LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đã và đang trong quá trình hội nhập với nền kinh
tế các nước trong khu vực và trên thế giới. Quan hệ kinh tế đối ngoại đặc biệt
là hoạt động thương mại quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển
kinh tế, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Kim
ngạch xuất nhập khẩu của nước ta trong các năm qua tăng liên tục và giảm
dần tỷ lệ nhập siêu. Tuy nhiên xu thế hội nhập đặt ra cho các doanh nghiệp
đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu cần nhiều vốn hơn để
thực hiện có hiêu quả các hợp đồng ngoại thương. Khả năng tài chính có hạn,
các doanh nghiệp xuất nhập khẩu không phải lúc nào cũng có đủ tiền để thanh
toán hàng nhập khẩu hoặc đủ vốn để thu mua nguyên liệu chế biến hàng xuất
khẩu, từ đó nảy sinh quan hệ vay mượn và tài trợ của các ngân hàng (hay còn
gọi là tín dụng). Tín dụng xuất khẩu ra đời là tất yếu khách quan gắn liền với
quan hệ mua bán ngoại thương giữa các nước. Tín dụng xuất khẩu đáp ứng
được nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, giúp các doanh
nghiệp này tăng trưởng, hoạt động hiệu quả hơn. Nó còn đóng vai trò quan
trọng thúc đẩy hoạt động ngoại thương, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Ngân hàng Phát triển Việt Nam là ngân hàng hoạt động trên tinh thần
một Ngân hàng chính sách của Chính phủ, thực hiện chính sách đầu tư phát
triền và chính sách xuất khẩu của Nhà nước. Sau thời gian thực tập tại Ngân
hàng Phát triển, trên cơ sở nghiên cứu mối quan hệ giữa tín dụng xuất khẩu và
hoạt động xuất nhập khẩu, ảnh hưởng của tín dụng xuất khẩu tới các doanh
nghiệp vay vốn của ngân hàng để kinh doanh xuất nhập khẩu em đã chọn đề
tài: “Mối quan hệ giữa tín dụng xuất khẩu và hoạt động xuất nhập khẩu
(nghiên cứu tại Ngân hàng Phát triên Việt Nam )” làm đề tài chuyên đề thực
tập.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào mối quan hệ giữa tín
dụng xuất khẩu và hoạt động xuất nhập khẩu
Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động tín dụng xuất khẩu tại Ngân hàng Phát
chức, phân công và hợp tác, có cơ sở vật chất kỹ thuật, có lao động, vốn….
Cơ sở kinh tế cho thương mại quốc tế là sự phân công lao động,
hợp tác quốc tế. Lịch sử phát triển của mọi quốc gia độc lập cho thấy xu
hướng tất yếu để tồn tại và phát triển thì quốc gia đó phải thực hiện chính
sách mở cửa, tăng cường hợp tác quốc tế. Phân công lao động, hợp tác quốc
tế phát triển mạnh làm cho lực lượng sản xuất xã hội phát triển, là động lực
chủ yếu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đưa đến sự cần thiết phải có sự trao
đổi sản phẩm giữa các chủ thể kinh doanh. Thương mại quốc tế làm cho nền
Website: Email : Tel : 0918.775.368
kinh tế thế giới như một chỉnh thể, nền kinh tế mỗi quốc gia như các bộ phận
hợp thành có quan hệ khăng khít với nhau.
Đặc trưng của thương mại quốc tế :
Quan hệ thương mại quốc tế là sự tiếp tục trực tiếp các quan hệ sản xuất bên
trong của một quốc gia song nó được phát triển trong môi trường khác. Ở đó
thể hiện các quan hệ kinh tế hoàn toàn không giống các quan hệ kinh tế trong
nước. Sự phát triển các mối quan hệ thương mại quốc tế diễn ra giữa các chủ
thể trên thị trường theo những hình thức và phương pháp riêng biệt. Thương
mại quốc tế có nét đặc trưng đó là:
o Quan hệ trong thương mại quốc tế là mối quan hệ thỏa thuận tự
nguyện giữa các quốc gia độc lập, giữa các tổ chức kinh tế có tính chất pháp
nhân. Quan hệ thương mại quốc tế chỉ có thể phát triển trên cơ sở giữ vững
chủ quyền, thực hiện nguyên tắc bình đẳng và các bên tham gia cùng có lợi
thông qua các hợp đồng kinh tế và sự chấp nhận của các bên tham gia.
o Thương mại quốc tế diễn ra theo các yêu cầu của quy luật kinh tế
trong điều kiện nền kinh tế thế giới vận hành theo cơ chế thị trường.
o Thương mại quốc tế chịu sự tác động của các hệ thống quản lý
khác nhau, các chính sách luật pháp thể chế của từng quốc gia cũng như các
điều ước quốc tế. Quan hệ thương mại giữa các nước dẫn đến sự gặp gỡ, va
chạm giữa hệ thống quản lý, chính sách luật pháp từng quốc gia. Thương mại
quốc tế một mặt phải thực hiện đúng các yêu cầu luật pháp trong nước nhưng
sản trong giai đoạn phương thức sản xuất phong kiến tan rã, chủ nghĩa tư bản
mới ra đời. Ngoại thương lúc này là phương tiện để giai cấp tư sản thực hiện
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cướp bóc ở thuộc địa thông qua việc trao đổi không ngang giá, quốc gia này
giàu lên trên cơ sở quốc gia khác chịu bất lợi. Nhiều lập luận của chủ nghĩa
trọng thương đến nay vẫn còn giá trị. Đó là sớm đánh giá được vai trò quan
trọng của xuất nhập khẩu với sự phát triển kinh tế của quốc gia; Chỉ ra rằng
khi năng lực sản xuất trong nước vượt quá mức cầu thì lúc đó hạn chế nhập
khẩu khuyến khích xuất khẩu là việc một quốc gia cần theo đuổi. Các tác giả
chủ nghĩa trọng thương có lý khi cho rằng sự gia tăng mức cung tiền tệ sẽ có
tác dụng kích thích sản xuất trong nước. Tuy vậy nó còn khá nhiều điểm hạn
chế như chưa giải thích được bản chất bên trong của các hiện tượng kinh tế.
Quan niệm chưa đúng về bản chất của thương mại quốc tế, cho rằng chỉ có
một bên có lợi, một bên chịu thiệt, tổng lợi ích của thương mại quốc tế đem
lại cho nền kinh tế thế giới là 0.
Sang đến thế kỷ XVIII trở đi vai trò của ngoại thương được nhìn nhận
tổng thể với các lĩnh vực khác nhau, khắc phục được một số hạn chế của chủ
nghĩa trọng thương về thương mại quốc tế. Tiêu biểu là lý thuyết lợi thế tuyệt
đối của nhà kinh tế học người Anh Adam-Smith (1923- 1790). Ông là người
đầu tiên đưa ra sự phân tích có tính hệ thống về nguồn gốc của thương mại
quốc tế. Theo quan điểm này, một nước chỉ sản xuất các loại hàng hóa tốt
nhất các loại tài nguyên của quốc gia đó. Giả sử chỉ có hai quốc gia A và B.
Quốc gia A xét trong tương quan với quốc gia B tỏ ra có lợi thế hơn, hiệu quả
hơn trong việc sản xuất mặt hàng X và kém hiệu quả hơn trong việc sản xuất
mặt hàng Y. Nước B có lợi thế tuyệt đối về mặt hàng Y, bất lợi tuyệt đối về
sản xuất mặt hàng X. Hai nước tập trung sản xuất vào mặt hàng mà mình có
lợi thế tuyệt đối và xuất khẩu mặt hàng này sang nước kia để đổi lấy mặt hàng
mà mình bất lợi. Lúc này cả hai nước đều thu được lợi và sung túc hơn. Việc
tiến hành trao đổi buôn bán hàng hóa giữa các quốc gia phải tạo ra lợi ích cho
cả hai bên. Nếu một quốc gia có lợi còn quốc gia khác bị thiệt thì sẽ từ chối
nước khan hiếm. Lợi ích thương mại quốc tế sẽ tăng thêm, các quốc gia đều
có lợi. So với những lý thuyết cổ điển, lý thuyết H-O không những giải thích
được bản chất của lợi thế so sánh mà còn cho phép phân tích được tác động
của thương mại quốc tế đến giá cả các yếu tố sản xuất, đến quá trình phân
phối và phân phối lại thu nhập giữa các quốc gia. Tuy mô hình thể hiện những
khiếm khuyết trước thực tiễn hoạt động thương mại quốc tế diễn ra ngày càng
phát triển và phức tạp nhưng cho đến nay lý thuyết vẫn được sử dụng rộng rãi
để phân tích các vấn đề thương mại và tăng trưởng, thương mại và phân phối
thu nhập. Có ý nghĩa quan trọng đối với các nước đang phát triển tham gia hội
nhập vào kinh tế thế giới khi tận dụng lượng nhân công làm lợi thế cạnh tranh
để sản xuất các mặt hàng phù hợp.
1.1.3. Vai trò hoạt động xuất nhập khẩu với sự phát triển kinh tế
Xuất nhập khẩu là hoạt động trung tâm của thương mại quốc tế. Đây là
hệ thống các quan hệ mua bán trong một nền thương mại có tổ chức nhằm
mục đích đẩy mạnh sản xuất hàng hóa phát triển chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, cải thiện nâng cao mức sống của người
tiêu dùng. Trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động
xuất nhập khẩu mang lại nhiều tác động tích cực cũng như những ảnh hưởng
tiêu cực đến nền kinh tế.
Những tác động tích cực của hoạt động xuất nhập khẩu đối với nền
kinh tế:
- Xuất nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển.
Xuất nhập khẩu là lĩnh vực trao đổi, phân phối lưu thông hàng hóa dịch vụ
với nước ngoài, nối liền sản xuất và tiêu dùng trong nước với sản xuất và tiêu
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thụ trên thế giới. Trong quá trình tái sản xuất mở rộng thì khâu phân phối và
lưu thông này được coi là khâu quan trọng, quyết định tới sản xuất. Sản xuất
có phát triển được hay không và phát triển như thế nào phụ thuộc rất nhiều
vào khâu này. Chính vì vậy có thể nói rằng xuất nhập khẩu tác động trực tiếp
đến sự phát triển của nền sản xuất .
đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao tay nghề trình độ người lao động. Xuất
nhập khẩu nâng cao hiệu quả hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
- Tạo công ăn việc làm cho người lao động, nhất là ở các khu chế xuất,
khu công nghiệp, tăng thu nhập và mức sống cho người dân. Xuất nhập khẩu
tạo nên những chuyển biến mới về phân công lao động xã hội.
- Đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu góp phần mở rộng và thúc đẩy
quan hệ kinh tế đối ngoại, thúc đẩy quá trình liên kết kinh tế, xã hội giữa các
nước. Thông qua đó góp phần ổn định tình hình kinh tế chính trị của quốc gia,
khu vực và thế giới. Thật vậy thông thường hoạt động thương mại, hoạt động
xuất nhập khẩu ra đời sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại nên nó là cơ
sở để mở rộng quan hệ này phát triển. Ví dụ hoạt động xuất nhập khẩu phát
triển làm quan hệ tín dụng, thanh toán quốc tế, vân tải quốc tế… phát triển.
- Xuất nhập khẩu thúc đẩy quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào
trong nước.
- Thương mại quốc tế hay xuất nhập khẩu kích thích nhu cầu trong
nước và tạo ra những nhu cầu mới.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Những tác động tiêu cực của hoat động xuất nhập khẩu đối với nền
kinh tế
- Hàng hóa cạnh tranh cả trong nước và nước ngoài, khi mức độ cạnh
tranh trở nên quá gay gắt tạo nên những bất cập rối ren trong quan hệ thương
mại. Nếu không kiểm soát chặt chẽ và kịp thời gây nên những thiệt hại về
kinh tế và quan hệ thương mại, ngoại giao giữa các nước.
- Xuất nhập khẩu hàng hóa vào một quốc gia dễ tồn tại các hiện tượng
xấu như buôn lậu, trốn thuế, hàng giả, kém chất lượng. Nhất là ở các cửa
khẩu, nơi cán bộ hải quan kiểm tra hàng hóa ra vào biên giới dễ xảy ra hiện
tượng một số cán bộ tha hóa đạo đức, tiếp tay cho những hành vi xấu…
- Xuất nhập khẩu là sự trao đổi hàng hóa dịch vụ giữa các nước thông
qua quan hệ mua bán nhằm mục đích kinh tế và thu lợi nhuận. Nó chịu sự tác
động của hệ thống quản lý, chính sách, luật pháp không chỉ của một nước.
thể hiểu “ tín dụng xuất khẩu là sự cam kết, hỗ trợ về mặt tài chính để các nhà
xuất khẩu nước sở tại đẩy mạnh sản xuất, khuyến khích xuất khẩu, đồng thời giúp
các nhà nhập khẩu nước ngoài có đủ các điều kiện về tài chính để nhập khẩu
hàng hoá của nước đó“
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.2. Đặc điểm của tín dụng xuất khẩu
o Vốn vay phải sử dụng đúng mục đích
Đây là nguyên tắc quan trọng vì chỉ khi khách hàng sử dụng đúng mục
đích sản xuất kinh doanh, đúng pháp luật như đã cam kết thì khoản tín dụng
đươc cấp mới đảm bảo an toàn, ít rủi ro và có khả năng sinh lợi. Do vậy khi
nhận hồ sơ của khách hàng cán bộ tín dụng phải kiểm tra thẩm định chi tiết về
mục đích kinh doanh, thường xuyên theo dõi giám sát quá trình sủ dụng tiền
vay .
o Vốn vay phải được hoàn trả cả gốc lẫn lãi theo đúng thời hạn
Trong hợp đồng tín dụng, thỏa thuận giữa khách hàng và ngân hàng
bao gồm trị giá khoản tiền vay, lãi suất cho vay, tỷ giá các đồng tiền nếu vay
ngoại tệ, thời hạn trả tiền khoản vay ban đầu và phần lãi do thời hạn sử dụng
tiền vay. Hợp đồng tín dụng còn có quy định thêm điều khoản về việc nếu
khách hàng vi phạm hợp đồng ký kết như trả nợ không đúng hạn, sử dụng vốn
vay không đúng mục đích.
o Thường là tiền vay phải có tài sản tương đương thế chấp
Để giảm thiểu rủi ro, ngân hàng thường bắt các khách hàng của mình
có tài sản tương đương với khoản vay tín dụng như bất động sản, động sản có
giá trị để thế chấp. Tuy nhiên đối với các khách hàng truyền thống, có uy tín
thì có thể được miễn tín chấp.
Đặc điểm của tín dụng xuất khẩu là các nguyên tắc vay tín dụng của
ngân hàng áp dụng cho khách hàng của mình.
1.2.3. Các hình thức tín dụng xuất khẩu
Hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra ngày càng sôi động, nhu cầu tài
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhập khẩu của doanh nghiệp mà ngân hàng mở L/C sẽ quyết định mức ký quỹ
L/C. Khi quyết định mở L/C tài trợ cho nhà nhập khẩu tức là ngân hàng đã
đồng ý thanh toán cho nhà xuất khẩu ngay cả khi nhà nhập khẩu có khả năng
thanh toán cho mình hay không. Để hạn chế rủi ro này ngân hàng phát hành
sẽ bắt nhà nhập khẩu cầm cố tài khoản thế chấp, ký quỹ 100% L/C.
b. Tín dụng chấp nhận hối phiếu
Loại tín dụng này đảm bảo cho người hưởng tín dụng được sử dụng để
thanh toán hối phiếu khi đến hạn. Người vay khoản tín dụng này chính là nhà
nhâp khẩu. Đây là một hình thức, một sự bảo đảm về tài chính và ngân hàng
chưa phải xuất tiền vay thực sự. Nhà nhập khẩu phải vay mượn về mặt danh
nghĩa để có được sự chấp nhận trên hối phiếu của ngân hàng theo đề nghị của
nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu phải trả phí cho khoản vay tín dụng này. Khi
tới hạn thanh toán, nếu nhà nhập khẩu không đủ khả năng thanh toán thì ngân
hàng chấp nhận hối phiếu sẽ phải tiền cho nhà xuất khẩu. Hối phiếu có sự bảo
đảm của ngân hàng thể hiện sự đảm bảo chắc chắn về khả năng thanh toán,
làm tăng uy tín của hối phiếu trong quá trình lưu thông.
c. Tín dụng ứng trước
Muốn có khoản tín dụng này nhà nhập khẩu cần phải lập phương án
kinh doanh khả thi cho lô hàng nhập khẩu, có kế hoạnh tài chính để thanh
toán khi đến hạn. Nhà nhập khẩu có thể được ngân hàng tài trợ qua hình thức
vay thanh toán L/C nếu L/C trả ngay hoặc ngân hàng thay mặt nhà nhập khẩu
ký chấp nhân thanh toán nếu L/C trả chậm. Cụ thể hơn, nhà nhập khẩu được
cấp tín dụng dưới hai hình thức:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Khoản vay nhập khẩu trơn CIL (clean import loan): ngân hàng cung
cấp tín dụng ứng trước thuần túy và không không kiểm soát hàng hóa. Ngân
hàng trả tiền cho các hối phiếu trả ngay, nhận khế ước vay nợ và ghi nợ trên
tài khoản vay của nhà nhập khẩu.
+ Khoản vay dựa trên hàng nhập khẩu LAI (loan against import ) tương
tự khoản vay nhập khẩu trơn nhưng được hậu thuẫn bởi vật đảm bảo.
xuất khẩu, còn lại nhà xuất khẩu sẽ tự huy động.
b. Tín dụng ứng trước, tín dụng chiết khấu chứng từ hàng xuất khẩu
Sau khi giao hàng cho nhà nhập khẩu mà chưa nhận được tiền thanh
toán, nhà xuất khẩu vẫn có nhu cầu về vốn để sản xuất kinh doanh. Lúc này
nhà xuất khẩu có thể thỏa thuận với ngân hàng hoặc chiết khấu bộ chứng từ
hoặc ứng trước tiền khi bộ chứng từ được thanh toán. Hình thức tài trợ này
giúp nhà xuất khẩu nhận được tiền sớm hơn nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn
đối với khoản tín dụng cung ứng hàng mà anh ta đã cấp cho nhà nhập khẩu.
Với hình thức tín dụng ứng trước những giấy tờ có giá trị như hóa đơn
thương mại, vận đơn, hợp đồng bảo hiểm… có thể là vật tín chấp cho ngân
hàng. Nhà xuất khẩu chuyển nhượng giấy này cho ngân hàng để được cấp tín
dụng ứng trước. Mức độ cấp tín dụng cho nguời xuất khẩu phụ thuộc vào các
yếu tố như khả năng thanh toán, khả năng cạnh tranh của hàng hóa.
Hình thức chiết khấu bộ chứng từ là việc các ngân hàng mua lại hoặc cho
nhà xuất khẩu vay trên cơ sở giá trị bộ chứng từ xuất trình. Có chiết khấu miễn
truy đòi và chiết khấu được phép truy đòi. Chiết khấu được phép truy đòi là hình
thức ngân hàng cấp tín dụng cho nhà xuất khẩu nhưng vẫn đòi hỏi nhà xuất khẩu
phải chịu trách nhiệm với bộ chứng từ đến khi ngân hàng đòi được tiền thanh
toán từ nhà nhập khẩu. Chiết khấu miễn truy đòi là việc nhà xuất khẩu bán hẳn
Website: Email : Tel : 0918.775.368
bộ chứng từ cho ngân hàng và không phải chịu trách nhiệm về việc ngân hàng
có đòi được tiền thanh toán từ nhà nhập khẩu hay không. Cả tín dụng ứng trước
và chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất, ngân hàng chỉ có quyền truy đòi lại nhà
xuất khẩu nếu nhà nhập khẩu từ chối thanh toán tiền hàng.
c. Tín dụng bao thanh toán (Factoring)
Bao thanh toán là một loại hình tài chính trọn gói bao gồm sự kết hợp
giữa tài trợ vốn hoạt động, bảo hiểm rủi ro tín dụng, theo dõi các khoản phải
thu và dịch vụ thu hộ. Đây là hình thức tài trợ ngắn hạn đối với nhà xuất khẩu
của ngân hàng. Ngân hàng sẽ mua lại các chứng từ thanh toán, các khoản nợ
chưa đến ngày thanh toán, họ sẽ trực tiếp đòi người nợ người nhập khẩu và
1.2.4 Quy trình cấp tín dụng xuất khẩu
Khách hàng có nhu cầu vay vốn tín dụng của ngân hàng, họ sẽ lập một
bộ hồ sơ mang đến ngân hàng để xin tài trợ. Bộ hồ sơ thường gồm 3 loại
chính: hồ sơ pháp lý, hồ sơ kinh tế và hồ sơ vay vốn. Với trường hợp khách
hàng vay vốn tín dụng để sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu thì phải kèm
theo hợp đồng ngoại thương hoặc hợp đồng sản xuất chế biến hàng hóa xuất
khẩu. Sau khi gửi bộ hồ sơ xin vay vốn đến ngân hàng, cán bộ tín dụng sẽ
thẩm định lại các thông tin của khách hàng qua bộ hồ sơ và phỏng vấn trực
tiếp khách hàng của mình. Công tác thẩm định làm tốt sẽ hạn chế được các rủi
ro tín dụng có thể xay ra. Nội dung của quá trình thẩm định: Thẩm định tính
hợp pháp của hồ sơ pháp lý, khả năng tài chính của khách hàng, thẩm định
tính khả thi của phương án, dự án kinh doanh, thẩm định tài sản bảo đảm. Sau
tối đa 10 ngày kể từ khi tiếp nhận hồ sơ của khách hàng, cán bộ tín dụng lập
báo cáo thẩm định lên cấp trên, căn cứ vào đây để ra quyết định có tài trợ cho
Website: Email : Tel : 0918.775.368
dự án, phương án này hay không? Trong báo cáo thẩm định phải nêu rỡ tình
hình tài chính của khách hàng, nhu cầu về vốn xin tài trợ, hiệu quả kinh tế mà
dự án xin cấp vốn tín dụng mang lại… Nếu khách hàng được ngân hàng đồng
ý cấp vốn tín dụng thì hai bên tiến hành ký hợp đồng tín dụng, lập giấy nhận
nợ và tiến hành giải ngân nguồn vốn theo hợp đồng. Trong quá trình doanh
nghiệp sử dụng vốn tín dụng cán bộ tín dụng tiếp tục tiến hành kiểm tra giám
sát việc sử dụng vốn có đúng mục đích hay không để hạn chế rủi ro tín dụng,
đảm bảo khả năng khách hàng sẽ hoàn trả nợ cho mình. Ngân hàng sẽ tính lãi,
thu lãi, và thu nợ theo đúng hợp đồng đã ký kết.
1.2.5. Rủi ro tín dụng xuất khẩu
Rủi ro tín dụng là các tổn thất mà ngân hàng cấp tín dụng cho khách
hàng phải chịu do nguời vay vốn không đủ khả năng thanh toán hoặc không
trả nợ đúng hạn như trong hợp đồng tín dụng đã ký. Hoạt động xuất nhập
khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán vượt ra khỏi biên giới quốc gia, vì
vậy tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Do vậy mà các ngân hàng khi cấp tín dụng xuất
thông trôi chảy, không bị gián đoạn, tăng tính năng động của nền kinh tế, góp
phần ổn định thị trường.
1.3.2 Vai trò của tín dụng xuất khẩu với hoạt đông xuất nhập khẩu
Hoạt động xuất nhập khẩu có vai trò quan trọng đối với sự phát triển
của nền kinh tế. Để hoạt động này ngày càng phát triển thì ngoài nỗ lực của
bản thân các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, định hướng phát triển xuất nhập
khẩu của Nhà nước còn cần có sự hỗ trợ của các ngân hàng, các định chế tài
chính đẻcung cấp nguồn vốn cho doanh nghiệp. Tín dụng xuất khẩu góp phần
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khai thác lợi thế so sánh thúc đẩy xuất nhập khẩu phát triển, tăng kim ngạch
xuất nhập khẩu, thay đổi cơ cấu hàng nhập khẩu, tăng cường hiệu quả hoạt
động ngoại thương. Kết quả hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta các năm
qua đã cho thấy vai trò của tín dụng là thực sự cần thiết. Tổng kim ngạch xuất
nhập khẩu của nước ta trong các năm qua gia tăng và phát triển mạnh mẽ,
tăng từ 2.7 tỷ USD năm 1990 lên đến 39,7 tỷ USD năm 2006 (tăng 22,8% so
với năm 2005). Năm 2007 kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước đạt 48 tỷ USD.
Các mặt hàng xuất khẩu cũng ngày càng đa dạng phong phú. Nếu như năm
1991 nước ta chỉ có 4 mặt hàng đạt kim ngạch 100 triệu USD là dầu thô, gạo,
thủy sản và dệt may thì năm 2007 số mặt hàng chủ lực xuất khẩu đã lên tới
con số 13. Kim ngạch xuất khẩu tăng ở hầu hết các mặt hàng, trong đó có
những mặt hàng có kim ngạch tăng khá cao như dệt may, điện tử máy tính,
hàng thủ công mỹ nghệ, dây điện và cáp điện, sản phẩm nhựa, gỗ, cà phê, hạt
tiêu, hạt điều. Năm 2007 đã có 9 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ
USD là dầu thô, dệt may, giày dép, thuỷ sản, sản phẩm gỗ, điện tử máy tính,
cà phê, gạo và cao su. Cụ thể là máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng đạt
trên 10 tỷ USD, xăng dầu đạt trên 7 tỷ USD, sắt thép đạt gần 5 tỷ USD, vải 4
tỷ USD, điện tử máy tính và linh kiện đạt gần 3 tỷ USD. Sự phát triển của kim
ngạch xuất khẩu các năm qua có một phần không nhỏvai trò của tín dụng xuất
khẩu dành cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu. Những
chính sách về điều kiện vay vốn, chính sách lãi suất của ngân hàng nhằm hạn
mức lãi suất mong đợi cao hơn. Do đó hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho
doanh nghiệp.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tín dụng xuất khẩu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Do phải trả khoản chi phí lãi vay và tiền gốc trong một khoảng thời gian đã
định trước buộc doanh nghiệp làm ăn kinh doanh phải tính toán chi phí phù
hợp để đem lại lợi nhuận. Nếu nợ quá hạn, tức là không hoàn trả ngân hàng
đúng thời hạn doanh nghiệp sẽ phải chịu phạt, ảnh hưởng đến nguồn thu của
mình. Tín dụng xuất khẩu đẩy mạnh hạch toán kinh doanh, nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn.
Tạo uy tín cho doanh nghiệp. Thông qua sự tài trợ của ngân hàng như
cấp tín dụng xuất khẩu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, doanh nghiệp có điều
kiện thực hiện đúng hợp đồng, tăng uy tín khi đàm phán ký kết các hợp đồng
ngoại thương.
1.3.4 Xuất nhập khẩu ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng xuất khẩu
Kim ngạch xuất nhập khẩu ngày càng tăng cao cho thấy hoạt động xuất
nhập khẩu phát triển rất mạnh mẽ. Doanh nghiệp tham gia sản xuất kinh
doanh hàng xuất khẩu cũng gia tăng ngày một nhiều cả về số lượng lẫn chất
lượng. Các doanh nghiệp này cần khá nhiều vốn để tiến hành sản xuất kinh
doanh hiệu quả. Tuy nhiên không phải bất cứ doanh nghiệp nào cũng đủ vốn
tự có mà không cần đi vay. Thực tế cho thấy nếu có đủ vốn thì các doanh
nghiệp vẫn xin vay vốn ngân hàng để giảm thiểu rủi ro cho nguồn vốn chủ sở
hữu của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng
phát triển phức tạp hơn trước nảy sinh nhiều nghiệp vụ tín dụng của ngân
hàng để đảm bảo cho quá trình này diễn ra suôn sẻ. Vì vậy hoạt động xuất
nhập khẩu phát triển kéo theo nó là quan hệ tín dụng và đặc biệt là tín dụng
xuất khẩu cũng ngày càng phát triển, hoàn thiện, đa dạng hóa các hình thức
tín dụng nhằm hỗ trợ tác động lại xuất nhập khẩu.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 2