TIỂU LUẬN:
Báo cáo quá trình hình thành và
phát triển của công ty vải sợi
Nghĩa hưng
Phần I : Tổng quan về Công ty vải sợi Nghĩa Hưng.
I. Vài nét về quá trình hình thành và phát triển của công ty vải sợi Nghĩa
hưng.
1. Quá trình hình thành.
Công ty vải sợi Nghĩa Hưng là một công ty mang tính chất và đặc điểm của
công ty trách nhiệm hữu hạn - Giám đốc công ty là người làm thương nghiệp, buôn
bán các loại bông, vải, sợi của ngành dệt. Sau thấy phế liệu của các công ty dệt bỏ đi
lãng phí, ông đã có ý tưởng thành lập một cơ sở sản xuất để chế biến, tận dụng các
nguyên liệu đó
Năm 2000
Năm 2001
Năm 2002
1
T
ổng doanh thu
54.275
66.586
144.040
2 Doanh thu bán sản phẩm 15.276
20.702
27.396
3 Sản lượng (tấn/năm) 1.180
1.800
2.160
Tổng giám đốc
p.tổng g.đốc
đ/h kinh doanh
p.tổng g.đốc
đ/h sản xuất
Phòng
lý kho Phòng
bảo
vệ Phòng
kế
toán Phòng
Công
Nghệ
Thiết
Kế Phòng
kcs
Phòng kế toán
trưởng
Phân xưởng
sản xuất sợi Phân xưởng
s.x găng tay Phân xưởng
s.x ống giấy - Phòng bảo vệ: Thực hiện chức năng bảo vệ nội bộ về trật tự an ninh trong và
ngoài khu vực sản xuất. Phụ trách việc phòng cháy chữa cháy và dân quân tự vệ.
- Phòng kế toán: Tổ chức hạch toán kế toán theo chế độ Nhà nước quy định và
tổng hợp số liệu, cung cấp thông tin cho nhu cầu quản lý Hàng năm xây dựng kế
hoạch tài chính, tính toán, phân tích hiệu quả về kế toán quản trị.
- Phòng công nghệ, thiết kế: Chuẩn bị kỹ thuật và thiết kế sản phẩm mới,
giúp sản xuất sản phẩm theo kế hoạch.
- Phòng KCS là phòng kiểm tra chất lượng sản phẩm: Xây dựng các tiêu chuẩn
về kỹ thuật cho sản phẩm, kiểm tra chất lượng nguyên liệu, vật tư đầu vào và giám sát
kiểm tra việc thực hiện công nghệ trên các dây chuyền sản xuất cho đến khâu cuối
cùng của sản phẩm nhập kho.
- Phòng tổ chức điều hành sản xuất: Xây dựng và điều hành kế hoạch sản
xuất, quản lý an toàn sản xuất và thiết bị máy móc cho toàn công ty.
- Các phân xưởng: Do quản đốc và các trưởng ca trực tiếp chỉ đạo công nhân
sản xuất các loại sản phẩm.
Quy trình công nghệ sản xuất sợi được thể hiện tóm tắt qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2: Quy trình sản xuất sợi.
Máy bông Máy chải
Máy
Bông,
Xơ PE
Bông,
Xơ PE
Cúi
chải
Cúi
ghép
Sợi
thành
ph
ẩm
ghép
Máy kéo sợi 3. Đặc điểm của thông tin
Nguồn thông tin mà công ty thu được đều đạt tiêu chuẩn về mặt chất lượng là
độ tin cậy, tính đầy đủ, tính thích hợp và dễ hiểu, tính được bảo vệ và tính kịp thời.
Hiện nay Công ty vải sợi Nghĩa Hưng có khoảng trên 700 lao động, trong đó số
công nhân sản xuất có tới 600 người, còn lại là các nhân viên kỹ thuật, quản lý và kinh
doanh làm việc ở Công ty chính và các Chi nhánh, đại lý, văn phòng đại diện. Đặc
điểm của các công nhân sản xuất với trình độ tay nghề cao làm có tổ chức và kỷ luật
cao. Nguồn nhân lực này chủ yếu Công ty tuyển dụng ở tại địa phương đặt các xưởng
sản xuất…Còn những nguồn lao động khác như nhân viên kỹ thuật, nhân viên quản lý
và kinh doanh thì được Công ty tuyển dụng thông qua quá trình sát hạch tương đối
chặt chẽ và tiêu chuẩn đề ra là tất cả các nhân viên này đều có trình độ từ cao đẳng trở
lên, có năng lực làm việc tốt.
6 . Đặc điểm về nguyên vật liệu
- Đối với sản phẩm vải: Nguyên liệu chính là sợi do công ty sản xuất, ngoài ra
cũng phải nhập nguyên liệu từ nước ngoài do tính đặc trưng của sản phẩm mà khách
hàng yêu cầu. Nguyên liệu đối với sản phẩm này thì còn tuỳ thuộc là dùng vào sản
xuất mặt hàng vải có từng thành phần cụ thể.(100%cotton, P/C : 65/35,
100%Polyester…)
Đặc điểm: Sợi được chia thành nhiều loại, có các chỉ số khác nhau: ví dụ sợi
PE-20/80, PC-20/1…Sợi có chỉ số càng cao thì càng nhỏ, săn và được chải kỹ, đối với
loại sợi này dùng để sản xuất vải nhưng mặt hàng vải mà yêu cầu phải đạt chất lượng
cao, và ngược lại. - Đối với sản phẩm sợi: Nguyên liệu chính là bông, xơ (PE) loại nguyên liệu
chủ yếu phải nhập khẩu.
Đặc điểm: Bông là một loại sản phẩm được làm bằng quá trình kéo tơ từ tằm,
qua qúa trình sơ chế nó được đưa vào sản xuất ra sợi. Loại sợi này dùng để sản xuất
các loại vải có thành phần 100%cotton và P/C. Còn xơ(PE) bào chế từ dầu
mỏ…nguyên liêu này dùng để sản xuất vải có thành phần 100%Polyester, P/C…
- Đối với sản phẩm ống giấy: Nguyên vật liệu chính để sản xuất sản phẩm là
gỗ, tre, lứa. Đây là nguồn nguyên liệu có ngay trong thị trường nội địa gần cơ sở sản
xuất thuận tiện cho quá trình vận chuyển…
g
I. TSLĐ và ĐTNH 41.043 64,86 60.727 73,04 19.684 47,96 8,18
1. Vốn bằng tiền 892 1,41 2.632 3,17 1.740 195,1 1,76
2. Đầu tư ngắn hạn 0 0 0 0 0
3.Phải thu 21.494 33,97 21.232 25,53 -262 -1,22 -8,43
4. Tồn kho 17.396 27,49 35.868 43,14 18.472 106,2 15,65
5. TSLĐ khác
1.261
1,99
995
1,2
-
266
-
21,1
-
0,79
II. TSCĐ và ĐTDH 22.237 35,14 22.418 26,96 181 0,81 -8,18
1.TSCĐ h
ữu hình
15.134
0
0
-
2,23
5.TSCD khác 1.207 1,91 46 0,05 -1.161 -96,3 -1,85
Tổng cộng 63.280 100 83.145 100 19.865 31,39 0
Với số liệu bảng trên ta thấy tổng vốn sản xuất kinh doanh tăng 31,39% tương
ứng số tiền tăng 19.865 tr.đ. Tỷ lệ tăng của vốn cố định và đầu tư dài hạn tăng ít hơn
tỷ lệ tăng của vốn lưu động và đầu tư ngắn hạn. Nhưng xét về cơ cấu vốn của đơn vị
thì chưa thật hợp lý, vì trong doanh nghiệp sản xuất vốn cố định và đầu tư dài hạn phải
chiếm tỷ trọng cao, nhưng ở đây vốn lưu động lại chiếm tỷ trọng cao hơn vốn cố định.
Không những thế tỷ trọng vốn cố định năm 2002 so với năm 2001 còn giảm 8,18%.
Doanh nghiệp đã để tồn kho quá lớn, cần chú ý giảm tồn kho. Khách hàng
chiếm dụng vốn quá nhiều đơn vị nên sử dụng nhiều biện pháp để thu hồi bớt công nợ.
Bảng 3: Tình hình sử dụng nguồn vốn tại đơn vị.
ĐVT: triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm 2001 Năm 2002 So sánh 2002/2001
S
ố tiền
TT
47,26 48.577
66,44 22.887
89,09 19,18
2. Chiếm dụng 26.699
42,19
23.256
27,97
-3.443
-12,9
-14,2
II. Nợ dài hạn 0
0
0
0
0
12,06
1.105
12,39
-2,04
I. Ngu
ồn vốn
10.521
16,63
10.521
12,65
0
0
-
3,98
II. Lợi nhuận -1.647
-2,6
-0,1
0
0Tổng cộng 63.280
100 83.145
100 19.865
31,39 0Với số liệu bảng trên ta thấy tình hình thiếu vốn phải huy động vốn của công ty
là rất lớn. Nợ phải trả tăng lên rất nhiều, cụ thể là tăng 34,51% tương ứng số tiền
18.760 tr.đ, mà chủ yếu là tiền vay ngắn hạn tăng 89,09% tương ứng số tiền tăng
22.887 tr.đ. Trong khi đó nguồn vốn chủ sở hữu có tăng nhưng rất ít, cụ thể tăng
12,39% tương ứng số tiền tăng 1.105 tr.đ. Nhưng tỷ trọng lại giảm 2,04%.
kinh doanh, chiến lược cạnh tranh…
* Những nguyên tắc thẩm định và đánh giá chiến lược kinh doanh mà công ty
đã sử dụng là dựa vào ba nguyên tắc chủ yếu sau: chiến lược kinh doanh đảm bảo mục
tiêu bao trùm của công ty, chiến lược kinh doanh có tính khả thi và đảm bảo mối quan
hệ biện chứng giữa công ty với thị trường về mặt lợi ích.
* Những tiêu chuẩn thẩm định và đánh giá chiến lược kinh doanh mà công ty
đang áp dụng gồm hai nhóm:
- Nhóm tiêu chuẩn định tính dựa trên các chỉ tiêu số lượng như số lượng bán,
thị phần, tổng doanh thu và tổng lợi nhuận…Vì đây là những tiêu chuẩn dễ xác định,
phản ánh khả năng bán hàng, khả năng sinh lợi, khả năng cung cấp nguồn lực.
- Nhóm tiêu chuẩn định tính làm căn cứ để lựa chọn , là thế lực trên thị trường,
độ an toàn trong kinh doanh và sự thích ứng của chiến lược với thị trường.
* Phương pháp lựa chọn và quyết định chiến lược kinh doanh của công ty là
phương pháp cho điểm theo tiêu chuẩn. Nội dung của phương pháp gồm các bước sau:
- Bước một, chọn ra một số các tiêu chuẩn đặc trưng cho mục tiêu chủ yếu của
công ty.
- Bước hai, cho điểm cho mỗi tiêu chuẩn theo năm mức điểm và theo nguyên
tắc mức điểm càng thấp phản ánh mức đáp ứng càng thấp và ngược lại.
- Bước ba, tiến hành đánh giá và cho điểm từng tiêu chuẩn, từng chiến lược
kinh doanh dự kiến.
- Bước bốn, tiến hành so sánh và lựa chọn. Về nguyên tắc, chiến lược được
chọn là chiến lược có tổng số điểm cao nhất.
Mặc dù trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của thị trường nhưng Công ty vải sợi
Nghĩa Hưng vẫn đứng vững và ngày càng tăng thêm uy tín cho sản phẩm của công ty,
tăng khả năng cạnh tranh đối với các hãng cùng ngành trên thị trường trong nước và nước ngoài. Bên cạnh đó thì công ty cũng gặp không ít những khó khăn như vấn đề
vốn, công ty đã phải huy động các nguồn vốn từ ngân hàng, kêu gọi nguồn đầu tư từ
các đối tác làm ăn. Thị trường vải sợi và hàng may mặc hiện nay là thị trường sôi động
cho đội ngũ lao động để tạo ra một đội ngũ lao động có tay nghề cao phục vụ cho quá
trình sản xuất.
Công tác phân công lao động: Công ty đã sử dụng phương pháp phân công lao
động theo tính chất hoạt động để tạo ra sự cân đối giữa lao động quản trị và lao động
sản xuất.
- Đối với lao động sản xuất được phân thành từng phân xưởng như: phân xưởng
dệt, phân xưởng sản xuất ống giấy, phân xưởng sản xuất găng tay, phân xưởng sản
xuất sợi.Trong mỗi phân xưởng lại phân thành từng nhóm, mỗi nhóm đảm nhận một
nhiệm vụ riêng. Đặc điểm của lao động sản xuất là người trực tiếp tạo ra sản phẩm.
- Đối với nhân viên quản lý và kinh doanh, do công ty có nhiều chi nhánh nên
không có phòng marketing riêng mà phòng quản lý và kinh doanh sẽ kiêm luôn cả vấn
đề marketing. Đặc điểm của những lao động này là vừa làm công tác quản lý vừa làm
công tác tiêu thụ và vừa làm công tác tìm, cung cấp nguyên vật liệu đầu vào…
Thù lao lao động và công tác đánh giá đề bạt.
- Đối với lao động sản xuất thì công ty đã áp dụng hình thức trả lương theo sản
phẩm cá nhân trực tiếp. Theo phương pháp này: số tiền người công nhân được lĩnh
bằng đơn giá trên một đơn vị sản phẩm x số lượng sản phẩm thực tế mà công nhân đó
làm ra. Nếu công nhân nào hoàn thành vượt mức số sản phẩm quy định của bộ phận
quản lý sản xuất đề ra thì tuỳ theo từng mức mà được thưởng tương ứng và những
công nhân có những thành tích cao sẽ được các nhà quản trị chú ý, cân nhắc và đề bạt.
Công ty có biện pháp thưởng phạt công minh.
- Đối với nhân viên quản lý, kinh doanh và nhân viên kỹ thuật thì công ty đã áp
dụng hình thức trả lương theo thời gian và lương cấp bậc. Tiền thưởng cho những
người này tuỳ thuộc vào mức độ hoàn thành công việc của mỗi người và khả năng làm
việc của nhân viên. Ví dụ như với nhân viên ở bộ phận tiêu thụ nếu như họ ký được nhiều hợp đồng bán hàng họ sẽ được hưởng hoa hồng, với phương pháp này công ty
sẽ thúc đẩy được quá trình tiêu thụ sản phẩm của mình một cách nhanh chóng có hiệu
quả cao.
của từng đồ án- Ví dụ như đánh giá sản phẩm mới, đánh giá của người tiêu dùng về
sản phẩm của đối thủ cạnh tranh… Theo như Bà Giám đốc Chi nhánh vải sợi Nghĩa
Hưng tại Hà Nội thì nghiên cứu thị trường cá thể giúp đưa ra phương pháp để lấy
thông tin tốt nhất cho việc quyết định như xu hướng thị trường, thái độ và mong đợi
của người tiêu dùng, xác địng đối thủ cạnh tranh và là một bước tiếp cận có hệ thống
để thu thập thông tin. Là nhà quản lý, bạn phải không ngừng ra quyết định về nhãn
hiệu, sản phẩm, giá, phân phối và thông tin mà không làm cho việc kinh doanh gặp
phải rủi ro.
2. Các chính sách.
* Đối với sản phẩm công ty phân tích chu kỳ sống của sản phẩm thông qua bốn
giai đoạn: giới thiệu, phát triển, bão hoà và suy thoái. Ví dụ công ty đưa ra chu kỳ
sống của sản phẩm về mốt:
- Giai đoạn phân lập, một số người sử dụng một số thứ mới lạ làm cho mình
moden nhất trước mọi người.
- Giai đoạn ganh đua, những người khác tham gia cuộc ganh đua.
- Giai đoạn phổ biến, rất nhiều người sử dụng mốt.
- Giai đoạn thoái trào, người tiêu dùng chuyển sự quan tâm sang mốt khác.
Nếu sản phẩm cũ đã ở trong giai thoái trào hoặc tìm được thị trường mới thì
công ty lại đưa ra ngay sản phẩm mới kịp thời để giữ khách hàng cũ và thu hút những
khách hàng mới. Các sản phẩm mới mà công ty tung ra thị trường trong và ngoài nước
đã và đang được thị trường chấp nhận đó là một thành công lớn trong chiến lược kinh
doanh của Công ty vải sợi Nghĩa Hưng.
- Công ty tham gia lần đầu trên thị trường nước ngoài sản phẩm đã và đang
được thị trường chấp nhận, như công ty đã xuất khẩu vải sang Campuchia, Thái Lan,
Lào… - Tạo sản phẩm mới có chất lượng cao với mẫu mã đẹp, hợp thị hiếu và tiêu
chuẩn của người tiêu dùng để thay thế sản phẩm hiện tại.
- Sản phẩm mới có chất lượng tương tự sản phẩm hiện tại nhưng giá thành thấp
đặt tại TP Hà Nội và một văn phòng đại diện ở thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy là
công ty lựa chọn kênh phân phối còn hạn chế để, chưa mở rộng và thêm được cơ sở
sản xuất, kinh doanh giảm bởi vì nguồn vốn còn hạn chế chưa tận dụng được các cơ
hội đầu tư từ bên ngoài. Sở dĩ như vậy muốn giảm chi phí đầu tư vào các đại để tập
trung đầu tư vào một số cơ sở, đại lý chủ chốt nhằm nâng cao khả năng chuyên môn
hoá lẫn hiệu quả của các đại lý.
* Chiến dịch quảng cáo và khuyếch trương sản phẩm:
Công ty đã đưa thông tin đến với khách hàng bằng phương pháp sau:
- Quảng cáo trực tiếp và gián tiếp như gọi điện thoại, thư gởi, hội chợ triển lãm
hoặc bằng các phương pháp truyền bá khác…
- Phương pháp tiếp cận trực tiếp là các nhân viên quản lý kinh doanh và
marketing của công ty tiếp xúc trực diện với khách hàng lớn và những khách hàng
tiềm năng để giới thiệu về sản phẩm, hàng hoá của mình một cách chi tiết tạo sức
thuyết phục cao đối với những khách hàng này
- Quan hệ công chúng như diễn thuyết, hội thảo, báo cáo hàng năm…trong các
hội nghị, các buổi triển lãm
- Khuyến mại, khuyến khích khách hàng trong một thời gian ngắn để tạo niềm
tin và ấn tượng về sản phẩm của công ty trong tâm trí khách hàng.
IV. Quản trị vật tư
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đều cần đến các tư liệu vật
chất khác nhau như vật liệu nhiên liệu, thiết bị máy móc Vật tư kỹ thuật là sản phẩm
của lao động dùng để sản xuất. Đó là nguyên, nhiên, vật liệu, điện lực, bán thành
phẩm, thiết bị máy móc,dụng cụ phụ tùng Toàn bộ vật tư kỹ thuật được chia làm hai
nhóm: - Nhóm vật tư dùng làm đối tượng lao động bao gồm nguyên liệu, vật liệu,
nhiên liệu, điện lực, bán thành phẩm, chi tiết bộ phận máy Đặc điểm của nhóm này là
nó sẽ tiêu dùng hoàn toàn trong một lần sản xuất.
như thế nào? Hiện nay Công ty vải sợi Nghĩa Hưng đang sử dụng chỉ tiêu để đánh giá
tình hình sử dụng vật tư là chỉ tiêu hao phí vật tư thực tế cho một đơn vị sản phẩm.
Nếu ký hiệu:
C - là số vật tư thực tế chi ra cho sản xuất.
Q - là số sản phẩm sản xuất ra được từ số vật tư đó.
Q
C
H
(H- Chỉ tiêu hao phí vật tư )
Nhưng bản thân chỉ tiêu hao phí vật tư thực tế cho một đơn vị sản phẩm cũng
chưa nói lên được mức độ hiệu quả của việc sử dụng vật tư ở một công ty sản xuất và
kinh doanh như công ty vải sợi Nghĩa Hưng. Để xác định được mức độ hiệu quả của
việc sử dụng loại vật tư cần phải so sánh chỉ tiêu hao phí thực tế cho một đơn vị sản
phẩm trong kỳ báo cáo với mức tiêu dùng cho một đơn vị sản phẩm đã được quy định
và với chỉ tiêu hao phí ở kỳ trước.
Ngoài ra công ty cần phải phân tích tình hình dự trữ vật tư là nhằm đảm bảo
cho quá trình sản xuất được tiến hành liên tục. Muốn có một lượng dự trữ vật tư hợp
lý phải xây dựng cho được mức dự trữ vật tư chính xác là so sánh mức dự trữ vật tư
với tồn kho thực tế, là phân tích dự trữ về khối lượng, về mức độ dự trữ và quá trình
biến đổi dự trữ qua các năm.
V. Quản trị sản xuất
Quản trị sản xuất là tổng hợp các hoạt động xây dựng hệ thống sản xuất và
quản trị các yếu tố đầu vào tạo thành sản phẩm đầu ra theo yêu cầu của khách hàng
nhằm thực hiện các mục tiêu: chất lượng, tốc độ, tính linh hoạt và hiệu quả.
Hệ thống sản xuất là cơ sở vật chất kỹ thuật, là cơ sở để tổ chức quá trình sản
xuất và tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp. Hiện nay hệ thống sản xuất của Công
Trong thời gian tới công ty đang có kế hoạch mở rộng sản xuất bằng cách thành lập
Chi nhánh mới hoặc liên doanh, liên kết với các nhà đầu tư nước ngoài. Hiện tại công
ty đang liên kết với các công ty thuộc lĩnh vực dệt và may mặc trong nước và quốc tế
như: Công ty may Thăng Long, may Việt Tiến, May10, Công ty Pang Rim Yoochang
Hàn Quốc…
VI. Quản trị chất lượng
Đối với nền kinh tế đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ nâng cao khả
năng cạnh tranh của đất nước. Khả năng cạnh tranh của đất nước phụ thuộc vào khả
năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nước đó. Vấn đề mang tính cấp bách đối với
các doanh nghiệp nước ta hiện nay là nâng cao chất lượng sản phẩm để theo kịp trình
độ về chất lượng sản phẩm của các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong xu thế
toàn cầu hoá về kinh tế, rào cản thuế quan giữa các nước, các khu vực ngày càng giảm
thì rào cản phi thuế quan được dựng lên để bảo vệ cho người tiêu dùng.
Từ lâu trên thế giới đã hình thành hệ thống buôn bán tin cậy không có sự kiểm
tra của người thứ ba khi giao nhận hàng hoá nên đả giảm nhiều chi phí kinh doanh tạo
điều kiện thuận lợi giữa người mua và người bán. Cơ sở của hệ thống buôn bán tin cậy
là chứng thư chất lượng do một số tổ chức phi chính phủ được nhiều nước công nhận
cấp. Đó là chứng nhận về ISO 9000, ISO 14000, GMP, HACCP, ISM Code. Đến nay
trên thế giới đã có hơn 200.000 giấy chứng nhận phù hợp ISO 9000 được cấp cho hơn
100 nước (trong đó Việt Nam được cấp trên 30 giấy). Nhiều tổ chức trên thế giới còn
khuyến cáo trong vài năm tới bạn hàng thế giới sẽ chỉ mua hàng của các doanh nghiệp
Việt Nam được cấp chứng chỉ ISO 9000. Trong bối cảnh này, thì việc hội nhập của
các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế còn là cả một vấn đề to lớn. Đứng
trước tình thế này thì Công ty vải sợi Nghĩa Hưng đã coi trọng vấn đề chất lượng sản
phẩm, hiện nay công ty đang áp dụng hệ thống chất lựơng HACCP (hazard analysis-
critical control point system). Mặc dù tuổi đời của công ty còn ít nhưng với hệ thống
chất lượng này thì tên tuổi của họ sẽ nhanh chóng được các nhà kinh doanh và các các
nhà sản xuất xem trọng và uy tín của công ty ngày càng được lan rộng. Những gì mà
TtTtTt
ppp
321
,,
- chỉ giá cả sản phẩm loaị 1 ,2 và 3 thực tế bán được
Tt
PL
KH
PL
HH ,
chỉ hệ số phân loại sản phẩm theo kế hoạch và thực tế
Thứ nhất, hệ số phân loại sản phẩm theo kế hoạch, xác định cho từng thời kỳ kế
hoạch như sau:
KHKH
i
KH
i
KH
i
KH
PL
pq
pq
H
1