là trách
nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, là nhiệm vụ của các cấp, các ngành trong và
ngoài quân đội, trên cơ sở nhận thức đúng đắn quan điểm của Đảng về xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc trong điều kiện mới. Việc kết hợp hài hoà giữa lợi ích vật chất và lợi ích chính trị- tinh thần,
trong đó lợi ích chính trị- tinh thần giữ vai trò chủ đạo là vấn đề rất cơ bản, là nét đặc thù của lợi
ích quân nhân. “Động lực trực tiếp của hoạt động, trước hết là sự giác ngộ về nghĩa vụ thiêng
liêng bảo vệ Tổ quốc, vì lợi ích cao nhất của nhân dân”[29, tr.15], và “Động lực chủ đạo chi phối


hoạt động của người quân nhân cách mạng phải là động lực chính trị- tinh thần, là động lực tinh
thần trên cơ sở sự giác ngộ chính trị về mục tiêu, lý tưởng đấu tranh cho độc lập dân tộc và
CNXH, là lòng yêu nước, yêu nhân dân, yêu chế độ”[86, tr.5].
Thực tiễn trong chiến tranh và trong hoà bình xây dựng CNXH, không phải chỉ có sự
động viên tinh thần mà chúng ta đã vận dụng vào các chính sách đãi ngộ vật chất ở quy mô quốc
gia: chính sách đi B, C, K... chính sách với những người có công với cách mạng; chính sách ưu
đãi bậc lương quân đội so với dân sự... với các quy định khá tỉ mỉ để bảo đảm quyền lợi thực tế
của quân nhân cũng như gia đình họ và từng bước thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện
cho phép.
Ba là, sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, trong đó luôn đặt lợi ích
chung của Tổ quốc, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân
Một trong những vấn đề rất quan trọng là giải quyết hài hoà giữa lợi ích chung và lợi ích
riêng, đây vừa là một động lực để phát triển đất nước, vừa là yếu tố quan trọng phát huy tính tích
cực của quân nhân. Đại hội IX Đảng ta đã xác định: “Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là
đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh
đạo, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực
của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội”[22, tr. 86].
Khi đề cập đến mối quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, chủ nghĩa Mác- Lê nin đã
chỉ rõ, lợi ích chỉ tồn tại trong đời sống xã hội và luôn gắn liền với các chủ thể nhất định. Các chủ

lợi ích riêng và lợi ích chung về cơ bản là thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau, làm điều kiện
cho nhau. Lợi ích chung có đạt được mới bảo đảm cho lợi ích cá nhân được thoả mãn. Ngược
lại, có thoả mãn lợi ích riêng của cá nhân mới động viên được tinh thần, phát huy được khả năng,
sở trường của từng cá nhân, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển lợi ích chung. Giải quyết mối quan
hệ đó như thế nào cho phù hợp vừa là vấn đề đạo đức cách mạng, vừa là nghệ thuật lãnh đạo. Do
vậy, trong chỉ đạo hoạt động thực tiễn, nếu tách rời hay đề cao quá mức lợi ích nào đó sẽ sa vào xu
hướng tả khuynh hay hữu khuynh.
Trong các cuộc kháng chiến giải phóng đất nước và bảo vệ Tổ quốc XHCN, trước sự tồn
vong của Tổ quốc, của dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân và quân đội ta luôn sẵn
sàng đặt lợi ích của cá nhân mình dưới lợi ích của dân tộc. Bởi lẽ, có giành độc lập cho dân tộc
mới có điều kiện thoả mãn lợi ích của cá nhân, lợi ích riêng. Trong xây dựng CNXH, với mục đích
là thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất, văn hoá và sự phát triển tự do của mọi thành viên
trong xã hội, cần và có điều kiện thoả mãn lợi ích cá nhân của mọi người một cách trực tiếp vẫn
không xa rời nguyên tắc: có xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN, thì lợi
ích riêng của cá nhân mới có thể thực hiện được. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Lợi ích của Nhà nước và
lợi ích riêng của người dân là nhất trí, quyền lợi và nghĩa vụ của công dân là nhất trí, đã là người chủ
của nước nhà là phải phụ trách đối với Tổ quốc”[51, tr.20].
Quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở mọi người rằng:
“Lợi ích cá nhân nằm trong lợi ích tập thể, là một bộ phận của lợi ích tập thể. Lợi ích chung của
tập thể được bảo đảm thì lợi ích riêng của cá nhân mới có điều kiện được thoả mãn” và “lợi ích
của cá nhân gắn bó với lợi ích của tập thể. Nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể thì
đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích tập thể” [52, tr.291292]. Đây là những quan điểm tư tưởng cơ bản xác định vị trí, mối quan hệ giữa lợi ích chung và
lợi ích riêng. Đó là cách ứng xử hợp đạo lý làm người của mỗi thành viên trong cộng đồng xã hội
mới XHCN- xã hội mà “mọi người mới có điều kiện để cải thiện đời sống riêng của mình, phát
huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình”[52, tr. 291]. Tư tưởng trên của Chủ tịch Hồ Chí


Minh có giá trị chỉ đạo trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay,
đó là cơ sở để mỗi cán bộ, chiến sỹ quân đội ghi nhớ, kết hợp hài hoà giữa lợi ích chung và lợi
ích riêng cho phù hợp.

nhân xuất hiện tư tưởng được mất, tính toán thiệt hơn. Nguy hại nhất là có những quân nhân
thoái hoá biến chất, lợi dụng lợi ích chung để đục khoét, làm thất thoát tài sản của xã hội và của
quân đội, xâm phạm và làm tổn hại đến lợi ích quân nhân. Vì vậy, kết hợp hài hoà lợi ích chung
và lợi ích riêng bao giờ cũng phải đặt lợi ích chung lên trên, phải nghiêm khắc chống chủ nghĩa


cá nhân, tham ô, tham nhũng... Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn cán bộ, đảng viên luôn
phải “đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích của cá nhân
mình”[52, tr. 285]. Vì “Đảng ta là một tập thể chặt chẽ không dung thứ chủ nghĩa cá nhân mà sinh ra
nhiều chứng xấu... phải nghiêm khắc chống chủ nghĩa cá nhân như tự tư, tự lợi, tự kiêu, tự mãn...
phải chống tham ô lãng phí và bệnh quan liêu”[54, tr. 556].
Phẩm chất đạo đức XHCN của “Bộ đội Cụ Hồ” trong giai đoạn cách mạng mới tuy có sự
phát triển nhất định trong mối quan hệ giữa cá nhân, tập thể và xã hội, nhưng luôn phải lấy tinh
thần tập thể như lời Bác Hồ dạy làm nền tảng. Chúng ta chủ trương kết hợp hài hoà các lợi ích,
tuy nhiên kết hợp hài hoà chứ không phải điều hoà làm cho lợi ích được cào bằng nhau. Vì thế, Đảng
ta xác định: “Kết hợp động lực kinh tế với động lực tinh thần, thực hiện hài hoà lợi ích cá nhân, tập thể
và xã hội”[20, tr.61].
Đối với quân nhân thì sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích chung và lợi ích riêng (cá nhân)
luôn phải theo hướng đặt lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc lên cao hơn lợi ích riêng, có như vậy
mới bảo đảm cho quân đội có sức mạnh và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ trong mọi tình
huống. Bác Hồ đã dạy: “Vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và
của loài người không ngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình”[53, tr. 284]. Trong
hệ thống các lợi ích của quân nhân, đòi hỏi phải giải quyết đúng đắn lợi ích chung và lợi ích
riêng; trong mọi công việc phải kết hợp hài hoà các lợi ích đó và khi có sự xung đột lợi ích thì
không một chút do dự đặt lợi ích cá nhân xuống dưới và phục tùng lợi ích tập thể, lợi ích xã hội.
Thực tiễn quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội đã chứng minh rõ nét về
sự kết hợp hài hoà lợi ích chung và lợi ích riêng. Đã có biết bao cán bộ, chiến sỹ hy sinh lợi ích cá
nhân vì tương lai của Tổ quốc. Nhiều chiến sỹ tuy tuổi đời còn rất trẻ, trước và trong chiến đấu đã
từng nói: “Nếu chúng em không cầm theo cái chết, thì chúng em đã không có mặt ở đây. Nếu chúng
em chỉ tính cái sống chúng em đã tìm cách ở nhà”. Người lính đã nói cái điều đặc biệt ấy hiển nhiên

chiến sỹ quân đội, những lợi ích trước mắt được phát huy trong một thời gian nhất định và bao
giờ cũng thôi thúc họ hành động ngay nhằm đạt được nó. Còn lợi ích lâu dài lại được xem là
những lợi ích hướng tới nhằm đáp ứng không chỉ một, mà cả hệ thống nhu cầu của người quân
nhân và của quân đội trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, gắn với sự phát
triển của lịch sử xã hội.
Xem xét quan hệ lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của quân nhân, là xem xét những lợi
ích có chung một nội dung, xu hướng, nằm trên cùng một tuyến chứ không phải xem xét quan hệ
giữa các lợi ích bất kỳ không gắn kết với nhau của quân nhân và quân đội ta. Như vậy, lợi ích
trước mắt trực tiếp tham gia duy trì sự tồn tại và phát triển hiện tại của quân nhân và quân đội,
còn lợi ích lâu dài được xem là các lợi ích hướng vào cả quá trình trưởng thành của quân đội ta.
Sự vận động của xã hội cũng như cuộc đời mỗi con người và của mỗi quân nhân trong
quân đội là một quá trình liên tục. Quá trình ấy được tạo lập bởi các giai đoạn kế tiếp nhau không
ngừng. Quan hệ lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài cũng biểu hiện trong mối quan hệ ấy. Đó là quá
trình liên tục và đứt đoạn, nó được thiết lập bởi các giai đoạn cụ thể. Các giai đoạn cụ thể được quy
định và định hướng bởi quá trình như là mục đích cuối cùng. Nghĩa là, thực hiện các lợi ích hiện tại
trước mắt chính là từng bước thực hiện các lợi ích lâu dài.
Dĩ nhiên, mối quan hệ giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài không phải bao giờ cũng
được biểu hiện một cách suôn sẻ, theo một con đường thẳng tắp. Vì vậy, lúc nào cũng đòi hỏi
người quân nhân phải giải quyết, xử lý chúng hết sức linh hoạt, tránh máy móc, cứng nhắc dễ
làm ảnh hưởng đến sức mạnh của quân đội, của đất nước. Lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài
luôn quan hệ biện chứng với nhau, việc thực hiện các lợi ích trước mắt là tiền đề để thực hiện
các lợi ích lâu dài. Và, khi thực hiện các lợi ích lâu dài đã hoàn tất thì lại bắt đầu nảy sinh các


như cầu mới, do đó lại xuất hiện các lợi ích mới, trong đó có lợi ích trước mắt. Cứ thế, một giai
đoạn mới, một quá trình trưởng thành, phát triển của quân nhân và quân đội lại xuất hiện. Xem
xét, giải quyết đúng đắn lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài là tiếp cận chúng chỉ ở khía cạnh thời
gian tồn tại, nhưng thời gian tồn tại chỉ là phương diện của lợi ích. Ngoài thời gian tồn tại, lợi ích còn
nhiều phương diện khác. Chẳng hạn, cùng một lợi ích, nếu xem xét theo lĩnh vực xã hội, ta có thể xác
định đó là lợi ích vật chất hay lợi ích tinh thần, hoặc theo tính chất thì đó có thể là lợi ích chung hay lợi

ích trước mắt và lợi ích lâu dài trong cuộc sống cũng như trong hoạt động.
Việc giải quyết đúng đắn quan hệ lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài trong xây dựng
CNXH nói chung, xây dựng quân đội nói riêng đang đặt ra hết sức cấp thiết. Nếu không nhạy
cảm xử lý đúng đắn mối quan hệ này, sẽ khó kiểm soát và làm chủ được các xu hướng vận động
hết sức mạnh mẽ và mau lẹ hiện nay. Dù thế nào đi chăng nữa, Đảng, Nhà nước, quân đội cần
phải có chiến lược phát triển bền vững; nghĩa là ưu tiên thực hiện các lợi ích trước mắt, nhằm kích
thích khai thác mọi tiềm năng và nguồn lực, cần sớm có chiến lược lâu dài cho việc thực hiện các lợi
ích lâu dài nhằm phát triển đất nước và phát triển quân đội trong tình hình mới.
Năm là, sự thống nhất chặt chẽ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ.
Trong sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XNCH, cũng như trong xây dựng
quân đội “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại”, đòi hỏi phải phát huy cao độ
tính tích cực sáng tạo của quần chúng nhân dân lao động và của cán bộ, chiến sỹ quân đội. Một
trong những vấn đề hết sức quan trọng trong lợi ích quân nhân là phản ánh sự thống nhất giữa
nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ.
Quân nhân QĐNDVN là công dân nước cộng hoà XHCN Việt Nam phục vụ trực tiếp
trong quân đội, là những người được nhân dân giao nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN,
có quyền và nghĩa vụ như các công dân khác trong xã hội[23]. Quyền và nghĩa vụ luôn thống
nhất chặt chẽ với nhau trong quá trình hoạt động của quân nhân.
Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quân nhân là những quyền, nghĩa vụ được
Nhà nước quy định trong Hiến pháp. Những quyền và nghĩa vụ này được Hiến pháp quy định
cho tất cả mọi công dân. Những quyền này thường xuất phát từ quyền con người: “Được sống,
được tự do, được mưu cầu hạnh phúc, không ai có thể xâm phạm”. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân là cơ sở chủ yếu xác định địa vị pháp lý của công dân, là cơ sở cho mọi quyền và nghĩa
vụ cụ thể của mỗi công dân” [27, tr. 109]. Khi quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân,
Nhà nước ta đã luôn tuân theo những nguyên tắc xuất phát từ quyền con người trong các lĩnh
vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Các quyền của con người được pháp luật thừa nhận đối
với cá nhân không ai được xâm phạm.
Các quyền con người lần đầu tiên được ghi nhận trong tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm
1776, hay bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền nổi tiếng của Pháp năm 1791: “Người ta
sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

quyền lợi đó cho điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước. Bên cạnh việc ghi nhận quyền lợi kể cả quy
định trách nhiệm cho quân nhân, nhà nước phải tạo điều kiện bảo đảm cho những quyền đó được
thực hiện.
Quyền và nghĩa vụ cơ bản của quân nhân rất đa dạng, toàn diện trên các lĩnh vực của
dời sống xã hội: các quyền về chính trị, về kinh tế, văn hoá, xã hội, các quyền về tự do cá nhân.
Trong số những quyền cơ bản của quân nhân, không ít vấn đề vừa là quyền, đồng thời là nghĩa
vụ cơ bản, hoặc việc hưởng quyền lợi cơ bản thường kèm theo trách nhiệm phải gánh vác nghĩa
vụ. Tuy nhiên có rất nhiều nghĩa vụ chỉ đơn thuần là nghĩa vụ mà mỗi quân nhân đều phải thực
hiện như: bảo vệ Tổ quốc, tôn trọng hiến pháp, tuân theo pháp luật và nghĩa vụ quân sự, bảo vệ
an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, giữ bí mật quốc gia, chấp hành những quy tắc sinh
hoạt công cộng.v.v..
Thực tiễn quá trình xây dựng CNXH ở nước ta đã chứng minh sự thống nhất về quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong đó có quân nhân, mọi người được hưởng quyền lợi tất
yếu phải có nghĩa vụ với Tổ quốc. Tuỳ theo điều kiện lịch sử cụ thể mà giải quyết vấn đề này thế


nào cho phù hợp. Trong chiến tranh, quyền lợi của cá nhân thường phục tùng quyền lợi tập thể,
quyền lợi tối cao của cả dân tộc. Trong cuộc chiến đấu gay go, phức tạp chống thù trong, giặc
ngoài, chủ nghĩa anh hùng cách mạng thể hiện trước hết ở sự tự giác hy sinh của mỗi cá nhân vì
thắng lợi chung của Tổ quốc. Song, do chiến tranh kéo dài, nên một số cán bộ vẫn tồn tại tư duy
chỉ nghĩ đến nghĩa vụ của người dân hơn là nghĩ đến quyền lợi của họ. Thêm vào đó quá trình
đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân có người coi chủ nghĩa cá nhân và quyền lợi cá nhân là một.
Quan niệm và thái độ không đúng đối với quyền lợi cá nhân chính đáng đã hạn chế tính chủ
động sáng tạo của công dân [74, tr. 86]. Quyền lợi cá nhân chính đáng không mâu thuẫn với
CNXH. Để thoả mãn quyền lợi cá nhân cần phải phát triển CNXH ở mức cao hơn. Quan điểm
của chúng ta về quyền lợi cá nhân vẫn còn bao hàm ý nghĩa không chấp nhận chủ nghĩa cá
nhân và tính ích kỷ. Mọi biểu hiện tiêu cực của chủ nghĩa cá nhân, lợi dụng chức quyền chỉ chăm
lo, thu vén cá nhân làm giàu bất chính, lơ là trong thực hiện nghĩa vụ, thậm chí không quan tâm
đến nghĩa vụ .v.v.. đều trái với quan điểm, đường lối, pháp luật của Đảng, Nhà nước và đi ngược
lại với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, với lợi ích của nhân dân.

cũng phải luôn xác định rõ, trong quyền lợi tối cao của Tổ quốc, của dân tộc, đã có quyền lợi của
bản thân và gia đình họ rồi.
Quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ luôn gắn bó mật thiết với nhau trong lợi
ích quân nhân. Giải quyết nó phù hợp hay không phù hợp với tính chất hoạt động quân sự, sẽ có
tác động tích cực hay tiêu cực đến tính tích cực của quân nhân quân đội. Từ những đặc trưng
cơ bản trên đây có thể khẳng định rằng: Lợi ích quân nhân thực chất là một bộ phận lợi ích
của giai cấp công nhân, thống nhất với lợi ích dân tộc, Tổ quốc và phù hợp với hoạt động
quân sự.
1.1.3. Vai trò của lợi ích với phát huy tính tích cực của quân nhân và xây dựng
quân đội ta hiện nay
Trong xây dựng CNXH, xây dựng quân đội, lợi ích có vai trò to lớn, là tác nhân kích thích
trực tiếp tính tích cực hoạt động của con người, tạo nên động lực to lớn trong cách mạng XHCN,
trong xây dựng Quân đội vững mạnh toàn diện. Đúng như Đảng ta đã xác định: “Chúng ta thấy
rõ, trong điều kiện xây dựng CNXH, động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy hoạt động tích cực, sáng
tạo của nhân dân lao động vẫn là lợi ích thiết thân của họ và kết hợp hài hoà các lợi ích, thống
nhất giữa nghĩa vụ và quyền lợi của công dân”[18]. Vì vậy, để phát huy nhân tố con người và xây
dựng quân đội ngày càng vững mạnh, cần có sự tác động tổng hợp của nhiều mặt, nhiều yếu tố,
trong đó, giải quyết lợi ích có vai trò là động lực trực tiếp, mạnh mẽ và hết sức quan trọng. Vai trò
đó thể hiện nổi bật trên một số phương diện sau đây.
- Lợi ích là yếu tố trực tiếp chuyển hoá những đòi hỏi khách quan thành động cơ lý tưởng
của quân nhân trong quân đội, là chất keo liên kết quân nhân thành một khối đoàn kết, thống
nhất trong hành động.
Hoạt động của con người nói chung và của quân nhân nói riêng đều bắt nguồn từ nhu cầu và lợi
ích nhất định. Đó là hoạt động mang tính tích cực và sáng tạo, nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và phục vụ
cuộc sống con người.
Tính tích cực của con người nói chung và quân nhân nói riêng là đem mọi khả năng,
nhiệt tình, sự sáng tạo của họ nhằm mang lại kết quả cao nhất trong nhận thức và hành động
dựa trên những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội nhất định, góp phần thúc đẩy sự phát triển của
xã hội, quân đội. Nhưng tính tích cực của con người chỉ trở thành động lực của sự phát triển xã
hội khi nó được hướng theo quỹ đạo phát triển khách quan, khi niềm tin, ý chí, nghị lực, óc sáng

Quân nhân QĐNDVN luôn cố gắng vươn lên vì lý tưởng cao cả độc lập dân tộc và
CNXH, vượt qua khó khăn, vượt lên chính mình vươn tới cái cao thượng, nhu cầu muốn sống tốt
hơn, cao đẹp, văn minh hơn, tự do và hạnh phúc hơn.v.v. đã thôi thúc họ hành động. Đó chính là
những hành động mang tính tích cực, cách mạng và tiến bộ lịch sử. Nguồn sức mạnh ấy được
tạo nên bởi khát vọng về lợi ích. Khi khát vọng ấy trở thành tình cảm và lý trí, lương tâm và danh dự
của người lính, đó chính là những động cơ, lý tưởng cách mạng. Lý tưởng bao giờ cũng mang tính xã
hội và không thể dễ dàng vứt bỏ. C.Mác viết: “Tư tưởng chiếm lĩnh ý nghĩ của chúng ta, bắt lòng tin
tưởng của chúng ta phải phục tùng và được lý trí cột chặt lương tâm của chúng ta vào chúng- đó là sợi
dây ràng buộc mà người ta không thể bứt ra được nếu không xé nát trái tim của mình”[44, tr. 173].
Lý tưởng cách mạng theo C.Mác là lợi ích chân chính của con người trong quan niệm
của thời đại đó. Người ta đấu tranh chính là để thoả mãn những nhu cầu, lợi ích và do đấy cũng


chính là hiện thực hoá lý tưởng. Một chân lý hết sức giản dị là mỗi con người nói chung, người
quân nhân nói riêng trước hết phải có khả năng sống đã rồi mới làm ra lịch sử. Lợi ích là động
lực thôi thúc hành động tích cực của quân nhân, tập thể quân nhân. Thông qua đó, họ nhận thức
và vận dụng sáng tạo các quy luật xã hội, các quy luật trong quân sự vào lĩnh vực hoạt động đặc
thù quân sự nhằm đạt được kết quả cao nhất, giảm bớt sự hao phí của cải vật chất và sự hy sinh
của quân nhân. Hiện nay, mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH vừa là tiền đề tiên quyết để hiện
thực hoá lý tưởng, vừa là điều kiện hiện thực hoá lợi ích quân nhân. Vì lý tưởng và lợi ích cao
cả, chính đáng ấy mà đã có biết bao cán bộ, chiến sỹ quân đội ta không ngại hy sinh, hiến dâng
tất cả đời mình cho sự nghiệp cách mạng.
Trong sự nghiệp đổi mới xây dựng CNXH và xây dựng quân đội, giải quyết tốt lợi ích
ngày càng trở nên quan trọng, bởi có sự thống nhất vững chắc giữa lợi ích chung và lợi ích
riêng, lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần. Cơ sở của sự thống nhất đó bắt nguồn từ sự thống nhất
lợi ích của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam, tiếp tục được củng cố, phát triển lên một chất lượng
mới, phù hợp với bản chất chế độ chính trị- xã hội mới. Sự thống nhất đó còn là cơ sở chính trị- xã
hội bảo đảm sự gắn bó với lợi ích cơ bản giữa các quân nhân, giữa cán bộ với chiến sỹ, giữa quân
đội với nhân dân tạo thành nền tảng, động lực to lớn thúc đẩy quân nhân hành động cùng toàn dân
tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status