Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đã và đang trong quá trình hội nhập với nền kinh
tế các nước trong khu vực và trên thế giới. Quan hệ kinh tế đối ngoại đặc biệt
là hoạt động thương mại quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển
kinh tế, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Kim
ngạch xuất nhập khẩu của nước ta trong các năm qua tăng liên tục và giảm
dần tỷ lệ nhập siêu. Tuy nhiên xu thế hội nhập đặt ra cho các doanh nghiệp
đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu cần nhiều vốn hơn để
thực hiện có hiêu quả các hợp đồng ngoại thương. Khả năng tài chính có hạn,
các doanh nghiệp xuất nhập khẩu không phải lúc nào cũng có đủ tiền để thanh
toán hàng nhập khẩu hoặc đủ vốn để thu mua nguyên liệu chế biến hàng xuất
khẩu, từ đó nảy sinh quan hệ vay mượn và tài trợ của các ngân hàng (hay còn
gọi là tín dụng). Tín dụng xuất khẩu ra đời là tất yếu khách quan gắn liền với
quan hệ mua bán ngoại thương giữa các nước. Tín dụng xuất khẩu đáp ứng
được nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, giúp các doanh
nghiệp này tăng trưởng, hoạt động hiệu quả hơn. Nó còn đóng vai trò quan
trọng thúc đẩy hoạt động ngoại thương, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Ngân hàng Phát triển Việt Nam là ngân hàng hoạt động trên tinh thần
một Ngân hàng chính sách của Chính phủ, thực hiện chính sách đầu tư phát
triền và chính sách xuất khẩu của Nhà nước. Sau thời gian thực tập tại Ngân
hàng Phát triển, trên cơ sở nghiên cứu mối quan hệ giữa tín dụng xuất khẩu và
hoạt động xuất nhập khẩu, ảnh hưởng của tín dụng xuất khẩu tới các doanh
nghiệp vay vốn của ngân hàng để kinh doanh xuất nhập khẩu em đã chọn đề
tài: “Mối quan hệ giữa tín dụng xuất khẩu và hoạt động xuất nhập khẩu
(nghiên cứu tại Ngân hàng Phát triên Việt Nam )” làm đề tài chuyên đề thực
tập.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào mối quan hệ giữa tín
quá trình bắt đầu từ khâu điều tra nghiên cứu thị trường cho đến khâu sản xuất
kinh doanh, phân phối, lưu thông và tiêu dùng sản phẩm. Với tư cách là một
ngành kinh tế, thương mại quốc tế là một lĩnh vực chuyên môn hóa có tổ
chức, phân công và hợp tác, có cơ sở vật chất kỹ thuật, có lao động, vốn….
Cơ sở kinh tế cho thương mại quốc tế là sự phân công lao động,
hợp tác quốc tế. Lịch sử phát triển của mọi quốc gia độc lập cho thấy xu
hướng tất yếu để tồn tại và phát triển thì quốc gia đó phải thực hiện chính
sách mở cửa, tăng cường hợp tác quốc tế. Phân công lao động, hợp tác quốc tế
phát triển mạnh làm cho lực lượng sản xuất xã hội phát triển, là động lực chủ
yếu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đưa đến sự cần thiết phải có sự trao đổi
sản phẩm giữa các chủ thể kinh doanh. Thương mại quốc tế làm cho nền kinh
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tế thế giới như một chỉnh thể, nền kinh tế mỗi quốc gia như các bộ phận hợp
thành có quan hệ khăng khít với nhau.
Đặc trưng của thương mại quốc tế :
Quan hệ thương mại quốc tế là sự tiếp tục trực tiếp các quan hệ sản xuất bên
trong của một quốc gia song nó được phát triển trong môi trường khác. Ở đó
thể hiện các quan hệ kinh tế hoàn toàn không giống các quan hệ kinh tế trong
nước. Sự phát triển các mối quan hệ thương mại quốc tế diễn ra giữa các chủ
thể trên thị trường theo những hình thức và phương pháp riêng biệt. Thương
mại quốc tế có nét đặc trưng đó là:
o Quan hệ trong thương mại quốc tế là mối quan hệ thỏa thuận tự
nguyện giữa các quốc gia độc lập, giữa các tổ chức kinh tế có tính chất pháp
nhân. Quan hệ thương mại quốc tế chỉ có thể phát triển trên cơ sở giữ vững
chủ quyền, thực hiện nguyên tắc bình đẳng và các bên tham gia cùng có lợi
thông qua các hợp đồng kinh tế và sự chấp nhận của các bên tham gia.
o Thương mại quốc tế diễn ra theo các yêu cầu của quy luật kinh tế
trong điều kiện nền kinh tế thế giới vận hành theo cơ chế thị trường.
o Thương mại quốc tế chịu sự tác động của các hệ thống quản lý
nhưng từ rất sớm các nhà kinh tế đã thừa nhận vai trò quan trọng của ngoại
thương nói chung và của xuất nhập khẩu nói riêng đối với sự phát triển kinh
tế của mỗi quốc gia. Từ thế kỷ XVI –XVII, trường phái trọng thương ở Tây
Âu mà đại biểu là Thomas Mum đã đề cao vai trò của ngoại thương đối với sự
giàu có của một quốc gia. Chủ nghĩa trọng thương là tư tưởng của giai cấp tư
sản trong giai đoạn phương thức sản xuất phong kiến tan rã, chủ nghĩa tư bản
mới ra đời. Ngoại thương lúc này là phương tiện để giai cấp tư sản thực hiện
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cướp bóc ở thuộc địa thông qua việc trao đổi không ngang giá, quốc gia này
giàu lên trên cơ sở quốc gia khác chịu bất lợi. Nhiều lập luận của chủ nghĩa
trọng thương đến nay vẫn còn giá trị. Đó là sớm đánh giá được vai trò quan
trọng của xuất nhập khẩu với sự phát triển kinh tế của quốc gia; Chỉ ra rằng
khi năng lực sản xuất trong nước vượt quá mức cầu thì lúc đó hạn chế nhập
khẩu khuyến khích xuất khẩu là việc một quốc gia cần theo đuổi. Các tác giả
chủ nghĩa trọng thương có lý khi cho rằng sự gia tăng mức cung tiền tệ sẽ có
tác dụng kích thích sản xuất trong nước. Tuy vậy nó còn khá nhiều điểm hạn
chế như chưa giải thích được bản chất bên trong của các hiện tượng kinh tế.
Quan niệm chưa đúng về bản chất của thương mại quốc tế, cho rằng chỉ có
một bên có lợi, một bên chịu thiệt, tổng lợi ích của thương mại quốc tế đem
lại cho nền kinh tế thế giới là 0.
Sang đến thế kỷ XVIII trở đi vai trò của ngoại thương được nhìn nhận
tổng thể với các lĩnh vực khác nhau, khắc phục được một số hạn chế của chủ
nghĩa trọng thương về thương mại quốc tế. Tiêu biểu là lý thuyết lợi thế tuyệt
đối của nhà kinh tế học người Anh Adam-Smith (1923- 1790). Ông là người
đầu tiên đưa ra sự phân tích có tính hệ thống về nguồn gốc của thương mại
quốc tế. Theo quan điểm này, một nước chỉ sản xuất các loại hàng hóa tốt
nhất các loại tài nguyên của quốc gia đó. Giả sử chỉ có hai quốc gia A và B.
Quốc gia A xét trong tương quan với quốc gia B tỏ ra có lợi thế hơn, hiệu quả
hơn trong việc sản xuất mặt hàng X và kém hiệu quả hơn trong việc sản xuất
gia khác nhau là yếu tố quan trọng quyết định hoạt động của thương mại quốc
tế. Mô hình thừa nhận rằng hàm sản xuất các loại hàng hóa khác nhau sử
dụng các yếu tố sản xuất theo tỷ lệ khác nhau nhưng hàm sản xuất cho bất kỳ
hàng hóa nào cũng giống nhau ở tất cả các nước. Cho rằng giả sử một quốc
gia có nguồn nhân lực dồi dào sẽ chuyên sâu vào sản xuất hàng hóa sử dụng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhiều lao động và nhập khẩu hàng hóa sử dụng các yếu tố công nghệ mà trong
nước khan hiếm. Lợi ích thương mại quốc tế sẽ tăng thêm, các quốc gia đều
có lợi. So với những lý thuyết cổ điển, lý thuyết H-O không những giải thích
được bản chất của lợi thế so sánh mà còn cho phép phân tích được tác động
của thương mại quốc tế đến giá cả các yếu tố sản xuất, đến quá trình phân
phối và phân phối lại thu nhập giữa các quốc gia. Tuy mô hình thể hiện những
khiếm khuyết trước thực tiễn hoạt động thương mại quốc tế diễn ra ngày càng
phát triển và phức tạp nhưng cho đến nay lý thuyết vẫn được sử dụng rộng rãi
để phân tích các vấn đề thương mại và tăng trưởng, thương mại và phân phối
thu nhập. Có ý nghĩa quan trọng đối với các nước đang phát triển tham gia hội
nhập vào kinh tế thế giới khi tận dụng lượng nhân công làm lợi thế cạnh tranh
để sản xuất các mặt hàng phù hợp.
1.1.3. Vai trò hoạt động xuất nhập khẩu với sự phát triển kinh tế
Xuất nhập khẩu là hoạt động trung tâm của thương mại quốc tế. Đây là
hệ thống các quan hệ mua bán trong một nền thương mại có tổ chức nhằm
mục đích đẩy mạnh sản xuất hàng hóa phát triển chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, cải thiện nâng cao mức sống của người
tiêu dùng. Trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động
xuất nhập khẩu mang lại nhiều tác động tích cực cũng như những ảnh hưởng
tiêu cực đến nền kinh tế.
Những tác động tích cực của hoạt động xuất nhập khẩu đối với nền
kinh tế:
- Xuất nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
xuất, mở rộng thị trường. Xuất nhập khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác
phát triển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Khi tham gia vào thị trường quốc tế, các nhà sản xuất trong nước
không chỉ cạnh tranh với nhau mà còn phải cạnh tranh với cả hàng hóa của
nước ngoài nhập khẩu vào. Do vậy xuất nhập khẩu tạo áp lực cạnh tranh đối
với hàng hóa sản xuất trong nước về chất lượng, giá cả hàng hóa và chất
lượng dịch vụ. Muốn phát triển, các doanh nghiệp phải đáp ứng được nhu cầu
của người tiêu dùng, hay nói cách khác phải đổi mới,hoàn thiện sản phẩm,
đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao tay nghề trình độ người lao động. Xuất
nhập khẩu nâng cao hiệu quả hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
- Tạo công ăn việc làm cho người lao động, nhất là ở các khu chế xuất,
khu công nghiệp, tăng thu nhập và mức sống cho người dân. Xuất nhập khẩu
tạo nên những chuyển biến mới về phân công lao động xã hội.
- Đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu góp phần mở rộng và thúc đẩy
quan hệ kinh tế đối ngoại, thúc đẩy quá trình liên kết kinh tế, xã hội giữa các
nước. Thông qua đó góp phần ổn định tình hình kinh tế chính trị của quốc gia,
khu vực và thế giới. Thật vậy thông thường hoạt động thương mại, hoạt động
xuất nhập khẩu ra đời sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại nên nó là cơ
sở để mở rộng quan hệ này phát triển. Ví dụ hoạt động xuất nhập khẩu phát
triển làm quan hệ tín dụng, thanh toán quốc tế, vân tải quốc tế… phát triển.
- Xuất nhập khẩu thúc đẩy quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào
trong nước.
- Thương mại quốc tế hay xuất nhập khẩu kích thích nhu cầu trong
nước và tạo ra những nhu cầu mới.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Những tác động tiêu cực của hoat động xuất nhập khẩu đối với nền
kinh tế
nghiệp không phải lúc nào cũng có đủ vốn để thanh toán tiền hàng nhập khẩu
hoặc đủ tiền thu mua hàng hóa để sản xuất sản phẩm xuất khẩu. Bên cạnh đó
nhiều doanh nghiệp đủ khả năng tài chính để xuất nhập khẩu hàng hóa nhưng
kinh doanh vẫn không đạt hiệu quả vì chưa có uy tín trên thị trường. Từ đó
nảy sinh quan hệ tín dụng giữa một bên là các ngân hàng với một bên là các
doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất nhập khẩu. Tín dụng là sự chuyển
nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng và sau
một thời gian nhất định được quay trở lại người sở hữu một lượng giá trị lớn
hơn giá trị ban đầu. Tín dụng xuất khẩu là loại hình tài trợ xuất khẩu cơ bản,
quan trọng và phổ biến nhất trong các loại hình tài trợ xuất khẩu, có bản chất
là sự cung cấp tín dụng trợ giúp tài chính cho người xuất khẩu trên cơ sở bên
cung cấp tín dụng và bên nhận tín dụng tin cậy lẫn nhau và cùng có lợi. Ta có
thể hiểu “ tín dụng xuất khẩu là sự cam kết, hỗ trợ về mặt tài chính để các nhà
xuất khẩu nước sở tại đẩy mạnh sản xuất, khuyến khích xuất khẩu, đồng thời giúp
các nhà nhập khẩu nước ngoài có đủ các điều kiện về tài chính để nhập khẩu
hàng hoá của nước đó“
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.2. Đặc điểm của tín dụng xuất khẩu
o Vốn vay phải sử dụng đúng mục đích
Đây là nguyên tắc quan trọng vì chỉ khi khách hàng sử dụng đúng mục
đích sản xuất kinh doanh, đúng pháp luật như đã cam kết thì khoản tín dụng
đươc cấp mới đảm bảo an toàn, ít rủi ro và có khả năng sinh lợi. Do vậy khi
nhận hồ sơ của khách hàng cán bộ tín dụng phải kiểm tra thẩm định chi tiết về
mục đích kinh doanh, thường xuyên theo dõi giám sát quá trình sủ dụng tiền
vay .
o Vốn vay phải được hoàn trả cả gốc lẫn lãi theo đúng thời hạn
Trong hợp đồng tín dụng, thỏa thuận giữa khách hàng và ngân hàng
bao gồm trị giá khoản tiền vay, lãi suất cho vay, tỷ giá các đồng tiền nếu vay
ngoại tệ, thời hạn trả tiền khoản vay ban đầu và phần lãi do thời hạn sử dụng
chi hộ cho khách hàng còn làm người đại diện cho nhà nhập khẩu thanh toán
tiền hàng cho nhà xuất khẩu. Nhà nhập khẩu được đảm bảo rằng họ sẽ nhận
được hàng đúng phẩm chất chất lượng như trong L/C. Cả nhà xuất khẩu và
nhập khẩu đều được lợi từ phương thức tài trợ L/C của ngân hàng. Tại thị
trường Châu Âu và Châu Mỹ các nhà xuất nhập khẩu rất ưa chuộng phương
thức L/C tuy nhiên thủ tục mở L/C này thường phức tạp và nhà nhập khẩu
phải trả chi phí khá cao. Tại Việt Nam nhà nhập khẩu muốn nhờ ngân hàng tài
trợ theo hình thức mở L/C phải bảo đảm được các điều kiện:
+ Phải có giấy phép đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu, doanh nghiệp
phải có tình hình tìa chính và kinh doanh ổn định.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Lô hàng hóa nhập khẩu về phải có kế hoạch kinh doanh và đảm bảo
được khả năng thanh toán.
+ Căn cứ vào uy tín, tình hình tài chính, khả năng thu lợi từ lô hàng
nhập khẩu của doanh nghiệp mà ngân hàng mở L/C sẽ quyết định mức ký quỹ
L/C. Khi quyết định mở L/C tài trợ cho nhà nhập khẩu tức là ngân hàng đã
đồng ý thanh toán cho nhà xuất khẩu ngay cả khi nhà nhập khẩu có khả năng
thanh toán cho mình hay không. Để hạn chế rủi ro này ngân hàng phát hành
sẽ bắt nhà nhập khẩu cầm cố tài khoản thế chấp, ký quỹ 100% L/C.
b. Tín dụng chấp nhận hối phiếu
Loại tín dụng này đảm bảo cho người hưởng tín dụng được sử dụng để
thanh toán hối phiếu khi đến hạn. Người vay khoản tín dụng này chính là nhà
nhâp khẩu. Đây là một hình thức, một sự bảo đảm về tài chính và ngân hàng
chưa phải xuất tiền vay thực sự. Nhà nhập khẩu phải vay mượn về mặt danh
nghĩa để có được sự chấp nhận trên hối phiếu của ngân hàng theo đề nghị của
nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu phải trả phí cho khoản vay tín dụng này. Khi
tới hạn thanh toán, nếu nhà nhập khẩu không đủ khả năng thanh toán thì ngân
hàng chấp nhận hối phiếu sẽ phải tiền cho nhà xuất khẩu. Hối phiếu có sự bảo
đảm của ngân hàng thể hiện sự đảm bảo chắc chắn về khả năng thanh toán,
chuyển với nước ngoài, đồng thời đảm nhận những rủi ro gắn liền với các hoạt
động đó. Các hình thức của tín dụng trong hoạt động xuất khẩu:
a. Cấp tín dụng thực hiện hợp đồng ngoại thương,theo L/C đã mở
Ngân hàng sẽ quyết định tài trợ cho doanh nghiệp thực hiện sản xuất
kinh doanh hàng xuất khẩu sau khi xem xét các hợp đồng ngoại thương, đơn
đặt hàng, theo L/C đã mở….Ngân hàng tài trợ theo phương thức thanh toán
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
L/C thường là các ngân hàng thanh toán, và tài trợ trước khi giao hàng. Tùy
theo từng điều kiện mà nhà xuất khẩu có thể vay theo từng lần hoặc theo hạn
mức. Vay theo hạn mức là hình thức doanh nghiệp vay ngân hàng căn cứ vào
tình hình sản xuất kinh doanh để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động theo một thời
hạn nhất định. Mỗi lần giải ngân doanh nghiệp không phải làm hồ sơ như vay
theo từng lần mà chỉ cần lập phương án kinh doanh. Vay từng lần là khoản
vay dựa theo nhu cầu vốn của từng phương án cụ thể của nhà xuất khẩu, thời
hạn được vay không quá một năm. Thông thường ngân hàng sẽ không tài trợ
toàn bộ giá trị hàng hóa mà chỉ tài trợ khoảng 70% đến 80% giá trị lô hàng
xuất khẩu, còn lại nhà xuất khẩu sẽ tự huy động.
b. Tín dụng ứng trước, tín dụng chiết khấu chứng từ hàng xuất khẩu
Sau khi giao hàng cho nhà nhập khẩu mà chưa nhận được tiền thanh
toán, nhà xuất khẩu vẫn có nhu cầu về vốn để sản xuất kinh doanh. Lúc này
nhà xuất khẩu có thể thỏa thuận với ngân hàng hoặc chiết khấu bộ chứng từ
hoặc ứng trước tiền khi bộ chứng từ được thanh toán. Hình thức tài trợ này
giúp nhà xuất khẩu nhận được tiền sớm hơn nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn
đối với khoản tín dụng cung ứng hàng mà anh ta đã cấp cho nhà nhập khẩu.
Với hình thức tín dụng ứng trước những giấy tờ có giá trị như hóa đơn
thương mại, vận đơn, hợp đồng bảo hiểm… có thể là vật tín chấp cho ngân
hàng. Nhà xuất khẩu chuyển nhượng giấy này cho ngân hàng để được cấp tín
dụng ứng trước. Mức độ cấp tín dụng cho nguời xuất khẩu phụ thuộc vào các
yếu tố như khả năng thanh toán, khả năng cạnh tranh của hàng hóa.
nhà xuất khẩu sang cho ngân hàng để lấy ngay số tiền ứng với mệnh giá ghi
trên hối phiếu khi đã trừ đi lãi suất, và phí chiết khấu.
1.2.3.3 Bảo lãnh tham gia xuất nhập khẩu
Bảo lãnh ngân hàng là hình thức các ngân hàng đứng ra nhận bảo lãnh
cho các doanh nghiệp tham gia thị trường thương mại quốc tế để tăng uy tín
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cho doanh nghiệp, hạn chế các rủi ro trong thương mại. Nhà nhập khẩu cần sự
bảo lãnh của ngân hàng khi nhà xuất khẩu yêu cầu vì họ chưa có thông tin đầy
đủ về tình hình tài chính, khả năng thanh toán tiền hàng. Ngân hàng sẽ ký xác
nhận bảo lãnh đối với hối phiếu, lệnh phiếu, phát hành thư bảo lãnh…. Cũng
tương tự, nhà nhập khẩu yêu cầu nhà xuất khẩu phải có ngân hàng bảo lãnh vì
họ chưa tin tưởng vào khả năng thực hiện hợp động ngoại thương. Một số loại
bảo lãnh mà ngân hàng dành cho nhà xuất khẩu là bảo lãnh thực hiện hợp
đồng, bảo lãnh bảo hành… Có hai loại bảo lãnh là bảo lãnh vô điều kiện, tức
là ngân hàng sẽ thanh toán cho người hưởng lợi nếu người được bảo lãnh vi
pham hợp đồng mà không cần xuất trình các thư bảo lãnh chứng minh. Loại
bảo lãnh thứ hai là bảo lãnh có điều kiện, tức là người hưởng lợi chỉ được
thanh toán khi xuất trình được các chứng thư cần thiết.
1.2.4 Quy trình cấp tín dụng xuất khẩu
Khách hàng có nhu cầu vay vốn tín dụng của ngân hàng, họ sẽ lập một
bộ hồ sơ mang đến ngân hàng để xin tài trợ. Bộ hồ sơ thường gồm 3 loại
chính: hồ sơ pháp lý, hồ sơ kinh tế và hồ sơ vay vốn. Với trường hợp khách
hàng vay vốn tín dụng để sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu thì phải kèm
theo hợp đồng ngoại thương hoặc hợp đồng sản xuất chế biến hàng hóa xuất
khẩu. Sau khi gửi bộ hồ sơ xin vay vốn đến ngân hàng, cán bộ tín dụng sẽ
thẩm định lại các thông tin của khách hàng qua bộ hồ sơ và phỏng vấn trực
tiếp khách hàng của mình. Công tác thẩm định làm tốt sẽ hạn chế được các rủi
ro tín dụng có thể xay ra. Nội dung của quá trình thẩm định: Thẩm định tính
hợp pháp của hồ sơ pháp lý, khả năng tài chính của khách hàng, thẩm định
mua cao hơn tỷ giá bán cho các doanh nghiệp. Để hạn chế rủi ro hối đoái các
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
doanh nghiệp ký kết với ngân hàng hợp đồng kỳ hạn, họp đồng hoán đổi…
Rủi ro xuất phát từ phía ngân hàng có thể là do quá trình thẩm định hồ sơ
khách hàng của cán bộ tín dụng không được chính xác, do sụ gian lận của
khách hàng, vi phạm đạo đức nghề nghiệp của cán bộ ngân hàng…
1.3. Tín dụng xuất khẩu với hoạt động xuất nhập khẩu
1.3.1. Vai trò tín dụng xuất khẩu với nền kinh tế
Tín dụng xuất khẩu góp phần tăng trưởng kinh tế cả mặt lượng và chất,
tác động trực tiếp đến quan hệ tích lũy, tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư, từ đó
tác động đến tăng trưởng kinh tế. Khả năng sản xuất của một quốc gia được
thể hiện bằng chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc dân. Tín dụng xuất khẩu thông qua
việc huy đông vốn và cho vay vốn góp phần vào khai thác hiệu quả các nguồn
lực xã hội, nhằm thực hiện GDP thực tế cân bằng với GDP tiềm năng.
Tín dụng xuất khẩu tăng làm kim ngạch, doanh thu xuất nhập khẩu,
tăng nguồn thu thuế vào ngân sách Nhà nước( thu thuế nhập khẩu, thuế thu
nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân). Tạo việc làm cho người lao động
do doanh nghiệp vay vốn tín dụng xuất khẩu kinh doanh có hiệu quả, mở rộng
sản xuất.
Nhờ có sự tài trợ vốn của ngân hàng làm hàng hóa xuất nhập khẩu lưu
thông trôi chảy, không bị gián đoạn, tăng tính năng động của nền kinh tế, góp
phần ổn định thị trường.
1.3.2 Vai trò của tín dụng xuất khẩu với hoạt đông xuất nhập khẩu
Hoạt động xuất nhập khẩu có vai trò quan trọng đối với sự phát triển
của nền kinh tế. Để hoạt động này ngày càng phát triển thì ngoài nỗ lực của
bản thân các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, định hướng phát triển xuất nhập
khẩu của Nhà nước còn cần có sự hỗ trợ của các ngân hàng, các định chế tài
chính đẻcung cấp nguồn vốn cho doanh nghiệp. Tín dụng xuất khẩu góp phần
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tín dụng xuất khẩu góp phần làm tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu cả
nước, thúc đẩy kinh tế phát triển.
1.3.3 Vai trò của tín dụng xuất khẩu với các doanh nghiệp thực hiện
hoạt động xuất nhập khẩu
Nhờ nguồn vốn tín dụng xuất khẩu được ngân hàng cấp, các doanh
nghiệp đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục không bị
gián đoạn do thiếu vốn sản xuất kinh doanh, tận dụng được các cơ hội kinh
doanh. Doanh nghiệp có thể thực hiện được các hợp đồng ngoại thương giá trị
lớn, tăng hiệu quả kinh doanh. Nhà xuất khẩu nhờ vốn tín dụng để thu mua
chế biến hàng xuất khẩu đúng thời vụ với giá rẻ hơn, thực hiện được theo
đúng hợp đồng ngoại thương đã ký. Nhà nhập khẩu mua được những lô hàng
lớn, giá cả phù hợp…
Tín dụng xuất khẩu giúp hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho các doanh
nghiệp, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, thâm nhập vào thị trường quốc
tế dễ dàng hơn. Không phải lúc nào các doanh nghiệp cũng chỉ sử dụng vốn
tự có của mình để sản xuất kinh doanh vì như vậy nếu gặp rủi ro ảnh hưởng
đến toàn bộ vốn chủ sơ hữu của anh ta. Mặt khác chỉ sử dụng vốn tự có sẽ hạn
chế khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng chi phí về vốn cho doanh
nghiệp. Do vậy sử dụng vốn tín dụng của ngân hàng là cách làm phổ biến của
các doanh nghiệp. Nguồn vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một phần nhỏ trong
phương án, dự án kinh doanh, còn lại là khoản tín dụng do ngân hàng cấp.
Tuy nhiên nếu tình trang nợ quá cao sẽ dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh
toán. Tỷ lệ nợ cao làm tăng rủi ro lượng tiền chảy vào doanh nghiệp, dẫn đến
mức lãi suất mong đợi cao hơn. Do đó hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho
doanh nghiệp.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tín dụng xuất khẩu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Do phải trả khoản chi phí lãi vay và tiền gốc trong một khoảng thời gian đã
định trước buộc doanh nghiệp làm ăn kinh doanh phải tính toán chi phí phù
Việt Nam
2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát riển của ngân hàng Phát triển Việt
Nam
Để thực hiện mục tiêu phát triển, Chính phủ thường sử dụng các công
cụ của mình để đầu tư vào các lĩnh vực mà khu vực tư nhân không thể thực
hiện được như các dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, các dự án mang tầm
chiến lược quốc gia, thuộc ngành kinh tế mũi nhọn, các dự án thuộc vùng khó
khăn, kém phát triển thường đòi hỏi lượng vốn lớn nhưng thời gian thu hồi
vốn chậm, các nhà đầu tư thường không muốn hoặc không có khả năng đầu
tư. Thực hiện chủ trương trên, Quỹ hỗ trợ Phát triển được thành lập theo Nghị
định số 50/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999 của Chính phủ. Tổ chức và hoạt
động theo Điều lệ ban hành kèm theo Quyết định số 231/1999/QĐ-TTg ngày
17/12/1999 của Thủ tướng Chính phủ. Từ tháng 9/2001, Quỹ được bổ sung
nhiệm vụ tín dụng hỗ trợ xuất khẩu theo Quyết định số 133/2001/QĐ-TTg
của Thủ tướng Chính phủ.
Việc hình thành và phát triển hệ thống Quỹ Hỗ trợ và Phát triển để thực
hiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là bước kế tiếp thành
công của sự đổi mới mô hình tổ chức tài chính của Chính phủ trong điều hành
kinh tế vĩ mô. Trong điều kiện khả năng tích luỹ của ngân sách Nhà nước cho
đầu tư phát triển có hạn, cùng với các chính sách thu hút đầu tư, việc thành
Website: Email : Tel : 0918.775.368