Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đã và đang trong quá trình hội nhập với nền kinh
tế các nước trong khu vực và trên thế giới. Quan hệ kinh tế đối ngoại đặc biệt
là hoạt động thương mại quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển
kinh tế, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Kim
ngạch xuất nhập khẩu của nước ta trong các năm qua tăng liên tục và giảm
dần tỷ lệ nhập siêu. Tuy nhiên xu thế hội nhập đặt ra cho các doanh nghiệp
đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu cần nhiều vốn hơn để
thực hiện có hiêu quả các hợp đồng ngoại thương. Khả năng tài chính có hạn,
các doanh nghiệp xuất nhập khẩu không phải lúc nào cũng có đủ tiền để thanh
toán hàng nhập khẩu hoặc đủ vốn để thu mua nguyên liệu chế biến hàng xuất
khẩu, từ đó nảy sinh quan hệ vay mượn và tài trợ của các ngân hàng (hay còn
gọi là tín dụng). Tín dụng xuất khẩu ra đời là tất yếu khách quan gắn liền với
quan hệ mua bán ngoại thương giữa các nước. Tín dụng xuất khẩu đáp ứng
được nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, giúp các doanh
nghiệp này tăng trưởng, hoạt động hiệu quả hơn. Nó còn đóng vai trò quan
trọng thúc đẩy hoạt động ngoại thương, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Ngân hàng Phát triển Việt Nam là ngân hàng hoạt động trên tinh thần
một Ngân hàng chính sách của Chính phủ, thực hiện chính sách đầu tư phát
triền và chính sách xuất khẩu của Nhà nước. Sau thời gian thực tập tại Ngân
hàng Phát triển, trên cơ sở nghiên cứu mối quan hệ giữa tín dụng xuất khẩu và
hoạt động xuất nhập khẩu, ảnh hưởng của tín dụng xuất khẩu tới các doanh
nghiệp vay vốn của ngân hàng để kinh doanh xuất nhập khẩu em đã chọn đề
tài: “Mối quan hệ giữa tín dụng xuất khẩu và hoạt động xuất nhập khẩu
(nghiên cứu tại Ngân hàng Phát triên Việt Nam )” làm đề tài chuyên đề thực
tập.
Hoàng Thị Hương TMQT 46
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
quốc tế vừa được coi là một quá trình kinh tế, vừa được coi là một ngành kinh
tế. Với tư cách là một quá trình kinh tế, thương mại quốc tế được hiểu là một
quá trình bắt đầu từ khâu điều tra nghiên cứu thị trường cho đến khâu sản xuất
kinh doanh, phân phối, lưu thông và tiêu dùng sản phẩm. Với tư cách là một
ngành kinh tế, thương mại quốc tế là một lĩnh vực chuyên môn hóa có tổ
chức, phân công và hợp tác, có cơ sở vật chất kỹ thuật, có lao động, vốn….
Cơ sở kinh tế cho thương mại quốc tế là sự phân công lao động,
hợp tác quốc tế. Lịch sử phát triển của mọi quốc gia độc lập cho thấy xu
hướng tất yếu để tồn tại và phát triển thì quốc gia đó phải thực hiện chính
sách mở cửa, tăng cường hợp tác quốc tế. Phân công lao động, hợp tác quốc tế
phát triển mạnh làm cho lực lượng sản xuất xã hội phát triển, là động lực chủ
yếu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đưa đến sự cần thiết phải có sự trao đổi
sản phẩm giữa các chủ thể kinh doanh. Thương mại quốc tế làm cho nền kinh
tế thế giới như một chỉnh thể, nền kinh tế mỗi quốc gia như các bộ phận hợp
thành có quan hệ khăng khít với nhau.
Hoàng Thị Hương TMQT 46
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đặc trưng của thương mại quốc tế :
Quan hệ thương mại quốc tế là sự tiếp tục trực tiếp các quan hệ sản xuất bên
trong của một quốc gia song nó được phát triển trong môi trường khác. Ở đó
thể hiện các quan hệ kinh tế hoàn toàn không giống các quan hệ kinh tế trong
nước. Sự phát triển các mối quan hệ thương mại quốc tế diễn ra giữa các chủ
thể trên thị trường theo những hình thức và phương pháp riêng biệt. Thương
mại quốc tế có nét đặc trưng đó là:
o Quan hệ trong thương mại quốc tế là mối quan hệ thỏa thuận tự
nguyện giữa các quốc gia độc lập, giữa các tổ chức kinh tế có tính chất pháp
nhân. Quan hệ thương mại quốc tế chỉ có thể phát triển trên cơ sở giữ vững
chủ quyền, thực hiện nguyên tắc bình đẳng và các bên tham gia cùng có lợi
thông qua các hợp đồng kinh tế và sự chấp nhận của các bên tham gia.
mại quốc tế ngày càng mở rộng. Hoạt động xuất nhập khẩu ra đời, tồn tại và
phát triển luôn gắn liền với lợi ích của mỗi quốc gia.
1.1.2 Các lý thuyết về thương mại quốc tế
Tuy cách tiếp cận và nhìn nhận vai trò của ngoại thương có khác nhau
nhưng từ rất sớm các nhà kinh tế đã thừa nhận vai trò quan trọng của ngoại
thương nói chung và của xuất nhập khẩu nói riêng đối với sự phát triển kinh
tế của mỗi quốc gia. Từ thế kỷ XVI –XVII, trường phái trọng thương ở Tây
Âu mà đại biểu là Thomas Mum đã đề cao vai trò của ngoại thương đối với sự
giàu có của một quốc gia. Chủ nghĩa trọng thương là tư tưởng của giai cấp tư
sản trong giai đoạn phương thức sản xuất phong kiến tan rã, chủ nghĩa tư bản
mới ra đời. Ngoại thương lúc này là phương tiện để giai cấp tư sản thực hiện
cướp bóc ở thuộc địa thông qua việc trao đổi không ngang giá, quốc gia này
giàu lên trên cơ sở quốc gia khác chịu bất lợi. Nhiều lập luận của chủ nghĩa
trọng thương đến nay vẫn còn giá trị. Đó là sớm đánh giá được vai trò quan
trọng của xuất nhập khẩu với sự phát triển kinh tế của quốc gia; Chỉ ra rằng
Hoàng Thị Hương TMQT 46
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
khi năng lực sản xuất trong nước vượt quá mức cầu thì lúc đó hạn chế nhập
khẩu khuyến khích xuất khẩu là việc một quốc gia cần theo đuổi. Các tác giả
chủ nghĩa trọng thương có lý khi cho rằng sự gia tăng mức cung tiền tệ sẽ có
tác dụng kích thích sản xuất trong nước. Tuy vậy nó còn khá nhiều điểm hạn
chế như chưa giải thích được bản chất bên trong của các hiện tượng kinh tế.
Quan niệm chưa đúng về bản chất của thương mại quốc tế, cho rằng chỉ có
một bên có lợi, một bên chịu thiệt, tổng lợi ích của thương mại quốc tế đem
lại cho nền kinh tế thế giới là 0.
Sang đến thế kỷ XVIII trở đi vai trò của ngoại thương được nhìn nhận
tổng thể với các lĩnh vực khác nhau, khắc phục được một số hạn chế của chủ
nghĩa trọng thương về thương mại quốc tế. Tiêu biểu là lý thuyết lợi thế tuyệt
đối của nhà kinh tế học người Anh Adam-Smith (1923- 1790). Ông là người
kinh tế hiện đại.
Mô hình H-O do nhà kinh tế học E.Heckscher(1897-1952) và
B.Ohlin(1899-1979) kế thừa lý thuyết lợi thế tương đối và bổ sung thêm một
số luận điểm mới khi xem xét tới chi phí cơ hội và quy luật tỷ lệ cân đối các
yếu tố sản xuất. Hai ông cho rằng chính mức độ sẵn có của yếu tố sản xuất và
hàm lượng các yếu tố sản xuất sử dụng để sản xuất ra sản phẩm đó ở các quốc
gia khác nhau là yếu tố quan trọng quyết định hoạt động của thương mại quốc
tế. Mô hình thừa nhận rằng hàm sản xuất các loại hàng hóa khác nhau sử
dụng các yếu tố sản xuất theo tỷ lệ khác nhau nhưng hàm sản xuất cho bất kỳ
hàng hóa nào cũng giống nhau ở tất cả các nước. Cho rằng giả sử một quốc
gia có nguồn nhân lực dồi dào sẽ chuyên sâu vào sản xuất hàng hóa sử dụng
nhiều lao động và nhập khẩu hàng hóa sử dụng các yếu tố công nghệ mà trong
nước khan hiếm. Lợi ích thương mại quốc tế sẽ tăng thêm, các quốc gia đều
có lợi. So với những lý thuyết cổ điển, lý thuyết H-O không những giải thích
được bản chất của lợi thế so sánh mà còn cho phép phân tích được tác động
Hoàng Thị Hương TMQT 46
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
của thương mại quốc tế đến giá cả các yếu tố sản xuất, đến quá trình phân
phối và phân phối lại thu nhập giữa các quốc gia. Tuy mô hình thể hiện những
khiếm khuyết trước thực tiễn hoạt động thương mại quốc tế diễn ra ngày càng
phát triển và phức tạp nhưng cho đến nay lý thuyết vẫn được sử dụng rộng rãi
để phân tích các vấn đề thương mại và tăng trưởng, thương mại và phân phối
thu nhập. Có ý nghĩa quan trọng đối với các nước đang phát triển tham gia hội
nhập vào kinh tế thế giới khi tận dụng lượng nhân công làm lợi thế cạnh tranh
để sản xuất các mặt hàng phù hợp.
1.1.3. Vai trò hoạt động xuất nhập khẩu với sự phát triển kinh tế
Xuất nhập khẩu là hoạt động trung tâm của thương mại quốc tế. Đây là
hệ thống các quan hệ mua bán trong một nền thương mại có tổ chức nhằm
mục đích đẩy mạnh sản xuất hàng hóa phát triển chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
tốt hơn. Nhập khẩu sẽ tạo nên những động lực để thúc đẩy xuất khẩu (nhập
khẩu các yếu tố của sản xuất để tiến hành sản xuất ra sản phẩm và xuất khẩu
ra nước ngoài). Nhập khẩu các yếu tố sản xuất để tăng cường cơ sở vật chất
kỹ thuật, công nghệ hiện đại nhằm làm tăng khả năng sản xuất. Xuất khẩu tạo
nguồn ngoại tệ để phục vụ lại nhập khẩu, tích lũy để phát triển sản xuất, tạo
điều kiện cho quốc gia có được nguồn ngoại tệ mạnh. Xuất khẩu và nhập
khẩu vừa là tiền đề, vừa là kết quả của nhau. Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu
để tăng khả năng nhập khẩu và ngược lại thúc đẩy nhập khẩu để mở rộng sản
xuất, mở rộng thị trường. Xuất nhập khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác
phát triển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Khi tham gia vào thị trường quốc tế, các nhà sản xuất trong nước
không chỉ cạnh tranh với nhau mà còn phải cạnh tranh với cả hàng hóa của
nước ngoài nhập khẩu vào. Do vậy xuất nhập khẩu tạo áp lực cạnh tranh đối
Hoàng Thị Hương TMQT 46
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
với hàng hóa sản xuất trong nước về chất lượng, giá cả hàng hóa và chất
lượng dịch vụ. Muốn phát triển, các doanh nghiệp phải đáp ứng được nhu cầu
của người tiêu dùng, hay nói cách khác phải đổi mới,hoàn thiện sản phẩm,
đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao tay nghề trình độ người lao động. Xuất
nhập khẩu nâng cao hiệu quả hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
- Tạo công ăn việc làm cho người lao động, nhất là ở các khu chế xuất,
khu công nghiệp, tăng thu nhập và mức sống cho người dân. Xuất nhập khẩu
tạo nên những chuyển biến mới về phân công lao động xã hội.
- Đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu góp phần mở rộng và thúc đẩy
quan hệ kinh tế đối ngoại, thúc đẩy quá trình liên kết kinh tế, xã hội giữa các
nước. Thông qua đó góp phần ổn định tình hình kinh tế chính trị của quốc gia,
khu vực và thế giới. Thật vậy thông thường hoạt động thương mại, hoạt động
xuất nhập khẩu ra đời sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại nên nó là cơ
sở để mở rộng quan hệ này phát triển. Ví dụ hoạt động xuất nhập khẩu phát
trong thời kỳ hội nhập là vấn đề có ý nghĩa chiến lược của quốc gia, góp phần
thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
1.2. Tín dụng xuất khẩu
ơ
1.2.1. Khái niệm tín dụng xuất nhập khẩu
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, thương mại thế giới ngày càng
mở rộng, nhu cầu về hàng hóa, thị trường tiêu thụ trở nên cấp bách, mỗi
doanh nghiệp tham gia vào thương mại quốc tế cần phải khai thác tối đa cơ
hội, lợi thế của mình. Tuy nhiên do khả năng tài chính có hạn, các doanh
nghiệp không phải lúc nào cũng có đủ vốn để thanh toán tiền hàng nhập khẩu
hoặc đủ tiền thu mua hàng hóa để sản xuất sản phẩm xuất khẩu. Bên cạnh đó
nhiều doanh nghiệp đủ khả năng tài chính để xuất nhập khẩu hàng hóa nhưng
kinh doanh vẫn không đạt hiệu quả vì chưa có uy tín trên thị trường. Từ đó
Hoàng Thị Hương TMQT 46
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nảy sinh quan hệ tín dụng giữa một bên là các ngân hàng với một bên là các
doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất nhập khẩu. Tín dụng là sự chuyển
nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng và sau
một thời gian nhất định được quay trở lại người sở hữu một lượng giá trị lớn
hơn giá trị ban đầu. Tín dụng xuất khẩu là loại hình tài trợ xuất khẩu cơ bản,
quan trọng và phổ biến nhất trong các loại hình tài trợ xuất khẩu, có bản chất
là sự cung cấp tín dụng trợ giúp tài chính cho người xuất khẩu trên cơ sở bên
cung cấp tín dụng và bên nhận tín dụng tin cậy lẫn nhau và cùng có lợi. Ta có
thể hiểu “ tín dụng xuất khẩu là sự cam kết, hỗ trợ về mặt tài chính để các nhà
xuất khẩu nước sở tại đẩy mạnh sản xuất, khuyến khích xuất khẩu, đồng thời giúp
các nhà nhập khẩu nước ngoài có đủ các điều kiện về tài chính để nhập khẩu
hàng hoá của nước đó“
1.2.2. Đặc điểm của tín dụng xuất khẩu
o Vốn vay phải sử dụng đúng mục đích
a. Cấp tín dụng thông qua mở L/C thanh toán hàng nhập khẩu
Doanh nghiệp khi nhập khẩu hàng hóa thường phải mở L/C theo yêu
cầu của nhà xuất khẩu. Lúc này nhà nhập khẩu sẽ yêu cầu ngân hàng đại diện
cho mình mở L/C ( khi đã hoàn tất các thủ tục xin mở L/C ). Ngân hàng sau
khi xem xét tình hình của doanh nghiệp nhập khẩu sẽ thông báo mức ký gửi
mà doanh nghiệp phải nộp và số vốn tín dụng ngân hàng sẽ cấp. Khi ngân
hàng đồng ý mở L/C cho nhà nhập khẩu nghĩa là ngân hàng đã cam kết trả
tiền cho người hưởng lợi nếu họ xuất trình được bộ chứng từ hợp lệ. Vì vậy
khi đến hạn thanh toán mà nhà nhập khẩu không có đủ khả năng tài chính
hoặc không muốn trả nợ thì ngân hàng mở L/C sẽ gặp rủi ro. Vai trò của
ngân hàng trong phường thức này ngoài đảm nhiệm vai trò trung gian thu hộ
chi hộ cho khách hàng còn làm người đại diện cho nhà nhập khẩu thanh toán
tiền hàng cho nhà xuất khẩu. Nhà nhập khẩu được đảm bảo rằng họ sẽ nhận
Hoàng Thị Hương TMQT 46
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
được hàng đúng phẩm chất chất lượng như trong L/C. Cả nhà xuất khẩu và
nhập khẩu đều được lợi từ phương thức tài trợ L/C của ngân hàng. Tại thị
trường Châu Âu và Châu Mỹ các nhà xuất nhập khẩu rất ưa chuộng phương
thức L/C tuy nhiên thủ tục mở L/C này thường phức tạp và nhà nhập khẩu
phải trả chi phí khá cao. Tại Việt Nam nhà nhập khẩu muốn nhờ ngân hàng tài
trợ theo hình thức mở L/C phải bảo đảm được các điều kiện:
+ Phải có giấy phép đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu, doanh nghiệp
phải có tình hình tìa chính và kinh doanh ổn định.
+ Lô hàng hóa nhập khẩu về phải có kế hoạch kinh doanh và đảm bảo
được khả năng thanh toán.
+ Căn cứ vào uy tín, tình hình tài chính, khả năng thu lợi từ lô hàng
nhập khẩu của doanh nghiệp mà ngân hàng mở L/C sẽ quyết định mức ký quỹ
L/C. Khi quyết định mở L/C tài trợ cho nhà nhập khẩu tức là ngân hàng đã
đồng ý thanh toán cho nhà xuất khẩu ngay cả khi nhà nhập khẩu có khả năng
Nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp đầu tư đổi mới trang thiết bị, công
nghệ để phát triển sản xuất, các ngân hàng cung cấp các dịch vụ thuê mua tài
chính. Leasing giúp các doanh nghiệp sử dụng linh hoạt đồng vốn của mình,
thay vì phải đầu tư mua tài sản mới doanh nghiệp có thể nhờ khoản tín dụng
của ngân hàng cấp để thuê tài sản, tận dụng được các cơ hội kinh doanh. Nếu
doanh nghiệp thiếu vốn, phải bán tài sản thì ngân hàng có thể mua lại tài sản
đó và cho doanh nghiệp thuê lại. Như vậy doanh nghiệp vẫn giải quyết được
vấn đề về vốn lưu động mà vẫn bảo đảm sản xuất kinh doanh.
1.2.3.2. Tín dụng trong hoạt động xuất khẩu
Với hoạt động xuất khẩu ngày càng đa dạng, phức tạp và cạnh tranh gay
gắt, vai trò hỗ trợ của ngân hàng là cực kỳ quan trọng. Các ngân hàng không chỉ
hỗ trợ về mặt tài chính để nhà xuất khẩu hoàn tất nghĩa vụ thanh toán mà còn hỗ
trợ về mặt kỹ thuật, đảm bảo quá trình thanh toán cho những hoạt động chu
Hoàng Thị Hương TMQT 46
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
chuyển với nước ngoài, đồng thời đảm nhận những rủi ro gắn liền với các hoạt
động đó. Các hình thức của tín dụng trong hoạt động xuất khẩu:
a. Cấp tín dụng thực hiện hợp đồng ngoại thương,theo L/C đã mở
Ngân hàng sẽ quyết định tài trợ cho doanh nghiệp thực hiện sản xuất
kinh doanh hàng xuất khẩu sau khi xem xét các hợp đồng ngoại thương, đơn
đặt hàng, theo L/C đã mở….Ngân hàng tài trợ theo phương thức thanh toán
L/C thường là các ngân hàng thanh toán, và tài trợ trước khi giao hàng. Tùy
theo từng điều kiện mà nhà xuất khẩu có thể vay theo từng lần hoặc theo hạn
mức. Vay theo hạn mức là hình thức doanh nghiệp vay ngân hàng căn cứ vào
tình hình sản xuất kinh doanh để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động theo một thời
hạn nhất định. Mỗi lần giải ngân doanh nghiệp không phải làm hồ sơ như vay
theo từng lần mà chỉ cần lập phương án kinh doanh. Vay từng lần là khoản
vay dựa theo nhu cầu vốn của từng phương án cụ thể của nhà xuất khẩu, thời
hạn được vay không quá một năm. Thông thường ngân hàng sẽ không tài trợ
thu và dịch vụ thu hộ. Đây là hình thức tài trợ ngắn hạn đối với nhà xuất khẩu
của ngân hàng. Ngân hàng sẽ mua lại các chứng từ thanh toán, các khoản nợ
chưa đến ngày thanh toán, họ sẽ trực tiếp đòi người nợ người nhập khẩu và
thu khoản phí của nhà xuất khẩu. Factoring giúp doanh nghiệp xuất khẩu có
ngay vốn để sản xuất kinh doanh ngay khi bán xong hàng, giảm các khoản
phải thu còn tồn đọng, giảm chi phí cho việc thu hồi nợ. Nhà xuất khẩu có thể
mở rộng sản xuất kinh doanh, bán được nhiều hàng hóa hơn, tăng sức cạnh
tranh do mở rộng tín dụng cho khách hàng mà không ảnh hưởng đến dòng
tiền lưu động của mình. Với nhà nhập khẩu cũng được hưởng lợi từ nghiệp vụ
bao thanh toán này. Họ có thể được mua hàng trả chậm từ phía đối tác, do vậy
nhu cầu mua hàng hóa tăng lên mà không phải dùng đến các hạn mức tín
Hoàng Thị Hương TMQT 46
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
dụng hiện có. Ngân hàng sẽ giữ tất cả sổ sách bán hàng của nhà xuất khẩu và
ứng trước tiền cho người xuất khẩu, khoảng 75% đến 90% giá trị khoản nợ.
d. Chiết khấu hối phiếu
Đây là hình thức chuyển quyền sở hữu các hối phiếu chưa đến hạn từ
nhà xuất khẩu sang cho ngân hàng để lấy ngay số tiền ứng với mệnh giá ghi
trên hối phiếu khi đã trừ đi lãi suất, và phí chiết khấu.
1.2.3.3 Bảo lãnh tham gia xuất nhập khẩu
Bảo lãnh ngân hàng là hình thức các ngân hàng đứng ra nhận bảo lãnh
cho các doanh nghiệp tham gia thị trường thương mại quốc tế để tăng uy tín
cho doanh nghiệp, hạn chế các rủi ro trong thương mại. Nhà nhập khẩu cần sự
bảo lãnh của ngân hàng khi nhà xuất khẩu yêu cầu vì họ chưa có thông tin đầy
đủ về tình hình tài chính, khả năng thanh toán tiền hàng. Ngân hàng sẽ ký xác
nhận bảo lãnh đối với hối phiếu, lệnh phiếu, phát hành thư bảo lãnh…. Cũng
tương tự, nhà nhập khẩu yêu cầu nhà xuất khẩu phải có ngân hàng bảo lãnh vì
họ chưa tin tưởng vào khả năng thực hiện hợp động ngoại thương. Một số loại
bảo lãnh mà ngân hàng dành cho nhà xuất khẩu là bảo lãnh thực hiện hợp
thu lãi, và thu nợ theo đúng hợp đồng đã ký kết.
1.2.5. Rủi ro tín dụng xuất khẩu
Rủi ro tín dụng là các tổn thất mà ngân hàng cấp tín dụng cho khách
hàng phải chịu do nguời vay vốn không đủ khả năng thanh toán hoặc không
trả nợ đúng hạn như trong hợp đồng tín dụng đã ký. Hoạt động xuất nhập
khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán vượt ra khỏi biên giới quốc gia, vì
vậy tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Do vậy mà các ngân hàng khi cấp tín dụng xuất
khẩu cũng gặp rủi ro khi các doanh nghiệp xuất nhập khẩu không thực hiện
đúng hợp đồng tín dụng. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro có thể là do các
doanh nghiệp không có khả năng thanh toán hoặc cố tình không thanh toán,
Hoàng Thị Hương TMQT 46
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái hoặc rủi ro từ bản thân của ngân hàng do tác
nghiệp, do đạo đức của cán bộ tín dụng..v.v..
Rủi ro lãi suất là rủi ro do sự biến động của lãi suất, làm chi phí nguồn
vốn lớn hơn thu nhập của ngân hàng, hoặc lãi suất tăng làm ảnh hưởng lớn
đến các dự án sản xuất của nhà xuất nhập khẩu, dẫn tới khả năng dự án thất
bại không trả được nợ cho ngân hàng.
Rủi ro hối đoái do sự thay đổi tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền, tỷ giá
mua cao hơn tỷ giá bán cho các doanh nghiệp. Để hạn chế rủi ro hối đoái các
doanh nghiệp ký kết với ngân hàng hợp đồng kỳ hạn, họp đồng hoán đổi…
Rủi ro xuất phát từ phía ngân hàng có thể là do quá trình thẩm định hồ sơ
khách hàng của cán bộ tín dụng không được chính xác, do sụ gian lận của
khách hàng, vi phạm đạo đức nghề nghiệp của cán bộ ngân hàng…
1.3. Tín dụng xuất khẩu với hoạt động xuất nhập khẩu
1.3.1. Vai trò tín dụng xuất khẩu với nền kinh tế
Tín dụng xuất khẩu góp phần tăng trưởng kinh tế cả mặt lượng và chất,
tác động trực tiếp đến quan hệ tích lũy, tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư, từ đó
tác động đến tăng trưởng kinh tế. Khả năng sản xuất của một quốc gia được
con số 13. Kim ngạch xuất khẩu tăng ở hầu hết các mặt hàng, trong đó có
những mặt hàng có kim ngạch tăng khá cao như dệt may, điện tử máy tính,
hàng thủ công mỹ nghệ, dây điện và cáp điện, sản phẩm nhựa, gỗ, cà phê, hạt
tiêu, hạt điều. Năm 2007 đã có 9 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ
USD là dầu thô, dệt may, giày dép, thuỷ sản, sản phẩm gỗ, điện tử máy tính,
cà phê, gạo và cao su. Cụ thể là máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng đạt
trên 10 tỷ USD, xăng dầu đạt trên 7 tỷ USD, sắt thép đạt gần 5 tỷ USD, vải 4
Hoàng Thị Hương TMQT 46
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tỷ USD, điện tử máy tính và linh kiện đạt gần 3 tỷ USD. Sự phát triển của kim
ngạch xuất khẩu các năm qua có một phần không nhỏvai trò của tín dụng xuất
khẩu dành cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu. Những
chính sách về điều kiện vay vốn, chính sách lãi suất của ngân hàng nhằm hạn
chế rủi ro trong hoạt động vay còn trực tiếp hỗ trợ cho các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh, làm tăng khối lượng hàng xuất khẩu. Tín dụng xuất khẩu
góp phần giải quyết vấn đề vốn cho các doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp
hoạt động hiệu quả hơn, tăng kim ngạch xuất nhập khẩu của công ty mình.
Mỗi doanh nghiệp đều tăng kim ngạch xuất nhập khẩu sẽ làm tổng kim ngạch
xuất nhập khẩu của cả nước tăng trưởng và phát triển không ngừng. Như vậy
tín dụng xuất khẩu góp phần làm tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu cả
nước, thúc đẩy kinh tế phát triển.
1.3.3 Vai trò của tín dụng xuất khẩu với các doanh nghiệp thực hiện
hoạt động xuất nhập khẩu
Nhờ nguồn vốn tín dụng xuất khẩu được ngân hàng cấp, các doanh
nghiệp đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục không bị
gián đoạn do thiếu vốn sản xuất kinh doanh, tận dụng được các cơ hội kinh
doanh. Doanh nghiệp có thể thực hiện được các hợp đồng ngoại thương giá trị
lớn, tăng hiệu quả kinh doanh. Nhà xuất khẩu nhờ vốn tín dụng để thu mua
chế biến hàng xuất khẩu đúng thời vụ với giá rẻ hơn, thực hiện được theo
Kim ngạch xuất nhập khẩu ngày càng tăng cao cho thấy hoạt động xuất
nhập khẩu phát triển rất mạnh mẽ. Doanh nghiệp tham gia sản xuất kinh
doanh hàng xuất khẩu cũng gia tăng ngày một nhiều cả về số lượng lẫn chất
lượng. Các doanh nghiệp này cần khá nhiều vốn để tiến hành sản xuất kinh
doanh hiệu quả. Tuy nhiên không phải bất cứ doanh nghiệp nào cũng đủ vốn
tự có mà không cần đi vay. Thực tế cho thấy nếu có đủ vốn thì các doanh
nghiệp vẫn xin vay vốn ngân hàng để giảm thiểu rủi ro cho nguồn vốn chủ sở
Hoàng Thị Hương TMQT 46
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hữu của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng
phát triển phức tạp hơn trước nảy sinh nhiều nghiệp vụ tín dụng của ngân
hàng để đảm bảo cho quá trình này diễn ra suôn sẻ. Vì vậy hoạt động xuất
nhập khẩu phát triển kéo theo nó là quan hệ tín dụng và đặc biệt là tín dụng
xuất khẩu cũng ngày càng phát triển, hoàn thiện, đa dạng hóa các hình thức
tín dụng nhằm hỗ trợ tác động lại xuất nhập khẩu.
Hoàng Thị Hương TMQT 46
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUAN HỆ TÍN DỤNG XUẤT KHẨU
VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU
( NGHIÊN CỨU TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN)
2.1. Khái quát về Ngân hàng Phát triển Việt Nam
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng Phát triển
Việt Nam
2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát riển của ngân hàng Phát triển Việt
Nam
Để thực hiện mục tiêu phát triển, Chính phủ thường sử dụng các công
cụ của mình để đầu tư vào các lĩnh vực mà khu vực tư nhân không thể thực